SKKN Rèn Luyện Kỹ Năng Viết Văn Hay Cho Học Sinh Khối Lớp 5 - Pdf 42

A. PHN M U
I. Lí do chọn đề tài
Tập làm văn là một phân môn vô cùng quan trọng trong nhà
trơng tiểu học. Trong toàn bộ chơng trình tiếng Việt ở tiểu học thì
tập làm văn có thể coilà phân môn tổng hợp của các phân môn còn
lại. Để viết đợc một bài văn hay đòi hỏi học sinh vận dụng một cách
linh hoạt và sáng tậócc kiến thức liên quan. Tối thiểu các em phải
biết quan sát, viết câu đúng ngữ pháp, dung từ chính xácngoài ra
các em phảI vận dụng kiến thức ở các bộ môn khácvì các kiến thúc
liên quan nay sẽ giúp học sinh co đủ t liệu đẻ viết văn và sử dụng
ngôn ngữ thế nào để trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc,
rõ ràng, sáng sủa và hấp dẫn. Quan trọng nữa đó là sức truyền cảm.
muốn vậy, các em cần rèn luyện cho mình năng lực quan sát, năng
lực cảm thụ, năng lực tởng tợng,liên tởng, năng lực phân tích
tổng hợp và khả năng biểu đạt, bố cục một cách hợp lí. đặc biệt, học
sinh phải có vốn từ phong phú khả năng sử dụng biện pháp nghệ
thuật thành thạo. Có nh thế thì trong khi học môn tập làm văn các
em mới viết đợc những bài văn hay, có giá trị gợi cảm, thu hút
ngời đọc, ngời nghe.
Tuy nhiên , trong thực tế giảng dạy tôi thấy phần lớn học sinh
viết văn cha hay, đặc biệt là thể loại văn tả ngời. Đặc điểm chung
nổi bật trong các bài làm của học sinh: bài tả ngời của các em chỉ tả
đợc vài nét chính, câu từ dùng cha hay, bài làm cha chắt lọc đợc
những nét đặc sắc, cha có sự truyền cảm
Tìm hiểu tình hình học tập của học sinh, tôi nhận thấy nguyên
nhân dẫn đến kết quả học tập môn tập làm văn của học sinh cha cao
chủ yếu là:
-Môn tập làm văn là một môn học khó, bài tập làm văn của
học sinh là toàn bộ kiến thức tổng hợp từ các phân môn: tập đọc,
luyện từ và câu,cộng với năng lựccảm thụ của học sinh.


Để thực hiện đề tài, tôI đã sử dụng những phơng pháp cơ bản
sau:
1. Phơng pháp quan sát.


Thu thập thông tin về quá trình dạy và học môn tập làm văn
nói chung và quá trình dạy kiểu bài văn tả ngời cho học sinh lớp 5
nói riêng để rút ra phơng pháp dạy học phù hợp nhất hiệu quả nhất.
2. Phơng pháp phân tích.
Tôi đã phân tích thực tế sách giáo khoa, thực tế dạy học môn tập
làm văn , phân tích những bài làm văn của học sinh để thấy những u
điểm và hạn chế về kĩ năng viết văn của học sinh.
3. Phơng pháp tổng hợp
TôI đã dựa vào thực tế dạy và học, dựa vào kinh nghiệm bản
thân, dựa vào những vấn đề lí luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu để
đa ra những biện pháp cụ thể giúp học sinh viết văn tốt hơn.
4. Phơng pháp thực nghiệm.
TôI đã vận dụng những biện pháp đề xuất, đã đa các bài tập
luyện viết văn mà đề tài đã xây dựng cho học sinh làm thực
nghiệm.Kết quả( bài làm của học sinh) là căn cứ để đánh giá các
biện pháp, các bài tập mà đề tài đa ra.


B. NOI DUNG
Chơng I
Một số vấn đề lí luận làm cơ sở cho nhiệm vụ luyện
viết văn.
I. Vị trí, tầm quan trọng của phân môn tập làm văn ở
trờng Tiểu học.
-Tiếng Việt ở trờng Tiểu học đợc dạy và học thông qua các

xây dựng và lập dàn ýBên cạnh đó việc rèn luyện tâm hồn, cảm
xúc, việc tăng vốn sống, vốn hiểu biết trực tiếp đời sốngcũng là
yêu cầu cần phảI quan tâm thích đáng nếu giáo viên muốn học sinh
thực sự viết đợc các bài văn thuộc các kiểu bài trên có hồn.
Thực hiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản ở dạng
nói hay viết, phân môn tập làm văn đồng thời góp phần cùng các
môn học khác rèn luyện t duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành
nhân cách cho học sinh các kiểu bài miêu tả, kể chuyện, viết
thgiúp học sinh phát triên vốn từ, tập vận dụng các biện pháp tu
từ nh so sánh, nhân hóa và làm cho tình cảm yêu mến và gắn bó
với thiên nhiên và con ngời xung quanh.
II. Quá trình sản sinh văn bản.
1. Phân môn tập làm văn bên cạnh việc sử dụng các kĩ năng đã
đợc phân môn khác hình thành và phát triển còn hình thành và phát
triển một hệ thống các kĩ năng riêng. Hệ thống kĩ năng này phảI gấn
liền với quá trình sản sinh văn bản.Chính trình độ thành thục của các
kĩ năng sản sinh văn bản góp phần quan trọng quyết định chất lợng
các bài văn viết và nói. Việc sản sinh văn bản thờng có 4 giai đoạn,
giai đoạn định hớng, giai đoạn lập chơng trình, giai đoạn thực hiện
hóa và giai đoạn kiểm tra văn bản mới. Có thể thấy các nhóm kĩ năng
sau:
- Nhóm kĩ năng chuẩn bị cho việc sản sinh văn bản gồm: kĩ
năng quan sát, kĩ năng phân tích đề, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ
năng xây dựng dàn bài.
- Nhóm kĩ năng viết văn bản gồm: kĩ năng dùng từ, đặt câu,
viết đoạn văn, liên kết đoạn thành bài.
- Nhóm kĩ năng kiểm tra kết quả gồm các kĩ năng phát hiện lỗi
và sửa lỗi.



học sinh viết bài văn kể chuỵện nó có nghĩa là bài văn viết, những
ngữ điệu lời văn theo lối kể chuyện.


Để làm đợc bài văn kể chuyện, ngời nghe phải nắm vững truyện
hay cốt truyện, xác định ngôi của lời kể, xác định giọng điệu của lơì
kể, xác định rõ nhân vật trong truyện, chuẩn bị về mặt ngôn ngữ và
sự phô diễn.
IV. Một số biện pháp nghệ thuật.
1. Nhân hóa.
Nhân hóa là loại ẩn dụ trong đó từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu
hiệu của con ngời đợc dùng để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của
đối tợng không phải con ngời, nhằm làm cho đối tợng đợc miêu
tả trở nên gần gũi hơn, đồng thời làm cho ngời nói có khả năng bày
tỏ kín đáo tâm t, thái độ của mình.
Ví dụ: Tre xung phong vào xe tăng, đại bác,tre giữ làng
giữ nớc, giữ mái nhà tranh, giữđồng lúa chín.
2. So sánh.
So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó ngời ta đối
chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế khách quan không đồng
nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm
diễn tả hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tợng.
Ví dụ: Mái tóc của bà bạc trắng nh cớc.
So sánh tu từ đợc dùng phổ biến trong các phong cách của
tiếng Việt, nhng chỉ dùng trong lời nói nghệ thuật nó mới có thể
biểu hiện đợc đầy đủ nhất những khả năng tạo hình-diễn cảm của
nó.
V. Bài tập tiếng Việt và nhiệm vụ rèn kĩ năng viết văn cho
học sinh.
Muốn tối u hóa quá trình dạy họctiếng Việt phải tối u hóa

cục rõ ràng (mở bài, thân bài, kết bài), nêu đợc nội dung chính của
mỗi phần. Chữ viết của học sinh đẹp, ít mắc lỗi chính tả. Có một vài
học sinh đã biết sử dụng biện pháp so sánh khi viết văn, tuy nhiên rất
ít.
2. Những hạn chế.
Ngoài những u điểm đã kể trên, học sinh còn một số hạn chế
nh sau:
- Học sinh viết câu khô khan, mới chỉ đúng ngữ pháp mà thiếu
hình ảnh gợi tả, gợi cảm hoặc bắt chớc một cách máy móc, sáo
rỗng.
Ví dụ có học sinh viết: MáI tóc bà bạc. Miệng, mắt có nhiều
nếp nhăn. Hai hàm răng đen.(bài viết của em dạ Thảo)
Hoặc: Bé bi có đôI mắt sáng nh những vì sao trên bầu trời.
Sống mũi dọc dừa đẹp tuyệt vời. Miệng hình trái tim vô cùng đẹp,


mỗi khi bé cời thì hai má lúm đồng tiền hiện ra trông đẹp nh
những đóa hoa tuyệt vời nhất.
ở đoạn thứ nhất, học sinh sử dụng một loạt các câu ngắn, mới
chỉ nêu lại các bộ phận trên khuôn mặt với các đặc điểm cơ bản
nhất,cha tả một cách chi tiết, câu văn thiếu hình ảnh dẫn tới bài làm
của các em kho khan. Còn ở đoạn thứ hai thì ngợc lại, các câu văn
đã rất chú ý đến việc sử dụng các hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật
(so sánh), song khi đọc lên ngời ta có cảm giác câu văn bay bổng
sáo rỗng, rập khuôn máy móc.
Theo tôi, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tồn tại này là do vốn từ
của học sinh nghèo nàn, học sinh không tìm đợc những từ ngữ để
viết những câu văn giàu hình ảnh hơn, phong phú hơn mà không bắt
chớc một cách máy móc.
- Học sinh sử dụng từ cha đúng văn cảnh.

viết câu.
Nguyên nhân của việc các em ít hoặc không sử dụng các biện
pháp nghệ thuật trong câu là do vốn từ của các em cha phong phú,
cha đợc làm quen nhiều, cha đợc nhắc nhở nhiều và đặc biệt
cha đợc luyện tập cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong
câu.
-Học sinh có sử dụng các biện pháp nghệ thuật song cha hợp
lí.
Ví dụ có học sinh tả một cô gái:
Mắt cô long lanh nh hai hòn bi ve.
Học sinh cha hiểu là những từ ngữ nh thế nào thì không nên
so sánh với ngời mà chỉ so sánh với loài vậtCác em cho rằng cứ
sử dụng biện pháp nghệ thuật là tốt rồi.
-Việc liên kết các câu văn, các câu văn trong đoạn, đoạn trong
bài của học sinh còn rất lúng túng, thờng các em không biết chuyển
ý.
Ví dụ khi tả một bạn học có em viết:
Lan học rất giỏi, bạn thờng giành đợc điểm9,10 mỗi khi cô
giáo chấm điểm. Và bạn còn hát rất hay nữa. Bạn còn có sở thích là
đọc sách, đọc rất nhiều sách.
Đọc đoạn văn,ngời đọc thấy rõ khả năng liên kết các câu
trong đoạn của học sinh lúng túng. Với mặt hạn chế này học sinh


phảI đợc giáo viên chỉnh sửa ngay và các em cần phảI đợc luyện
tập cách chuyên ý khi viết câu, đoạn.
-Học sinh cha thể hiện tình cảm của mình khi viết văn.
Qua việc khảo sát 20 học sinh tôI thấy các em cha bộc lộ
đợc tình cảm, cảm xúc của mình khi viết văn. Các em chỉ chú ý đến
tả đặc điểm ngoại hình, tình cách, hoạt động của nhân vật mà cha

- Mở bài: Giới thiệu ngời định tả.
- Thân bài:
+ Tả ngoại hình (đặc điểm nổi bật về tầm vóc, cách ăn mặc,
khuôn mặt, mái tóc, hàm răng)
+ Tả tính tình, hoạt động(lời nói, cử chỉ, thói quen, cách c sử
với ngời khác)
- Kết bài: Nêu cảm nghĩ về ngời đợc tả.
* Câu phải đúng ngữ pháp.Có thể sử dụng câu tỉnh lợc hoặc
đảo ngữ, song điều đó phải đảm bảo câu vẫn phảI thông báo một nội
dung rõ ràng, dễ hiểu và việc sử dụng những câu đó sẽ làm cho bài
văn hay hơn.
* Dùng từ chính xác, sử dụng từ đúng văn cảnh.
* Không mắc lỗi chính tả.
* Phải miêu tả một cách chân thực.
1.2. Những yêu cầu của một bài văn hay.
Ngoài những yêu cầu của một bài văn đúng, một bài văn hay
còn phải có những yếu tố sau:
- Những câu văn phải sinh động có sử dụng những hình ảnh
gợi tả, gợi cảm hoặc sử dụng các từ láy.
- Việc sử dụng từ ngữ phải phong phú, tránh sử dụng nhiều lần
một từ, cụm từ trong bài( trừ trờng hợp sử dụng nghệ thuật lặp).
- Nên sử dụng các biện pháp nghệ thuật nh so sánh, nhân
hóa
- Các câu văn trong đoạn phảI đợc liên kết với nhau một cách
chặt chễ. Các ý, các đoạn phải đợc nối tiếp một cách uyển chuyển,
mềm mại.
- Một bài văn hay gây cảm xúc cho ngời đọc không thể thiếu
đợc tình cảm, cảm xúc của ngời viết bộc lộ trong đó.
2. Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn hay cho học sinh
lớp 5 kiểu bài văn tả ngời.

luyện mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn
học một cách tự giác, say mê- yếu tố quan trọng để viết đợc một bài
văn hay.
2.2. Tích lũy vốn hiếu biết về thực tế cuộc sống và văn học.


Để viết đợc một bài văn hay phụ thuộc vào vốn sống của
mỗi ngời. Cái vốn ấy trớc hết đợc tích lũy bằng những hiểu
biết và cảm xúc của bản thân qua sự hoạt động và quan sát hàng
ngày trong cuộc sống.
Có những cảnh vật, con ngời, sự việc diễn ra quanh ta tởng
chừng nh rất quen thuộc, nhng nếu ta không chú ý quan sát, nhận
xét để có cảm xúc và ghi nhớ( hoặc ghi chép lại) thì chúng sẽ không
thể làm giàu thêm vốn hiểu biết về cuộc sống của ta. Chính vì vậy,
tập quan sát thờng xuyên, quan sát bằng nhiều giác quan (mắt nhìn,
tai nghe, tay sờ, mũi ngửi) là một thói quen rất cần thiết của ngời
học sinh giỏi.
Nhng quan sát nh thế nào mới có kết quả tốt và phục vụ cho
việc tích lũy vốn sống? Nhà văn Tô Hoài, ngời nổi tiếng về tài quan
sát và miêu tả đã mách giùm các em kinh nghiệm nh sau:
Quan sát giỏi phải tìm ra nét chính, thấy đợc tính riêng, móc
đợc những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề. Nhiều khi chẳng cần
dàn đủ sự việc, chỉ cần chép lại các đặc điểm mà mình cảm nhận
nh: một câu nói nột tả tính nết, những dáng ngời và hình bóng,
tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng tháI t tởng do mình đã khổ
công ngắm,nghe, nghĩ mới bật nên đợc thì thích thú, hào hứng,
không ghi không chịu đợc.
Quan sát nhiều, quan sát kĩ chẳng những giúp cho các em viết
đợc bài văn hay mà còn tạo nhiều điều kiện cho các em cảm nhận
đợc vẻ đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc.

những bớc ngắn, gấp gáp.
Rõ ràng tác giả không kể rõ A Cháng làm việc với thái độ, tình
cảm ra sao nhng chỉ với từ chăm chắm ngời đọc cũng cảm nhận
rất rõ A Cháng làm việc rất chăn chỉ, cần mẫn, say sa đến độ không
hề để ý đến xung quanh, chỉ biết có việc cày ruộng của mình. Rồi
bớc chân anh soải dài khi đờng cày dễ đi hoặc băm với những
chỗ vòng khó đi. Từ đó, giúp học sinh cảm nhận đợc sự hăng say và
đạt hiều quả cao trong công việc của Hạng A Cháng, anh nghiêm túc
tuyệt đối trong công việc.


Hay khi dạy bài Ngời thợ rèn tôi sẽ giúp học sinh hiểu đợc
tinh thần và tháI độ làm việc hết sức khẩn trơng, háo hức thích thú
của anh Thận khi anh làm việc qua từ hăm hở.
Dới những nhát búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy,
quằn quại, giãy lên đành đạch. Ngoài ra, tôi còn giúp học sinh thấy
đợc với việc sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa Nguyên Ngọc
còn cho ngời đọc thấy đợc sức mạnh tràn trề của anh Thận khi anh
khống chế con cá lửa ấy.
Còn khi tả về một chú bế sinh ra và lớn lên ở vùng biển, tác giả
Trần Vân có viết Thân hình nó rắn chắc, nở nang: cổ mập, vai rộng,
ngực căng ,bụng thon hằn rõ những múi ,hai cánh tay gân guốc nh
hai cái bơi chèo, cặp đùi dế to,chắc nình nịch.
Với câu trên, tôi sẽ cho các em tìm biện pháp nghệ thuật tác
giả sử dụng. Đó là nghệ thuật so sánh, tác giả so sánh hai cánh tay
của một chú bé quanh năm gắn bó với biển cả nh hai cái bơi chèo,
khỏe mạnh ,rắn chắc và hiệu quả. Thật là thú vị. Ngoài ra, tôi còn
cho các em tìm các từ láy nở nang, gân guốc, nình nịch làm
cho câu văn giàu hình ảnh, sinh động và lột tả hết đợc vẻ đẹp săn
chắc, khỏe mạnh của chú bé. Cứ nh vậy, ở mỗi bài văn, bài thơ các

Em chọn từ nào trong các từ sau để tả về bàn tay của một chú
công nhân: mềm mại, thô ráp, mẫm mạp.Vì sao em chọn từ đó?
Với bài tập này học sinh sẽ nhận ra ngay từ thô ráp là từ
thích hợp hơn cả.
Từ những dạng bài tập nh trên, dần dần học sinh sẽ biết cách
lựa chọn từ ngữ cho phù hợp với nghề nghiệp, tính cách của đối
tợng mình định tả.
2.5. Yêu cầu học sinh làm các bài tập rèn kĩ năng dùng từ.
Để viết dợc những câu văn hay, ngoài vốn từ ngữ phong phú,
biết cách lựa chọn từ ngữ cho phù hợp thì quan trọng hơn nữa học
sinh phải đợc luyện tập thờng xuyên qua hệ thống các bài tập. Có
nh vậy, khả năng viết văn của các em mới trở thành kĩ năng.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã áp dụng một số bài tập
rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh đó là:
* Bài tập 1: Hãy thêm một số từ ngữ vào câu sau để tạo thành
câu văn hay.
Giọng nói của Gia Linh khiến ngời nghe rất ấn tợng.


- Mục dích của bài tập : Giúp học sinh dùng từ hay hơn.
- Hớng dẫn học sinh làm bài:
? Bài tập yêu cầu gì? (Thêm một số từ ngữ vào câu để tạo
thành câu văn hay.)
? Hãy đọc câu văn.
? Em sẽ thêm từ nào ? Vào đâu?
Với bài tập trên, một số học sinh làm nh sau:
Giọng nói líu lo nh chi hót của Gia Linh khiến ngời nghe rất
ấn tợng.( bài làm của em Trang)
Giọng nói lanh lảnh của Gia Linh làm ngời nghe rất ấn tợng.
(câu văn của em Ngọc)

*Bài tập 1: Hãy thêm từ láy để câu văn sinh động hơn.
Đôi mắt bé đen tròn, sáng .thật dễ thơng.
Anh Trung có bộ ngực,đôi tay
-Mục đích của bài tập: Giúp học sinh viết đợc câu văn sinh
động.
-Hớng dẫn học sinh làm bài:
?Bài tập yêu cầu gì?
?Hãy tìm những từ láy miêu tả độ sáng của mắt?
(long lanh, lấp lánh, lung linh )
?Em chọn những từ nào để điền?
Khi làm bài tập trên ,học sinh đã biết lựa chọn từ láy rất phù
hợp để điền vào chỗ trống làm cho câu văn hay và sinh động hơn
nhiều.Cụ thể, học sinh làm nh sau:
Đôi mắt bé đen tròn, sáng long lanh thật dễ thơng.
Anh Trung có bộ ngực nở nang, đôi tay khỏe khoắn.
-Với kiểu bài tập trên, tôi thấy học sinh đã biết cách và viết
đợc câu văn có sử dụng các từ láy tơng đối tốt.
* Bài tập 2: Hãy viết 5 câu văn tả ngời có sử dụng từ láy.
* Bài tập 3: Hãy viết 5 câu văn tả ngời có sử dụng các từ ngữ
gợi tả, gợi cảm.
Sau khi học sinh đợc giáo viên hớng dẫn cách lựa chọn từ
láy sao cho phù hợp từng đặc điểm của nhân vật thì có rất nhiều học
sinh viết đợc câu văn miêu tả hay và sinh động nh:


+ Hàn răng trắng đều nh bọt biển, lại thêm một chiếc răng
khểnh bên trái khiến cho nụ cời của Linh vừa duyên dáng, vừa cởi
mở, chân tình.(bài của em trang Anh)
+ Nhìn dáng ngời dong dỏng không mập cũng không gầy,
gơng mặt thanh tú, đúng dáng vể của một tiểu th đài các. (bài

+ ánh mắt dịu hiền của mẹ là ngọn lửa sởi ấm cuộc đời con.
+ánh mắt dịu hiền của mẹ là ngôi sao dẫn đờng cho con đi lên
phía trớc.
-Qua việc chấm bài tôi thấy các em đã viết đợc câu văn có
nhữnh hình ảnh so sánh hay , đẹp.

* Bài tập 2: Viết lại những câu văn dới đây cho sinh động, gợi
cảm bằng cách sử dụng biện pháp so sánh.
a. Bé có đôi mắt đen tròn, hai má ửng đỏ.
b. Cô có nớc da trắng, mái tóc đen dài.
- Mục đích của bài tập: Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp so
sánh.
- Hớng dẫn học sinh làm bài:
? Bài tập yêu cầu gì?
? Hãy đọc câu em điền?
? Ngời ta đã cho biết đặc điểm gì của mắt?
? Ngời ta đã cho biết đặc điểm gì của má?
? Cái gì đen tròn nh mắt?
? Cái gì mà có đặc điểm ửng đỏ nh má?
- Học sinh làm bài nh sau:
a. Bé có đôi mắt đen tròn nh hai hạt nhãn, hai má ửng đỏ nh
trái chín.
b. Cô có nớc da trắng nh tuyết, mái tóc đen dài mềm mại nh
dòng suối.
Qua bài tập của các em, tôi thấy học sinh rất hứng thú và khả
năng viết câu có hình ảnh so sánh rất phong phú.
2.8. Yêu cầu học sinh làm các bài tập rèn kĩ năng viết đoạn
văn.



mẫn, nhanh nhẹn, nghiêm túc và say sa đến lạ.( bài làm của em Thu
Phơng)


Đọc một số bài văn của học sinh tôI thật ngạc nhiên. Các em
đã thực sự cảm nhận đợc nét đẹp của nhân vật qua việc miêu tả
ngoại hình cũng nh tính cách, hoạt động của họ. Đặc biệt học sinh
rất hứng thú với việc sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, một số
từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
*Bài tập 2:Đọc đoạn văn sau:
Một ngày hè, tôi về thăm cô giáo cũ. Gặp lại cô, tôi rất xúc
động. Lúc chia tay,cô trò bịn rịn không dứt.
Hãy tởng tợng em đã trởng thành, mở rộng đoạn văn trên
thành 8-10 câu.
- Mục đích của bài tập :Rèn kĩ năng phát triển đoạn cho học
sinh.
- Hớng dẫn làm bài:
Về thăm cô em thấy cảnh tợng nhà cô thế nào? Trông cô giáo
lúc đó sẽ nh thế nào? Cô trò đã chuyện trò những gì?...
Từ những hớng dẫn của cô giáo nhiều học sinh đã viết đợc đoạn
văn mở rộng rất hấp dẫn . Ví dụ:
Vào một ngày hè, tôi trở về thăm cô giáo cũ. Ngôi nhà cô vẫn
nh xa, chỉ có điều nó cũ và rêu phong hơn trớc. Cô giáo tôi đã
già đi nhiều, một số nếp nhăn nơi khóe mắt đã lác đác xuất hiện,
nhng cô vẫn đầy nhiệt huyết. Gập lại cô, tôI lặng ngời vì xúc
động. Cô đã kể cho tôI nghe bao sự biến đổi trong những ngày tháng
xa cách. TôI cũng kể cho cô nghe bớc trởng thành của tôi. Cô hỏi
tôI về những bạn bè cùng lớp, hỏi về gia đình tôI, về công việc của
tôi.
Thoáng chốc đã hết một ngày.Mây tím đã lợn lờ trên nền

mạnh của bé thì ai cũng lầm lạ bé lên ba. Lên bốn. Lạ thật,cả nhà ai
cũng ngăm ngăm, thế mà bé lại có làn da trắng và mịn màng nh
trứng gà bóc. Riêng đôI má thì ửng hồng nh quả táo. MáI tóc bé
còn tha thớt đợc túm gọn ở phía trên cao thêm chiếc nơ hồng hình
con bớm làm tăng thêm vẻ xinh xắn, đáng yêu. Mỗi khi cời, bé để
lộ ra vài chiếc răng sữa nhỏ nhắn giữa đôI môI mỏng hình cánh
cung. Bàn tay, bàn chân bé xinh xắn, nõn nà nh quả chuối bóc vỏ,
no tròn.
Kể từ ngày bé tập đi ,tập nói, cả nhà vui hơn bởi tiếng ngọng
nghịu của bé. Có lần bé muốn ăn kẹo nhng lại nói Thẹo! Thẹo!


rồ chỉ tay vào tủ lạnh, chẳng ai hiểu gì. Đến khi mẹ bé giảI thích, cả
nhà mới hiểu ra và phá lên cời vui vẻ. Thấy mọi ngời cời, bé
cũng bắt chớc cời theo. Bé rất thích ca nhạc thiếu nhi, mỗi lần bật
băng nhạc bé lại nhún nhảy theo điệu nhạc, miệng mấp máy, đầu lắc
l, tay múa nhịp nhàng, điêu nghệ. Những lúc ấy, trông bé rất xinh
và đáng yêu làm sao!
Cả nhà ai cũng yêu quý bé. Bé làm cho không khí gia đình em
lúc nào cũng rộn tiếng cời nói. Bé là niềm hạnh phúc của gia đình.
(bài làm của em Thu Phơng)
* Bài tập 2: Hãy tả một bạn học của em.
*Bài tập 3: Hãy tả một em bé đang tập nói, tập đi.
Khi làm các bài tập 2 và bài tập3, ở lớp tôI chủ nhiệm các em
có rất nhiều bài viết hay và sinh động.
V. Kt qu
Trong nm hc va qua, tụi ó ỏp dng phng phỏp dy ny
trong vic dy th loi vn t ngi v ó thu c kt qu ỏng k.
T ch s lng hc sinh t im gii mụn tp lm vn l 0 thỡ sau
khi ỏp dng phng phỏp ny s hc sinh t im gii tng lờn ỏng

Gii Khỏ T.bỡnh Yu
SL % SL % SL % SL %
0
0
7
2

5
2
15
12

20
16
8
13

5
10
0
1



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status