CHUYÊN ĐỀ NGỮ VĂN: RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ
HỘI CHO HỌC SINH GIỎI LỚP 9
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – GV trường THCS&THPT Hai Bà Trưng
I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị luận xã hội (NLXH) là một kiểu văn bản không có gì xa lạ trong trường
phổ thông. Tuy nhiên về phía giáo viên, nhất là với các thầy cô giáo tham gia bồi
dưỡng HSG lớp 9 vẫn còn nhiều khó khăn khi đứng trước kiểu bài này. Về phía học
sinh, kể cả học sinh năng khiếu thì kết quả bài viết còn nhiều hạn chế. Một trong
những hạn chế lớn nhất là HS không biết tìm ý và lập dàn ý, tìm dẫn chứng cho đề
NLXH. Sở dĩ như vậy là vì loại bài này phải tự suy nghĩ, không sao chép được từ các
tài liệu có sẵn… cách ra đề NLXH phong phú, đa dạng…
Từ thực tiễn đó, với kinh nghiệm của một giáo viên tham gia nhiều năm công
tác bồi dưỡng HSG, tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề: Rèn kĩ năng làm văn Nghị
luận xã hội cho HSG lớp 9.
Chuyên đề gồm ba phần chính
- Phần thứ nhất: Giới thiệu chương trình và thời lượng.
- Phần thứ hai: Nội dung (nêu một số hiểu biết cơ bản về NLXH như
đặc điểm, yêu cầu, các dạng đề và cách làm bài văn NLXH).
- Phần thứ ba: Luyện tập thực hành.
II. NỘI DUNG
PHẦN THỨ NHẤT
Chương trình, thời lượng
Các đề văn nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn THCS (Kiến thức cơ
bản trong SGK)
Lớp 7
- Đề 1: Ít lâu nay, một số bạn trong lớp có phần lơ là học tập. Em hãy viết một
bài văn để thuyết phục bạn: Nếu còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ
chẳng làm được việc gì có ích.
- Đề 2: Hãy chứng minh rằng rừng đã bảo vệ cuộc sống của chúng ta.
- Đề 3: Dân gian có câu tục ngữ: Gần mực thì đen gần đèn thì rạng. Nhưng có
bạn lại bảo: Gần mực chưa chắc đã đen gần đèn chưa chắc đã rạng.
Lớp 9
- Đề 1: Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải
phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về
Người.
- Đề 2: Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tập thành công (như
anh Nguyễn Ngọc Kí bị liệt tay dùng chân viết chữ; anh Hoa Xuân Tứ bị cụt tay dùng
vai viết chữ; anh Đỗ Trọng Khơi bị bại liệt toàn thân đã tự học, trở thành nhà văn..).
Lấy nhan đề “Những người không chịu thua số phận”, em hãy viết bài văn nêu suy
nghĩ của mình về những con người ấy.
- Đề 3: Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển
nhưng đã có nhiều huy chương vàng tại các cuộc thi về toán, lí, ngoại ngữ…Năm
2004, sinh viên Việt nam đoạt giải vô địch Robocon châu Á tại Hàn Quốc. Hãy viết
bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó.
- Đề 4: Một hiện tượng khá phổ biến hiên nay là vứt rác ra những nơi công
cộng. Ngồi bên hồ, dù là nổi tiếng người ta cũng tiệ tay vứt rác xuống… Em hãy đặt
một nhan đề gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu lên suy nghĩ của mình.
Chương trình, thời lượng dạy NLXH trong dạy HSG
- Tổng số tiết: 14 tiết (Ngoài ra còn kết hợp luyện tập khi luyện đề tổng hợp)
- Cụ thể:
3
Tiết
1
2
3
4
5
6
7
I. Nghị luận và văn nghị luận
- Nghị luận: bàn bạc, lí giải, đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó.
- Văn nghị luận là lọai văn dùng để bàn bạc về một vần đề, một hiện tượng,
một nhận định hoặc về một giá trị của một tác phẩm văn học.
Có nhiều cách bàn bạc, có khi dùng những bằng chứng để người ta tin tưởng
hơn (chứng minh), có khi phải giảng giải, đưa ra bằng chứng để người ta hiểu cặn kẽ
hơn (giải thích), cũng có khi phải phát biếu ý kiến của mình (bình luận) hoặc chỉ ra
những giá trị của một tác phẩm văn học (phân tích tác phẩm), hoặc chỉ ra những giá
trị của một hình tượng nhân vật trong tác phẩm (phân tích nhân vật), hoặc phải giảng
giải để bình giá một tác phẩm thơ hoặc văn xuôi (bình giảng).
Dù là khi chứng minh, giải thích hay bình luận, phân tích tác phẩm, bình giảng
tác phẩm thì người viết văn nghị luận vẫn phải có những hiểu biết đầy đủ về vấn đề
sẽ trình bày, phải có lập trường quan điểm đúng đắn và phải lựa chọn một phương
pháp trình bày, lập luận khoa học, phải dùng những lí lẽ, những dẫn chứng và cách
trình bày những lí lẽ, dẫn chứng này theo một cách thức nhất định.
II. Đặc điểm
- Văn nghị luận không làm nhiệm vụ mô tả đời sống xã hội hay nội tâm con
người như văn sáng tác mà nhằm nhận biết và phân tích đời sống bằng tư duy logic
nên nó phải tuân thủ chặt chẽ tư duy logic.
4
- Những quy tắc này biểu hiện ở hình thức cả bài, bao giờ cũng phải có: NÊU
VẤN ĐỀ (mở bài), GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (thân bài), KẾT THÚC VẤN ĐỀ (kết
bài), biểu hiện ở kết cấu từng đoạn văn, có mở đoạn, triển khai đoạn, sơ kết đoạn,
biểu hiện ở mục đích bài viết: làm cho người đọc HIỂU đến TIN rồi tiến đến xây
dựng một THÁI ĐỘ ĐÚNG và hướng dẫn những hành động khác.
III. Phân loại văn nghị luận
Nhìn từ nội dung đề tài ta có thể chia văn nghị luận thành 2 loại lớn
1. Nghị luận văn học
- Xác định đúng kiểu bài nghị luận để tránh nhầm lẫn về phương pháp.
- Xác định nội dung nghị luận để tránh lạc đề.
5
- Xỏc nh phm vi t liu cho bi vit.
GV c bit lu ý kiu ra cú mnh lnh v khụng cú mnh lnh, nhng
m hc HS lm quen vi nhng yờu cu mi trong lm vn ngh lun.
1.2. K nng tỡm ý v lp dn ý
1.3. K nng dng on
- Vit on m bi: cỏch trc tip, cỏch giỏn tip
+ T nhng cõu chuyn, cõu th, tc ng ca dao, li bi hỏt... dn dt vo ni
dung bn lun.
+ nh ngha vn cn bn lun.
+ t ra nhng cõu hi v vn cn bn lun.
+ Phn .
- Vit cỏc on thõn bi: Cỏc cỏch trỡnh by ni dung trong on vn (din
dch, qui np, tng phõn - hp), k nng liờn kt on ( s dng t ng, cõu
liờn kt)
- Vit on kt bi: xõy dng on kt bi tng ng vi m bi, cỏc cỏch
kt bi
Trong quá trình dựng đoạn, chú ý kĩ năng dùng từ, đặt câu, phát triển ý để tăng
chất văn và độ sâu sắc cho bài viết. Kết hợp các kiến thức GV cung cấp, các ví dụ
minh hoạ, cần dành thời gian cho HS luyện viết và chấm chữa, phát huy tính sáng tạo
của HS trong làm văn.
- m bo v kin thc: ú l nhng hiu bit nht nh v chớnh tr- phỏp lut,
nhng kin thc c bn v truyn thng lch s, vn húa, o c, tõm lớ- xó hi,
nhng tin tc thi s cp nht
1.4. K nng tỡm dn chng
- Trong quỏ trỡnh c sỏch bỏo, nghe tin tc trờn cỏc phng tin thụng tin, cn
phổ thông, do tâm lí lứa tuổi, tầm nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận
không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức,
tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hằng ngày như tình cảm quê hương, gia
đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận thức…Những
vấn đề này đặt ra một cách trực tiếp, nhưng thường là được gợi mở qua một câu danh
ngôn ( tục ngữ, ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hóa,
khoa học, nhà văn nổi tiếng…)
- Nghị luận về một quan điểm, đạo đức, lối sống.
- Nghị luận về một quan niệm, một quan điểm về các vấn đề văn hóa, giáo
dục, tôn giáo, tín ngưỡng.
- Nghị luận về phương pháp tư tưởng.
2.1.3. Cách làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Để triển khai bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí cần xác định
đúng nội dung tư tưởng, đạo lí đặt ra trong đề bài; căn cứ vào nội dung đó mà giải
thích, phân tích, bình luận để làm sáng tỏ vấn đề và rút ra bài học.
Có các bước triển khai như sau:
- Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn ( Từ ngữ, hình ảnh…).
- Phân tích, lí giải các mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan
đến vấn đề bàn luận.
- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học về tư tưởng, đạo lí và hành động.
Trong khi viết bài, cần phối hợp các thao tác nghị luận: phân tích, so sánh, bác
bỏ, bình luận…Cần diễn đạt giản dị, ngắn gọn, sáng sủa, nhất là cần nêu bật suy nghĩ
riêng của bản thân.
a. Mở bài
- Giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận, trích dẫn (nếu đề bài đưa ra ý kiến,
nhận định).
7
b. Thân bài
- Sống đẹp là sống có mối quan hệ như thế nào với mọi người?
…
Với những câu hỏi đó, cho học sinh thấy rõ những khía cạnh sau: Sống đẹp là
sống tích cực xuất phát từ lòng nhân ái, bao dung, vị tha và biết tha thứ, biết hướng
thiện. Sống đẹp là sống có lý tưởng, hoài bão và ước mơ và bằng nghị lực, bằng ý
chí, kiên định phấn đấu đạt ước mơ đó. Sống đẹp là sống trung thực, trong sáng, giản
dị và mạnh khỏe. Sống đẹp dám đương đầu với khó khăn thử thách, hi sinh, không sợ
hiểm nguy, không sợ thất bại, không sợ đấu tranh. Sống đẹp thực sự hòa mình với
mọi người, sống có ích cho mình, cho đời với nguyện ước làm cho cuộc sống ngày
8
một tốt đẹp hơn. Sống đẹp luôn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng
để vượt lên tự hoàn thiện, trở thành người có ích, sống có ích.
b.3. Bình luận đánh giá
Đây là phần việc học sinh bộc lộ nhận thức về vấn đề ở mức độ cao nhất, cũng
là phần việc khó khăn nhất. Vì vậy, trước hết cần phải đánh giá vấn đề ở các bình
diện, khía cạnh khác nhau: Ý nghĩa tư tưởng, ý nghĩa thực tế, mức độ đúng-sai, đóng
góp- hạn chế…Từ sự đánh giá trên các bình diện, hướng dẫn học sinh nhìn nhận giá
trị của vấn đề như một bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập,
trong nhận nhận thức cũng như trong tình cảm, tư tưởng để tự mình bồi đắp, nâng cao
kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử trong cuộc sống. Ngoài ra, tùy theo yêu cầu
và tính chất cụ thể của từng đề bài mà học sinh có thể bổ sung, thêm bớt các phần
khác nhau: liên hệ, mở rộng; rút ra bài học. Phần này nên có trong những đề bài đề
cập đến những vấn đề gắn liền hoặc gần gũi với đời sống của lứa tuổi học sinh. Ví dụ:
phương pháp học tập, tích lũy kiến thức, quan hệ bạn bè, cách sống và cách ứng xử…
Ỏ những đề bài như thế, việc liên hệ, mở rộng cũng chứng tỏ mức độ hiểu và khả
năng cảm nhận vấn đề của học sinh. Chẳng hạn quay trở lại với quan niệm của Tố
Hữu Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn thì ở phần này cần nêu những nội dung sau
- Khẳng định đây là quan niệm sống đúng đắn, cao đẹp
tưởng, những bài học đạo lí của con người trong suốt trường kì lịch sử.
- những chân trời mới: Cách nói ẩn dụ chỉ những hiểu biết mới, những kiến
thức mới.
=> Sách đem đến cho con người những hiểu biết, cung cấp cho con người
những kiến thức trong mọi lĩnh vực.
b.2. Vai trò của sách trong cuộc sống của con người:
- Sách cung cấp, nâng cao cho con người những hiểu biết về tự nhiên, xã hội
(dẫn chứng)
- Sách giúp con người khám phá bản thân mình, tác động đến tình cảm, tâm lí,
hành vi làm phong phú đời sống tâm hồn con người, giúp con người tự hoàn thiện
bản thân (dẫn chứng)
- Sách còn có tác dụng giải trí làm cho con người quên đi những mệt nhọc
trong cuộc sống ( dẫn chứng)
b.3. Đọc sách và cách đọc sách:
- Đọc sách là một công việc cần thiết và bắt buộc đối với mỗi con người trong suốt
cuộc đời. Phải tạo cho mình thói quen đọc sách, tạo cho mình thái độ trân trọng sách.
- Để việc đọc sách có kết quả cần phải biết lựa chọn sách đọc, xác định mục
đích đọc, có phương pháp đọc và ghi chép khoa học đê có hiệu quả cao.
c. Kết bài:
- Kh¼ng ®Þnh vÊn ®Ò
2.2. Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
2.2.1. Thế nào là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
- Nghị luận về một hiên tượng trong đời sống xã hội là bàn về một sự việc,
hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy
nghĩ. Bài văn nghị luậ về một hiện tượng đời sống đề cập đến rất nhiều phương diện
của đời sống tự nhiên và xã hội (thiên nhiên, môi trường, cuộc sống con người…)
- Người viết cần thể hiện được sự hiểu biết về hiện tượng đời sống đồng thời
bộc lộ tình cảm, thái độ của bản thân.
2.2.2. Các dạng đề nghị luận về một sự viêc, hiện tượng đời sống
a/ Nghị luận về một sự việc, hiện tượng liên quan đến môi trường sống tự
mơ hồ chính sự cụ thể của thông tin sẽ tạo ra sức thuyết phục cho những ý kiến đánh
giá sau đó.
b.2. Phân tích và bình luận nguyên nhân- kết quả (hậu quả)
- Sau khi xác định rõ thực trạng, cần phân tích hiện tượng ở các măt nguyên
nhân, hậu quả và cố gắng tìm các giải pháp để giải quyết thực trạng đó. Khi phân tích
cần có sự tỉnh táo để phân tích với một lập trường tư tưởng vững vàng, không chạy
theo dư luận không chính thống mà dẫn tới chủ quan khi phân tích, đánh giá hiện
tượng. Lưu ý khi phân tích nguyên nhân nên chú ý tới các mặt khách quan- chủ quan.
Chẳng hạn, với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là do hệ
thống giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng, phân tuyến, hệ thống biển báo,
chỉ dẫn, chất lượng của các phương tiện tham gia giao thông…), nguyên nhân chủ
quan là người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm, chưa nắm
vững luật pháp, chưa chú ý đúng mức tới vấn đề an toàn…Khi đánh giá hậu quả, cần
xem xét ở phạm vi cá nhân- cộng đồng, hiện tại- tương lai…ví dụ như hiện tượng
nghiện Internet không chỉ làm hao tổn sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển nhân cách cá nhân mà còn tạo mầm mống cho những bất ổn trong xã hội.
11
b.3. Đề xuất giải pháp
Sau khi phân tích và bình luận nguyên nhân- kết quả, thường là phần nêu, đề
xuất giải pháp khắc phục. Trước hết cần xem lại nguyên nhân vì chính nó là gợi ý tốt
nhất để tìm ra các giải pháp khắc phục. Chẳng hạn như nguyên nhân của tai nạn giao
thông là do người tham gia giao thông chưa có ý thức trách nhiệm, chưa nắm vững
luật pháp và chưa chú ý đến sự an toàn thì một trong những giải pháp có thể thực hiện
là tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông, xây dựng chế tài xử phạt đối với
những trường hợp vi phạm an toàn giao thông…
c. KÕt bµi:
- Kh¼ng ®Þnh vÊn ®Ò
Tóm lại, bài văn nghị luận về hiện tượng đời sống cần là sự bộc lộ vốn hiểu biết
- b.2: Phân tích và bình luận nguyên nhân- hậu quả:
+ Lí giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng: thiếu sự giáo dục của gia đình, thiếu
ý thức và trách nhiệm…
+ Hậu quả: chỉ rõ tác hại của những hiện tượng đó trong đời sống cá nhân, gia
đình và cộng đồng như ảnh hưởng đến nhân cách, vai trò , ý nghĩa của gia đình trong
đời sống của mỗi cá nhân sẽ bị giảm sút; tạo ra những công dân vô trách nhiệm, vô
cảm…
- b.3: Giải pháp:
+ Bản thân mỗi người phải có ý thức về trách nhiệm của mình đối với gia đình
và xã hội, rèn luyện lòng nhân ái…
+ Gia đình, nhà trường và xã hội nên chú trọng hơn về việc giáo dục nhân cách
cho học sinh, dạy học sinh biết quan tâm tới người thân yêu, gần gũi với mình, dạy
học sinh biết cảm nhận vẻ đẹp của lòng vị tha, sự chia sẻ, đồng cảm và lối sống có
trách nhiệm.
+ Phê phán lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ.
c. Kết bài: Khẳng định hai hiện tượng trên đã đánh thức lương tâm của những
người đã từng mắc vào những lỗi lầm tương tự. Đó là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với
thế hệ Gấu bông nói riêng và đối với xã hội nói chung.
2.3. Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong TPVH
Các TPVH cũng trở thành một nguồn đề tài phong phú, có nhiều nội dung trở
thành đối tượng của kiểu bài nghị luận. Trong chương trình Ngữ văn THCS, đặc biệt
là chương trình Ngữ văn 9, nhiều tác phẩm đã tái hiện cuộc sống, đất nước và hình
ảnh con người Việt Nam trong suốt thời kì lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám
1945. Những điều chủ yếu mà các tác phẩm đã thể hiện chính là tâm hồn, tình cảm,
tư tưởng con người trong một thời kì lịch sử có nhiều biến động lớn lao, những tình
cảm mới mẻ sâu sắc như: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí, sự gắn bó với
Cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ, những tình cảm gần gũi bền chặt của con người
như tình cảm bà cháu, tình mẹ con, cha con trong sự thống nhất với tình cảm chungtình yêu quê hương đất nước. Đây là một số ví dụ có thể coi là một tư liệu vận dụng
trong quá trình giảng dạy nhằm mục đích củng cố sâu sắc hơn kiến thức đọc hiểu của
a/ M bi:
- Giới thiệu vấn đề đợc nghị luận
b/ Thõn bi:
- b.1: lm dng bi ny, hc sinh trc ht phi nờu v phõn tớch lm rừ vn
xó hi t ra trong tỏc phm vn hc cựng vi cỏc khớa cnh, cỏc phng din biu
hin ca nú. õy l ý ph trong bi vit nhng khụng th thiu v cng khụng nờn
lm quỏ k d lc sang kiu bi ngh lun vn hc. Hc sinh bng s phõn tớch i
n khỏi quỏt ni dung xó hi cn ngh lun. Chng hn, vi bi 1, trc ht cn
phân tích đợc tâm trạng của nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời khi phát hiện ra
bãi bồi bên kia sông, ngay trớc của sổ nhà mình. Nhĩ trớc đó từng đi khắp mọi nơi
trên trái đất nhng về cuối đời anh mắc bệnh trọng nằm liệt giờng, mọi hoạt động của
anh đều phải nhờ vào ngời thân. Chính lúc này anh mới nhận ra vẻ đẹp của những
cánh hoa bằng lăng, của mặt sông Hồng màu đỏ nhạt, một dải đất bồi dấp dính phù
sa, của những sắc màu thân thuộc nh da thịt, nh hơi thở thân thuộc. Đó là những phát
hiện vừa mới mẻ vừa muộn màng gửi gắm tâm trạng của một con ngời nặng trĩu
những từng trải, đau thơng: yêu quê hơng nhng một đời phải li hơng, thờng hờ
hững và mắc vào những điều vòng vèo, chùng chình nên bây giờ cảm thấy tiếc nuối,
xa xôi. Qua đó nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến mọi ngời một thông điệp:
Cái đẹp thật gần gũi, cái đẹp nằm ngay trong những điều giản dị, tiêu sơ của cuộc
đời mà mỗi ngời vì sự thờ ơ có thể lãng quên
T ú mi dn dt chuyn sang phn 2: Ngh lun v ý ngha ca vn ú
trong cuc sng hụm nay.
14
- b.2: Ni dung chớnh ca bi vit l yờu cu HS cn trỡnh by nhng hiu bit
ca bn thõn v vn xó hi c nhc n trong vn bn bng vn kin thc thc
t trong cuc sng, thc trng ca vn vi cỏc mt tt- xu, ỳng-sai, c- mi t
ú by t thỏi , quan im v ra nhng gii phỏp, liờn h m rng vn , gii
quyt vn sõu sc v thuyt phc. Khi bn v vn trong mi liờn h vi cuc
u cú th gn vi thc tin i sng chng minh tớnh thc t, chõn xỏc ca nú.
- Nh vy l cú mt bi NLXH sinh ng, hp dn cn cú h thng dn
chng cng xỏc thc, c th cng cú sc thuyt phc cao. Nờn hn ch ly dn chng
trong cỏc TPVH vỡ dự TPVH cú phn ỏnh thc t i sng thỡ nú vn l sn phm ca
s h cu, tng tng. Mun cú nhiu dn chng sinh ng, thuyt phc cn chỳ ý
15
quan sát đời sống hàng ngày; theo dõi đài, báo truyền hình, các phương tiện thông tin
đại chúng khác…
- Khi liên hệ, yêu cầu học sinh cần có thái độ chân thành và nghiêm túc, tránh
cách nói sáo mòn gượng ép, giả tạo.
- Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, diễn đạt tốt. kĩ năng phân tích đề,
viết các đoạn mở bài hấp dẫn, kết bài và mở bài tương ứng…
2.3.3. Đề vận dụng:
ĐỀ BÀI : Bài học giáo dục mà em nhận được từ câu chuyện dưới đây:
Ngọn gió và cây sồi
Một ngọn gió dữ dội băng qua khu rừng già. Nó ngạo nghễ thổi tung tất cả các
sinh vật trong rừng, cuốn phăng những đám lá, quật gẫy các cành cây. Nó muốn mọi
cây cối đều phải ngã rạp trước sức mạnh của mình. Riêng một cây sồi già vẫn đứng
hiên ngang, không bị khuất phục trước ngọn gió hung hăng. Như bị thách thức ngọn
gió lồng lộn, điên cuồng lật tung khu rừng một lần nữa. Cây sồi vẫn bám chặt đất, im
lặng chịu đựng cơn giận dữ của ngọn gió và không hề gục ngã. Ngọn gió mỏi mệt
đành đầu hàng và hỏi:
- Cây sồi kia! Làm sao ngươi có thể đứng vững như thế?
Cây sồi từ tốn trả lời:
- Tôi biết sức mạnh của ông có thể bẻ gẫy hết các nhánh cây của tôi, cuốn
sạch đám lá của tôi và làm thân tôi lay động. Nhưng ông sẽ không bao giờ quật ngã
được tôi. Bởi tôi có những nhánh rễ vươn dài, bám sâu vào lòng đất. Đó chính là sức
mạnh sâu thẳm nhất của tôi. Nhưng tôi cũng phải cảm ơn ông ngọn gió ạ! Chính cơn
dũng cảm, không gục ngã trước hoàn cảnh để cách lập luận thuyết phục hơn.
b. 3. Bàn luận về bài học giáo dục của câu chuyện:
+ Không nên tuyệt vọng, bi quan, chán nản trước hoàn cảnh mà phải luôn tự
tin, bình tĩnh để tìm ra các giải pháp cần thiết nhằm vượt qua các khó khăn, thử thách
của cuộc sống.
+ Biết tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân để luôn có một bản lĩnh kiên cường
trước hoàn cảnh và cũng phải biết lên án, phê phán những người có hành động và thái
độ buông xuôi, thiếu nghị lực.
c. KÕt bµi:
- Kh¼ng ®Þnh vÊn ®Ò
PHẦN THỨ BA
Đề 1
“Tắt đèn bật ý tưởng 2014”là cuộc thi thiết kế hình in trên áo phông với chủ
đề về Giờ trái đất và biến đổi khí hậu dành cho giới trẻ; từ đó giúp nâng cao nhận
thức và thay đổi hành vi để giảm thiểu biến đổi khí hậu. Cuộc thi có chủ đề “Vì một
Việt Nam xanh, sạch, đẹp” và khẩu hiệu “Một ý tưởng, một chiếc áo, một hành
tinh”.
Cuộc thi năm nay kêu gọi thí sinh thông qua các tác phẩm nêu lên thực trạng chính
môi trường xung quanh, những vấn đề tồn tại ở Việt Nam, hành vi và hói quen ảnh
hưởng tiêu cực tới môi trường và đưa ra giải pháp cải thiện môi trường sống của
bản thân, cũng như các hành vi và thói quen sống tích cực, thân thiện với môi
trường.
(Dẫn theo )
Từ nội dung của đoạn tin trên, em hãy trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề:
Hãy chung tay bảo vệ môi trường sống.
* Yêu cầu về kĩ năng: Biết làm bài nghị luận xã hội về mọt sự việc , hiện tượng
trong đời sống có bố cục rõ ràng, chặt chẽ; diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả,
dung từ, đặt câu...
* Yêu cầu về kiến thức:
17
quạt khi rời khỏi cơ quan, trường học hoặc kho không sử dụng; tránh rò rỉ nước…
+ Đối với rác thải: hạn chế sử dụng túi nilon. Nên phân loại rác thải, đối với
những rác thải như chai nhựa, giấy, túi nilon…gom lại phé liệu để tái sử dụng, tiết
kiệm được nguồn tài nguyên. Ở cơ quan, nên tiết kiệm giấy, đọc kĩ văn bản trước khi
in, tận dụng giấy một mặt.. Ở những nơi công cộng, không nên tiện tay vứt rác bừa
bãi ra ngoài đường, phải tìm nơi có thùng rác để vứt. Khi đi chơi, nên thu dọn rác
sạch sẽ, gọn gang và vứt đúng nơi qui định. Tránh vứt rác xuống sông hồ, lòng
đường, hè phố…
+ Không bẻ cành, chặt phá cây xanh; trồng và chăm sóc cây xanh ở nhà cũng
như ở cơ quan; lên án, phê phán những trường hợp không biết giữ gìn và bảo vệ cây
xanh nơi công cộng.
18
+ Đối với môi trường nước sử dụng tiết kiệm, không vứt rác, xả nước thải công
nghiệp, y tế...
Là học sinh, mỗi chúng ta cần luôn là người tiên phong trong mọi phong trào
và hoạt động bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần tuyên truyền tích cực cho mọi người
dân cùng tham gia thực hiện.
c/ Kết bài:
- Hãy đối xử tốt với thiên nhiên, sống thân thiện với môi trường, ta sẽ tận
hưởng được những giây phút thư giãn, toải mái trong bầu không khí trong lành, được
tận hưởng những cảnh đẹp từ thiên nhiên.
Đề 2
Bóng nắng bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm.
Mẹ bảo:
– Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con.
- Bóng râm: tượng trưng cho những thuận lợi, những cơ hội, những thành công
trong cuộc đời
Cả hai điều này đến đan xen nhau và tất cả chúng ta đều phải đón nhận nó.
Câu chuyện khuyên con người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải nỗ lực hết
mình. Khi khó khăn phải biết nỗ lực phấn đấu vươn lên . Còn khi có cơ hội phải biết
tận dụng nắm bắt để thành công hơn nữa.
b.2. Bình luận:
* Câu chuyện gợi cho ta bài học trong cuộc sống:
- Cuộc đời là một hành trình dài với hướng tới một bến đợi bình an với những
cơ hội, những thách thức lên tiếp đan xen. Trong cuộc sống, phải nhận thức được đâu
là những khó khăn thử thách và những thuận lợi đối với mình.
- Không nên thụ động trước những biến cố xảy ra trong cuộc sống.
- đời, lúc nào cũng phải nhanh lên:
+ Vì sao phải sống nhanh: thời gian trôi đi hối hả không chờ đợi ai. Nhất là
trong cuộc sống hiện đại. Nếu không biết tận dụng nó để có thể hoàn thành công
việc...
+ Thế nào là sống nhanh lên: nghĩa là phải trân trọng từng giây phút của cuộc
đời, tăng cường độ sống cho một khoảng thời gian ngắn nhất. Sống khẩn trương, làm
việc một cách có ích, không nên sống hoài, sống uổng cho những mục đích vô bổ.
Sống có ý nghĩa đối với mình và với những người xung quanh. Chứ không phải sống
nhanh là sự sống vội, sống thử .
+ Sống nhanh để làm gì: sống nhanh để được nhận yêu thương và trao gửi yêu
thương. Sống nhanh để được tận hưởng những gì tốt đẹp của cuộc sống. Sống nhanh
để được tận hiến cuộc đời mình chp cuộc đời chung.
* Bàn bạc mở rộng:
- Cơ hội và thách thức, hạnh phúc và khổ đau, thuận lợi và khó khăn... là
những điều mà con người sẽ gặp trong cuộc đời. Hãy coi đó là một phần trong cuộc
sống, là chặng đường ai cũng phải đi qua. Hãy bình thản và bản lĩnh đón nhận nó và
sống thật có ích, sống thật hết mình, bởi cuộc sống không chờ đợi...
- Phê phán những kẻ sống không nghị lực, không ý chí, thờ ơ...
Vì cuộc sống luôn vận động và phát triển, luôn tạo ra những giá trị mới hoặc
đòi hỏi những giá trị mới.
- Vì con người là một sinh thể có nhận thức, có khát vọng sống cho ra sống.
* Con người không bao giờ nguôi khát vọng như thế nào?
- Với cá nhân, đặc biệt với tuổi trẻ (lấy dẫn chứng chứng minh)
- Với dân tộc (lấy dẫn chứng chứng minh)
- Với nhân loại (lấy dẫn chứng chứng minh).
* Con người không bao giờ nguôi khát vọng sẽ có ý nghĩa như thế nào?
- Giúp con người có niềm vui, niềm tin, có động lực và nỗ lực, sống có ý nghĩa.
Giúp cuộc sống mỗi ngày một phát triển tốt đẹp.
* Phê phán những người sống thờ ơ, không hoài bão, không khát vọng….
* Bài học nhận thức
- Cần nhận thức rõ khát vọng không phải là dục vọng
- Để luôn luôn có khát vọng cần phải chăm sóc tâm hồn và trí tuệ.
c. Kết bài:
- Khẳng định vấn đề.
21
* Đề 4 : Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách
trưởng thành trong bão táp. (W.Gớt)
em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
* Gợi ý:
- Yêu cầu chung
+ Học sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập
văn bản và khả năng bày tỏ quan điểm của riêng mình để làm bài.
- Yêu cầu về kiến thức cơ bản
1. Giải thích ý kiến
* Khái niệm: “Trí tuệ”
- Là khả năng nhận thức của lí trí, thấu nhận, dung nạp những tri thức của nhân
- Mỗi người có một tính cách riêng, hình thành trong những hoàn cảnh sống
khác nhau.
+ Trong thực tế, cuộc đời mỗi con người luôn phải đối diện với những khó
khăn, thử thách, đó là môi trường tốt nhất để rèn luyện nhân cách con người.
- Tuy nhiên những trải nghiệm, những biến động trong đời sống có thể là lực
đẩy để tính cách trưởng thành, dạn dày hơn, kinh nghiệm hơn, khôn ngoan hơn
nhưng cũng có thể khiến cho con người sợ sệt, yếu đuối.
→Trưởng thành về tính cách phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí con người.
- Thực tế trong xã hội hiện đại, nhiều người có lối sống thu mình trong nhà hộp
hoặc được cha mẹ bao bọc, che chở, ít được va vấp, trải nghiệm trong cuộc đời sẽ dẫn
đến sự hình thành tính cách thụ động, ít vốn sống, không có đủ tự tin và bản lĩnh.
(Học sinh lấy dẫn chứng minh họa).
3. Bài học nhận thức và hành động
* Có thể đưa ra nhiều ý kiến khác nhau từ quan điểm của học sinh.
* Định hướng:
+ Để trở thành con người có trí tuệ, mỗi cá nhân phải không ngừng học hỏi,
phấn đấu.
+ Để trở thành con người có nhân cách, mỗi cá nhân phải biết chấp nhận,
đương đầu với những bão táp, phong ba của cuộc đời.
+ Mỗi cá nhân cần biết định hướng cho mình con đường hoàn thiện trí tuệ,
nhân cách, tránh lối sống thụ động, thu mình.
* Đề 2 : Em suy nghĩ gì về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện sau:
Chiếc lá vàng tự bứt khỏi cành rơi xuống gốc. Cái gốc tròn mắt ngạc nhiên hỏi:
- Ôi sao sớm thế?
Chiếc lá vàng giơ tay chào, cười và chỉ vào những lộc non?
* Định hướng
1. Giải thích, nêu ý nghĩa của câu chuyện
- Câu chuyện kể về sự ra đi của một chiếc lá. Lá vàng rồi rụng, đó là quy luật
trong xã hội ngày nay. Căn bệnh này ngày càng trở nên nhức nhối hơn khi xã hội phát
triển. Một lớp người chỉ biết có bản thân mình, thậm chí vì lợi ích cá nhân họ sẵn
sàng làm hại đến cả những người xung quanh. Họ chỉ biết làm cho cuộc sống của họ
sung túc, đầy đủ mà không cần quan tâm đến xung quanh, quan tâm đén tương lai…
(khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi...).
3. Bình luận, liên hệ bản thân
* Hình ảnh chiếc lá rơi để lại bài học đúng đắn, có ý nghĩa lớn lao:
- Con người ta không chỉ biết sống cho bản thân mình mà còn phải hi sinh vì
người khác. Đó là bài học trao và nhận ở cuộc đời: “Sống là cho đâu chỉ riêng mình”
(Tố Hữu)
- Sống cống hiến, sống biết cho đi, cuộc đời con người mới trở nên có ý nghĩa.
Tuổi trẻ → phải biết hiến dâng trí tuệ của mình để làm đẹp cuộc đời.
* Liên hệ bản thân:
+ Nhìn nhận lại những việc đã làm của bản thân → có hay chưa sự cống hiến.
+ Định hướng cho mình một quan niệm sống một lôi sống đúng đắn, phù hợp.
* Đề 5: Gia đình là trường học của lòng khoan dung, vì nó luôn tồn tại và
dạy chúng ta cách sống với những người khác.
Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
* Gợi ý:
- Yêu cầu chung: sự hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản, khả
năng bày tỏ suy nghĩ của mình khi làm bài.
- Kiến thức cơ bản
1. Giải thích ý kiến
24
* Gia đình là gì? Là một nhóm người được hình thành trên cơ sở hôn nhân và
quan hệ huyết thống. Những thành viên trong gia đình có sự ràng buộc và gắn bó với
nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ. Gia đình thường được gọi là tế bào của xã hội.
* Khoan dung là gì? Là sự rộng lượng, tha thứ. Cơ sở của lòng khoan dung là
→ Gia đình tốt thì xã hội tốt.
* Vun đắp gia đình là lối sống văn hóa, chuẩn mực phù hợp với giá trị đạo đức
dân tộc và hài hòa giữa lợi ích riêng - chung.
* Đề 6: Một nhà bác học đã từng nói: Học vấn không có quê hương nhưng
người có học vấn phải có Tổ quốc.
Câu nói trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì?
25
* Gợi ý:
- Yêu cầu chung: Học sinh cần có những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng
tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ quan điểm riêng của người làm.
1. Giải thích vấn đề
* Học vấn không có quê hương là gì?
- Nghĩa là tri thức, thành tựu khoa học.... là của chung nhân loại, con người có
thể học tập, lĩnh hội mà không cần phân biệt nó là của quốc gia nào.
* Nhưng người học phải có tổ quốc là gì?
- Nghĩa là người có học, có tri thức đều có một quê hương nhất định nên họ
phải biết yêu và có trách nhiệm với Tổ quốc mình.
→ Như vậy, câu nói trên khẳng định: mỗi con người đều có thể học tập và tiếp thu tri
thức của nhân loại ở bất cứ nơi đâu nhưng trong lòng họ phải luôn có hình ảnh của
Tổ quốc, biết yêu và cống hiến cho Tổ quốc.
2. Bàn luận
* Gợi ý
- Tại sao con người có thể học tập và tiếp thu tri thức mà không cần phân biệt
nguồn gốc của tri thức đó?
Vì tri thức là của chung nhân loại. Mỗi chúng ta có thể học tập ở bất cứ nơi nào.
- Tại sao người học vấn phải có Tổ quốc ở trong lòng?
+ Tổ quốc là một phần máu thịt của con người, Tổ quốc đã bao bọc, che chở
cho mỗi con người. Bởi vậy, việc học tập, việc có tri thức sẽ giúp cho mỗi người phải