SKKN KINH NGHIỆM VỀ RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MÀU SẮC PHÙ HỢP CHO HỌC SINH NHỮNG NĂM ĐẦU TIỂU HỌC - Pdf 26

KINH NGHIỆM VỀ RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MÀU SẮC PHÙ HỢP
CHO HỌC SINH NHỮNG NĂM ĐẦU TIỂU HỌC
Họ và tên: Nguyễn Thị Mơ
Trường Tiểu học 3 Thị Trấn Năm Căn
AĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm
Trong cuộc sống hàng ngày, khi ngôn ngữ con người chưa hình thành và
phát triển thì đã có nhu cầu thiết thực về màu sắc. Trẻ mới sơ sinh nằm chơi đã
muốn nhìn các màu sắc rực rỡ có cách nhìn màu sắc đẹp như (hoa, quần, áo ).
Từ đôi mắt nhận biết màu sắc đến bàn tay vẽ, sử dụng màu bất kì ở đâu, nơi
nào trẻ cũng thích màu sắc rực rỡ, ngộ nghĩnh.
Thực tế cho thấy môn vẽ trang trí,vẽ tranh đối với học sinh lớp 1,2 các em
rất thích, dạy cũng vẽ, không dạy cũng vẽ, vẽ theo ngẫu hứng, theo ý thích như:
vẽ bông hoa, chiếc lá, con vật
Qua sự hướng dẫn và phương pháp rèn luyện của giáo viên, các em vẽ đẹp
hơn, vẽ màu mạnh dạn và tự tin hơn, có ý thức lựa chọn màu sắc thích hợp, sắp
đặt màu phù hợp, có màu đậm, có màu nhạt, không lạm dụng màu quá nhiều.
Điều đó khẳng định nhiệm vụ của nhiều giáo viên cần quan tâm nắm vững
phương pháp giảng dạy, sử dụng đồ dùng dạy học khoa học và có tâm huyết
trong những giờ giảng thì kết quả càng tốt hơn, chất lượng bài vẽ ngày càng
tiến bộ, khả năng sử dụng màu vẽ của các em ngày càng đẹp hơn.
Hiểu được các mục tiêu trên và nắm bắt tình hình thực tế địa phương, xác
định được trách nhiệm, yêu cầu cụ thể của bản thân đối với môn học đó chính
là lí do để tôi đi sâu nghiên cứu thể nghiệm về biện pháp rèn luyện kĩ năng sử
dụng màu sắc phù hợp cho học sinh lớp 1,2
2. Thực trạng:
Trường tôi đang công tác đóng trên địa bàn thị trấn trung tâm kinh tế, văn
hoá của huyện nhà. Được sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường và
đại đa số phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em. Học sinh có tương
đối đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. Phương tiện, thiết bị dạy học cơ bản đảm
bảo cho hoạt động của thầy và trò. Học sinh ham thích học vẽ, so với một số

nhị hợp và tiến tới gọi tên màu thành thạo (hộp 12 màu), cao hơn nữa biết
phân biệt màu đậm, màu nhạt:
Mặc dầu các em đã nhận biết ba màu cơ bản từ bậc học mầm non song do
đặc điểm tâm sinh lí của các em ở lứa tuổi này, việc ghi nhớ chưa lâu và chưa
bền vững, nên việc nhắc nhở thường xuyên là một việc làm cần thiết. Đặc biệt
các màu do pha trộn mà có (đỏ pha với vàng tạo thành màu da cam; đỏ pha với
xanh lam tạo thành màu tím ), cao hơn phân biệt độ đậm nhạt của màu sắc,
biết chọn những màu sắc phù hợp để vẽ vào tranh.
Ví dụ: Khi dạy bài 3 – Màu và vẽ màu vào hình đơn giản (Lớp 1)
Giáo viên chuẩn bị nhiều đồ dùng trực quan để học sinh nhận biết được 3 màu
chính là đỏ, vàng và lam.Từ đó các em biết vận dụng vẽ màu vào phù hợp với
hình vẽ.Ví dụ:Lá cờ Tổ quốc vẽ màu đỏ, ngôi sao vẽ màu vàng….
Hoặc: Khi dạy bài 6- Màu sắc, cách vẽ màu vào hình đơn giản (Lớp 2)
Giáo viên cần chuẩn bị kĩ nội dung và phương tiện, đồ dùng học tập, như
tranh phiên bản lớn để học sinh dễ quan sát hơn. Giáo viên hướng dẫn cho học
sinh biết được các màu nhị hợp từ các màu chính(đỏ, vàng, lam) tạo ra.Ví
dụ:màu đỏ pha với màu vàng sẽ tạo thành màu cam,màu đỏ pha với màu lam
tạo thành màu tím, màu vàng pha với màu lam tạo thành màu lục(xanh lá cây).
Thông qua tranh mẫu, giáo viên cần nói qua: Tranh dân gian có từ rất lâu đời,
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó thường được treo vào dịp Tết
nên còn có tên gọi là tranh Tết. Tranh do các nghệ nhân làng Đông Hồ - Thuận
Thành - Bắc Ninh khắc in màu bằng phương pháp thủ công, nội dung gần gũi
với nông dân Việt Nam. Màu sắc thường được chiết xuất từ thiên nhiên như:
Màu đen lấy từ than lá tre, than rơm, màu trắng lấy từ vỏ con sò, con điệp ở
biển, màu vàng lấy từ đất gạch, màu xanh lấy từ lá cây Bởi thế khi gợi ý học
sinh vẽ màu cần chọn màu sắc như thế nào cho phù hợp để vẽ vào con lợn đang
ăn cây ráy, trên mình con lợn có xoáy âm dương; cây ráy mọc lên từ ụ đất
3. Yêu cầu học sinh so sánh các mẫu vật thực:
Độ đậm nhạt của màu sắc phụ thuộc vào các màu nằm cạnh nó, hay nói cách
khác một màu sắc nào đó không phát huy hết tính chất của nó khi chỉ nằm một

- Màu sắc của những hình ảnh này như thế nào?
- Màu sắc nào được sử dụng nhiều nhất trong bức tranh?
- Em có thích bức tranh này không? Vì sao?
Như vậy học sinh phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi. Với cách tiến hành
như vậy giáo viên đã tạo điều kiện cho mọi đối tượng học sinh tham gia hoạt
động, học hỏi lẫn nhau, được bày tỏ ý kiến trước tập thể, thông qua hoạt động
học nhóm này giúp cho học sinh mạnh dạn hơn, cứng cỏi hơn.
5. Phát huy năng lực sáng tạo và khả năng độc lập của học sinh:
Dạy Mĩ thuật phải phát triển ở trẻ những năng lực quan sát, so sánh, đối
chiếu, phân tích, tổng hợp, suy nghĩ độc lập sáng tạo trong học tập, để các em
tìm ra được cái mới, cái đẹp và cảm thụ được nó.
Mục tiêu của dạy học lấy học sinh làm trung tâm là tôn trọng nhu cầu tiềm
năng của học sinh, chuẩn bị cho học sinh sớm thích ứng với đời sống xã hội,
hoà nhập và phát triển cộng đồng. Giáo viên là người tổ chức điều hành, học
sinh là người thực hiện, học sinh tự giác, chịu trách nhiệm về kết quả học tập
của mình, được tham gia đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
Ví dụ : Đối với bài vẽ màu vào các hoạ tiết ở hình vuông (Bài 14 - Lớp1)
Khi hướng dẫn vẽ màu vào bông hoa ở giữa hay các lá ở bốn góc thì không
nên yêu cầu học sinh phải chọn màu này cho hoa, màu kia cho lá. Nên để cho
học sinh vẽ màu tự do theo ý thích, tự do không có nghĩa là vẽ màu linh tinh, vẽ
màu theo ngẫu hứng, mà cần vẽ đúng luật trang trí (đối xứng, xen kẻ hay nhắc
lại ). Chẳng hạn: Bông hoa có bốn cánh đó học sinh có thể tự do chọn màu
nhưng khi đã chọn một màu nào đó rồi thì nhất định bốn cánh hoa đó chỉ nên vẽ
một màu. Và ở các lá bốn góc cũng vậy, không yêu cầu học sinh vẽ màu gì,
nhưng khi đã chọn lá ở một góc thì lá ba góc còn lại phải vẽ cùng màu đó
(những hình vẽ, hoạ tiết giống nhau cố gắng vẽ bằng nhau và vẽ cùng một
màu). Điều này luôn làm cho học sinh cảm giác thoải mái trong học tập, không
bị gò bó, ràng buộc làm những việc mà mình không thích, tức là đã phát huy tối
đa tính tích cực độc lập suy nghĩ, sáng tạo của học sinh, mà vẫn đạt được mục
tiêu bài học cũng như đặc trưng của môn học. Hơn nữa qua đây chúng ta thấy

các em hứng thú hơn trong học tập, biết vận dụng kiến thức của bài học để tạo
cho đồ vật đẹp thêm.
7. Liên hệ với thực tiễn cuộc sống:
Để vận dụng biện pháp này có hiệu quả đòi hỏi giáo viên cần suy nghĩ, tìm
tòi, phân tích tổng hợp, yêu nghề và hứng thú với bộ môn.
Biện pháp này giúp học sinh tự bổ sung nhận thức và phát huy óc tưởng
tượng, khả năng tư duy, sáng tạo cho các em. Trang bị cho các em những hiểu
biết cần thiết để vận dụng vào cuộc sống. Như là cảm nhận được màu sắc đẹp ở
viên gạch lát nền của lớp học, hình vẽ, hoạ tiết ở tờ giấy khen hay sự cảm
nhận tinh tế với màu sắc của thiên nhiên khi thể hiện qua các bài văn miêu tả
sau này, thiết thực hơn nữa có thể chọn màu sắc trang phục, đồ dùng cá nhân
cho phù hợp với con người
Ngoài những biện pháp trên còn phải vận dụng các phương pháp giáo dục
chính khoá và ngoại khoá để giáo dục, hướng dẫn học sinh phân biệt các màu
sắc, những màu đậm, những màu nhạt, vẽ màu từ đơn giản đến phức tạp để vận
dụng vào các bài tập thực hành một cách có hiệu quả.
- Đánh giá phân tích kết quả qua các bài thực hành của học sinh về vẽ tranh,
vẽ trang trí của học sinh .
- Quá trình tư duy của học sinh có vai trò trong việc tiếp thu những tri thức
về môn Mĩ thuật và vận dụng những tư duy của các em dần dần phát triển từ
khái quát đến chi tiết.
- Ở tiểu học, tư duy hình ảnh trực quan còn đơn giản, dễ sai lệch lên các lớp
trên khả năng tư duy hình ảnh trực quan của các em cao hơn, chính xác hơn,
đến lớp cuối cấp khả năng tư duy trừu tượng xuất hiện và hoàn thiện dần. Việc
rèn luyện cách quan sát, nhận xét, kĩ năng chọn màu thích hợp thông qua các
bài vẽ tranh, vẽ trang trí, hay xem tranh, tôi nhận thấy các em vẽ tốt hơn, không
lạm dụng quá nhiều màu sắc và biết phân định màu sắc tương đối hợp lí .
Những biểu hiện cụ thể:
- Học sinh vẽ màu mạnh dạn biết sử dụng màu có đậm, có nhạt, vẽ màu rất tự
tin không vẽ tuỳ tiện, đơn điệu.

+
)
Sè HS vÏ hoµn
thµnh (A)
SL % SL % SL % SL %
123 25 20,3% 98 79,7% 93 21 22,6% 72 77,4%
Năm học 2009-2010
Khối 1 Khối 2
Tæng

Sè HS vÏ hoµn
thµnh tèt (A
+
)
Sè HS vÏ hoµn
thµnh (A)
Tæng

Sè HS vÏ hoµn
thµnh tèt (A
+
)
Sè HS vÏ hoµn
thµnh (A)
SL % SL % SL % SL %
116 29 25% 87 75% 92 27 29% 65 71%
c. kÕt luËn
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục toàn diện cho đất nước, từ nhiệm vụ phải
giáo dục thẩm mĩ cho thế hệ trẻ để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, việc giảng dạy Mĩ thuật nhằm mục tiêu giáo dục con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status