skkn một số kinh nghiệm về rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 - Pdf 31

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản
đầu tiên đối với học sinh. Trẻ phải học đọc đầu tiên, sau đó các em phải đọc để
học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học
tập. Đọc là một công cụ để học tập các môn học. Đọc tạo hứng thú và động cơ
học tập. Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập
cả đời. Với tư cách là một phân môn của môn Tiếng việt, Tập đọc có nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu này- đó là hình thành và phát triển năng lực đọc của học sinh.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng
bộ phận: Đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,trôi chảy), đọc có ý thức (đọc hiểu)
và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm).
Bốn kĩ năng đọc trên được hình thành trên hai hình thức đọc là đọc thành
tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời. Chúng được rèn đồng thời
và hỗ trợ lẫn nhau.
Bên cạnh đó, dạy đọc còn có nhiệm vụ giáo dục lòng ham đọc sách, hình
thành phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh. Đồng thời dạy
đọc còn có nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn
học cho học sinh.
Trên cơ sở ý nghĩa và nhiệm vụ của dạy học Tập đọc ở Tiểu học, qua tìm
hiểu thực trạng dạy Tập đọc ở lớp 2 tại đơn vị trường Tiểu học Ngọc Khê 2, với
mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tập đọc ở lớp 2, tôi chọn đề
tài: “Một số kinh nghiệm về rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
1. Vấn đề luyện đọc thành tiếng ở Tiểu học:
1.1: Luyện chính âm: Nhằm nâng cao văn hoá phát âm cho học sinh và
khi thực hiện cần lưu ý không để học sinh phát âm tự nhiên theo giọng địa
phương ở những âm bị xem là mắc lỗi, đồng thời cũng chấp nhận nhiều chuẩn ở
những trường hợp phát âm không xem là lỗi, từ đó không gò ép học sinh luyện
phát âm theo chữ viết một cách không tự nhiên.

nhận xét ý kiến của bạn.
+ Nói: Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc; biết
cách trả lời các câu hỏi về bài đọc.
- Trau dồi vốn tiếng Việt , vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết
của học sinh về cuốc sống, cụ thể:
+ Làm giàu và tích cực hoá vốn từ, vốn diễn đạt.
+ Bỗi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình
thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập cho bản thân (như
khi khai lí lịch đơn giản, đọc thời khoá biểu, tra và lập mục lục sách, nhận và gọi
điện thoại,..)
+ Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán
đoán,..)
- Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái
đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống; hứng thú đọc sách
và yêu thích tiếng Việt; cụ thể: Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn
và trách nhiệm đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp; đoàn kết, giúp
đỡ,...
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu.
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình
thành lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vẻ
đẹp của tiếng Việt và tình yêu tiếng Việt.
1.2: Nội dung dạy học Tập đọc lớp 2:
* Số bài, thời lượng học: Trung bình, một tuần, học sinh được học 3 bài tập
đọc, trong đó một bài học trong 2 tiết, hai bài còn lại học trong 1 tiết; Như vậy,
tính cả năm, học sinh được học 93 bài tập đọc với 124 tiết. Nhưng theo Chuẩn
kiến thức và kĩ năng: Trung bình, một tuần, học sinh chỉ học 2 bài tập đọc, trong
2


đó một bài học trong 2 tiết, một bài học trong 1 tiết; bài còn lại giáo viên có kế

th/s(thêm/sêm; thứ/sứ)
+ Đọc và dùng từ địa phương: ong/ông (chong/chông; con ong/con ông);
uô/ ui (Quả chuối/ quả chúi); ưu / iu (quả lựu /quả lịu)
+ Không phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã.
- Một số học sinh trong lớp là con gia đình gặp khó khăn về kinh tế, hạn
chế về trình độ văn hoá. Dẫn đến sự quan tâm chăm sóc của phụ huynh đối với
con cái còn hạn chế; khó khăn trong việc phát huy tính tự giác luyện đọc ở nhà
đồng thời các em chưa có thói quen đọc thêm sách báo ở nhà.
- Đại đa số các em là con em dân tộc vì thế về mặt ngôn ngữ tiếng việt
của các em là ngôn ngữ hai.
- Về tác động ngoại cảnh: Cuộc sống của các em đôi khi ngoài thời gian ở
trường, ở nhà ra; các em còn có thể tiếp xúc với những người xung quanh, có
3


khi là phim, ảnh, tivi, đèn chiếu ngoài sự kiểm soát của thầy cô, gia đình. Việc
này cũng có thể làm xáo trộn tinh thần học tập của các em.
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2:
Từ những thực trạng trên cho thấy kết quả chất lượng thực tế trước khi
nhận lớp 2 (cả hai năm học) tỷ lệ học sinh đọc còn kém, đọc ê a, ngắc ngứ, còn
đánh vần cao, học sinh đọc tốt chưa có em nào.
Cụ thể: - Lớp 2B, Năm học 2013 – 1014
- Lớp 2A2, Năm học 2014 – 1015( là lớp đại trà)
Thời gian khảo sát: KSCL đầu năm
Đọc ê a,
Đọc rõ ràng,
Đọc hay
Đọc đúng
ngắc ngứ
lưu loát

2014-2015
2.2: Thực trạng đối với giáo viên:
- Giáo viên chưa nắm chắc cơ sở lí luận của việc dạy - học Tập đọc như:
Giáo viên phát âm chưa chuẩn, còn dư âm địa phương (như: âm tr/ch; s/x,..
chẳng hạn) dẫn đến kĩ năng đọc mẫu hạn chế; Giáo viên chưa nắm được các thể
lại bài trong chương trình sách giáo khoa; chưa phân biệt được loại bài Tập đọc
và loại bài Tập đọc- Học thuộc lòng mà chỉ thấy khác là ở các lớp đầu cấp là đọc
đồng thanh còn lớp cuối cấp là không đọc đồng thanh chứ không hiểu được rằng
tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, còn tiết Tập đọc- Học thuộc lòng là vừa phải
luyện đọc vừa kết hợp rèn trí nhớ.
- Giáo viên vận dụng chưa linh hoạt các phương pháp trong giờ dạy Tập
đọc. Kĩ năng đặt câu hỏi, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài còn hạn chế.
- Trong giờ Tập đọc giáo viên thường phân bố thời gian chưa hợp lý và dễ
sa nặng vào phần tìm hiểu bài, thấy giảng chưa đủ học sinh chưa hiểu. Có những
phần dạy quá sâu hoặc dông dài, không cần thiết, có phần lại hời hợt chưa đủ độ
cần của bài giảng. Không còn thời gian để học sinh luyện đọc, không sửa được
lỗi phát âm sai chủ yếu cho học sinh, bỏ qua đi đối tượng học sinh đọc chưa đạt
yêu cầu vì các em đọc ngắc ngứ, trả lời lâu làm mất nhiều thời gian. Vì những lí
do trên, dẫn đến hiệu quả giờ học không cao.
- Đôi khi giáo viên còn dập khuôn, máy móc, nặng về các bước lên lớp,
chưa linh hoạt. Vì vậy tiết Tập đọc cứng nhắc, chưa khuyến khích được các em,
chưa phát huy hết tiềm năng ở mỗi cá nhân học sinh. Chưa khuyến khích các em
đọc thêm sách báo ở nhà.
Với tình hình và thực tế như vậy tôi đã đưa ra các giải pháp nhằm rèn kĩ
năng đọc cho học sinh lớp 2 như sau:
4


III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO
HỌC SINH LỚP 2:

trong việc rèn đọc cho học sinh; Việc phát âm đúng, phát âm chuẩn; Việc đọc
hay (đọc diễn cảm) sẽ giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài Tập
đọc. Trong quá trình đọc mẫu, giáo viên ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ, dùng ngữ điệu,
nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng… để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả
đã gửi gắm vào bài đọc đó. Từ đó giúp học sinh thấy sôi nổi, hào hứng tham gia
vào việc tìm hiểu, khám phá bài Tập đọc hơn và học sinh có ý thức đọc diễn
cảm tốt hơn.
1.5: Chuẩn bị về việc nhận xét, đánh giá học sinh sau khi đọc:
Tiếp thu và nghiên cứu kĩ Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28
tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đánh giá
học sinh Tiểu học và được áp dụng kể từ ngày 15/10/2014 cho năm học này thay
5


cho Thông tư số 32/2009/TT- BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định đánh giá và xếp loại
học sinh Tiểu học. Với TT30 việc Đánh giá học sinh bằng nhận xét coi trọng
việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện
của học sinh; giúp học sinh phát huy tất cả khả năng, đảm bảo kịp thời, công
bằng, khách quan; không ghi điểm số không gây áp lực, sẽ gây được hứng thú
cho học sinh, làm cho học sinh không cảm thấy ngại học sẽ giúp cho phương
pháp dạy học theo hướng đổi mới tích cực hoá hiệu quả hơn. Góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học.
Sau khi học sinh đọc bài xong, giáo viên phải có lời nhận xét. Kết quả của
quá trình rèn đọc cho học sinh còn phụ thuộc vào lời nhận xét mà giáo viên để
lại trong các em sau khi đọc. Vì vậy, lời nhận xét của giáo viên không thể là tuỳ
tiện mà lời nhận xét của giáo viên cần phải có động lực, thúc đẩy em học sinh đó
biết cố gắng vươn lên trong các lần đọc sau. Việc này quả là không đơn giản,
nếu lời nhận xét mà thoái quá thì các em có thể mãn nguyện sẽ không cố gắng
nữa, nếu lời nhận xét mà khắt khe thì các em dễ chán nản, dẫn đến tiêu cực. Vì

hỗ trợ giáo dục.
3, Giải pháp 3: Luyện đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2:
- Căn cứ theo nhóm đối tượng học sinh tôi đã phân loại để áp dụng các
hình thức luyện đọc cũng như bố trí thời gian đọc hợp lí cho từng đối tượng học
sinh; đối với những em đọc chưa đạt yêu cầu cần thời gian luyên đọc nhiều hơn,
đọc nhiều lần hơn; đối với những em đọc đạt yêu cầu cần luyện đọc để đọc lưu
loát tiến tới đọc diễn cảm.
- Muốn học sinh đọc tốt, trước hết cần rèn cho học sinh đọc đúng, phát âm
đúng, rõ ràng. Tôi thấy học sinh chủ yếu là phát âm sai: (nguyên nhân là do thói
quen địa phương):
+ Phụ âm đầu tr/ch; r/d; s/x;th/s
+ Vần: ong/ ông; uô/ ui; ươ / ưu
+ Không phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã.
- Để khắc phục tình trạng trên, tôi đã tiến hành như sau:
- Điều tra phân loại lỗi ngay từ đầu năm cho từng em, từng nhóm để có kế
hoạch uốn nắn.
+ Lỗi phát âm sai tr/ch; r/d là lỗi phổ viến đối với các đối tượng học sinh
ở phố, thị trấn,
+ Lỗi phát âm sai th/s; ong/ ông; uô/ ui; ươ / ưu là lỗi phổ viến đối với
các đối tượng học sinh ở trong nông thôn và con em dân tộc.
+ Lỗi phát âm sai s/x; Không phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã là lỗi
phổ viến đối với tất cả các đối tượng học sinh.
- Khi hướng dẫn phát âm đúng, tôi phân tích cho các em thấy sự khác biệt
của phát âm đúng với phát âm sai mà các em mắc phải. Bằng cách dùng trực
giác nghe, nhìn để hướng dẫn cho các em nghe, nhìn khuôn miệng của cô giáo
đọc âm, đọc vần để học sinh theo đọc mẫu.
Ví dụ:
Âm S : Uốn đầu lưỡi về phía vòm, hơi thoát ra xát mạnh, không có tiếng thanh.
Âm X: Khe hẹp giữa đầu lưỡi và răng-lợi, hơi thoát ra xát nhẹ, không có tiếng
thanh.

nhiều. Quả là “Có công mài sắt có ngày nên kim”, chỉ trong thời gian 2 tháng
- 8 tuần học đầu năm- tôi đã cắt rốn được số học sinh còn đọc vần, và số
lượng nhóm đối tượng học sinh tôi phân chia hồi đầu năm cũng giảm dần.
- Rèn đọc thành tiếng : Cần rèn cho các em phát âm đúng, rõ ràng, đọc
đúng và đọc trôi chảy. Khi tập đọc lưu ý những dấu thanh mà các em hay bỏ
quên hoặc đọc sai. Đọc rõ từng tiếng, không được kéo dài liền tiếng này sang
tiếng khác. Rèn học sinh biết ngừng, nghỉ đúng chỗ, biết phân biệt câu thơ, dòng
thơ. Đối với câu văn dài, hướng dẫn học sinh biết đọc thành từng cụm từ, biết
giữ hơi để khỏi phải bị ngắt quãng giữa các âm tiết; Phần này tôi đã hướng dẫn
học sinh như sau: Dùng dấu gạch chéo đánh dấu chỗ nghỉ hơi (//), chỗ ngừng,
chỗ ngắt nhịp (/) và gạch dưới từ cần nhấn giọng trong đoạn văn, đoạn thơ; Hay
ra bài tập yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ, câu chứa nhiều tiếng dễ phát âm
sai và đọc lại.
Ví dụ : Hướng dẫn học sinh đúng, biết ngừng, nghỉ đúng chỗ, đọc diễn
cảm các câu văn; đoạn thơ sau:
Lớp ta hôm nay sạch sẽ quá ! // Thật đáng khen ! //
Các em hãy lắng nghe và cho cô biết / mẫu giấy đang nói gì nhé ! //
Các bạn ơi ! // Hãy bỏ tôi vào sọt rác ! //
(Bài Mẫu giấy vụn, Tiếng Việt 2- Tập 1)
Bê Vàng đi tìm cỏ /
Lang thang / quên đường về /
Dê trắng thương bạn quá
Chạy khắp nẻo / tìm Bê /
Đến bây giờ Dê Trắng /
Vẫn gọi hoài: / “Bê ! // Bê !” //
(Bài Gọi bạn, Tiếng Việt 2 - Tập 1)
- Hướng dẫn học sinh đọc thầm:
Trước hết phải cho học sinh biết được đọc như thế nào được gọi là đọc
thầm: Đọc thầm là đọc không thành tiếng, đọc bằng mắt.
8

sinh tự nhớ và học thuộc toàn bộ; hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện học
thuộc lòng để giờ học nhẹ nhàng, gây hứng thú cho các em.
Để luyện Học thuộc lòng: Đối với những tiết có yêu cầu học thuộc lòng
(cũng như phần Luyện đọc lại ở tiết Tập đọc không có yêu cầu Học thuộc lòng)
thì khâu luyện học thuộc lòng được thực hiện sau khi học sinh đã nắm được nội
dung bài đọc (nhưng: đầu giờ học giáo viên cần lưu ý cho học sinh để các em có
ý thức ghi nhớ bài trong quá trình tiết học) và được tiến hành theo các bước sau:
+ Giáo viên đọc mẫu.
+ Giáo viên lưu ý cho học sinh về giọng điệu của từng nhân vật hoặc của toàn
bộ bài đọc, hay đoạn đọc.
+ Giáo viên tổ chức học sinh thi đọc cá nhân và uốn nắn cách đọc cho học sinh.
(Khâu này là luyện cho học sinh đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ,
đúng mức, nếu có học sinh khá, giáo viên có thể giúp học sinh bước đầu rèn đọc
diễn cảm).

9


+ Hướng dẫn học sinh đọc thuộc lòng: Bước luyện đọc này là rèn trí nhớ
cho các em và được tiến hành như đã nêu trên.
- Luyện đọc bằng phương pháp tổ chức các trò chơi.
Để hỗ trợ cho việc rèn đọc tôi còn sử dụng phương pháp trò chơi luyện
đọc. Tổ chức các trò chơi đơn giản, không mất nhiều thời gian, không cần chuẩn
bị công phu. Trò chơi luyện đọc tạo không khí vui tươi, hồn nhiên, tiết học nhẹ
nhàng. Các em tham gia trò chơi sẽ phát triển trí thông minh, khả năng sáng tạo
để đáp ứng yêu cầu giao tiếp hằng ngày và phục vụ cho việc học tập tốt. Các em
tham gia trò chơi còn rèn tinh thần tập thể và sự hỗ trợ lẫn nhau trong học tập,
như vậy trò chơi học tập không những trau dồi kiến thức mà còn rèn những kĩ
năng sống cần thiết cho các em. Nên giáo viên có thể lồng ghép hoạt động trò
chơi vào trong tiết học, bằng các hình thức: Thi đọc to, đọc rõ ràng; hay thi đọc

đọc) muốn vậy, khi chuẩn bị bài, người dạy phải nắm vững nội dung bài Tập
10


đọc, dựa trên hệ thống câu hỏi trong bài để có thể cải tiến các câu hỏi khó thành
các câu hỏi nhỏ, học sinh hiểu, dễ trả lời mà vẫn đảm bảo nội dung bài tập đọc.
Ví dụ: Bài Người thầy cũ – Trang 56, Tiếng Việt 2 - Tập 1:
CH1, trong bài tập đọc là: Bố Dũng đến trường làm gì?
Tôi yêu cầu học sinh đọc lại đoạn 1 của bài và đưa ra câu hỏi thay thế
như sau:
CH1: Chú bộ đội nói đến trong bài là ai và người đó đến trường làm gì?
Mỗi một câu hỏi, giáo viên cần chỉ dẫn cho học sinh đọc đoạn nào trong
bài để trả lời, đồng thời trong tiết học, mỗi khi gọi bạn đọc giáo viên cần yêu cầu
cả lớp đọc thầm theo bạn. Như vậy, trong tiết học em nào cũng đã được đọc bài
nhiều lần kể cả số lần đọc thành tiếng và số lần đọc thầm, điều đó không những
vừa giúp các em dễ dàng trả lời câu hỏi cho nội dung bài mà còn giúp các em
được luyện đọc nhiều lần.
4.2: Giải nghĩa từ:
Đối với các từ ngữ khó cần giải thích, giáo viên giải thích một cách tự
nhiên, không nên rập khuôn nguyên tắc. Có thể gợi mở, dẫn dắt các em tự phát
hiện, hoặc đưa ra các từ gần nghĩa hay trái nghĩa, cũng có thể đưa ra những hành
động gần gủi trong cuộc sống thường ngày,... Tóm lại tuỳ theo từng từ mà chọn
cách giải nghĩa thích hợp.
Ví dụ: Bài Bím tóc đuôi sam - Tiếng Việt 2 - Tập 1. Có từ "tết": (tóc
được đan, kết nhiều sợi thành dài). Giáo viên có thể thông qua việc mô tả làm
mẫu bằng thực tế lấy tóc của mình để học sinh quan sát.
4.3: Rèn đọc giúp học sinh cảm thụ văn học:
Tuy là học sinh lớp 2, trình độ ngôn ngữ tiếng Việt còn non nhưng chúng
ta không nên xem nhẹ việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh.
Nếu học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt thì các em sẽ thấy được sự phong

thấy bầy cá rất nhiều và thấy được hình ảnh độc đáo của vùng sông nước nơi
đây.
5.Giải pháp 5: Vận dụng củng cố thông qua các hoạt động khác:
Để hỗ trợ cho việc luyện đọc, để kiểm tra cách đọc đối với học sinh không
chỉ ở môn Tập đọc mà cũng cần nhắc nhở các em trong tất cả các môn học
khác và các hoạt động ngoại khoá. Như môn Toán, môn Tự nhiên và xã hội,...
đặc biệt là môn Kể chuyện. Giáo viên vận dụng kĩ năng đọc để hướng dẫn các
em xây dựng bài mới hay làm các bài tập. Quá trình này không những củng cố
được kĩ năng đọc cho các em mà còn giúp các em học tốt các môn học khác.
Đồng thời, để giúp học sinh có ý thức rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hay; phát
âm đúng trong mọi tình huống: nhà trường, đoàn thể,.. cần tạo môi trường giao tiếp
bằng ngôn ngữ chuẩn Tiếng việt trong cộng đồng dân cư cũng như trong trường học.
Khắc phục dần các lỗi ngữ âm và các từ ngữ thiếu thông dụng. Giáo viên và nhà trường
phải quan tâm giải quyết những lỗi ngôn ngữ địa phương; trước tiên, ngôn ngữ giáo
viên phải chuẩn mực. Tổ chức các cuộc thi giao lưu, ngoại khoá dưới hình thức “Sân
chơi dành cho học sinh Tiểu học”, phát triển vốn từ theo hướng chuẩn hoá cho học sinh.
Chăm lo sửa lỗi cho các em có các tật về phát âm, các lỗi đã trở thành thói quen của
từng học sinh. Việc chữa lỗi phải tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi và
trong mọi hoạt động.

Xây dựng góc học tập (góc ngôn ngữ): Ngoài việc rèn luyện ở trường, ở
lớp ra. Giáo viên cần hướng dẫn các em xây dựng góc ngôn ngữ ở nhà bằng
nhiều hình thức, tuỳ thuộc và khả năng điều kiện mỗi gia đình, có thể đặt hay
mua, mượn,... sách, báo, truyện,... (Thiếu nhi) để hằng ngày các em được luyện
đọc thêm ở nhà vừa nâng cao kĩ năng đọc vừa đem lại những tri thức quý báu
phục vụ học tập, đời sống,.. của các em.
* Đây chính là mối quan hệ giữa các môn học: môn học này hỗ trợ môn
học kia và ngược lại. Đồng thời các em đọc tốt sẽ tiện cho việc giao tiếp, cho
việc nắm bắt được mọi thông tin diễn ra hàng ngày trong xã hội. Người thầy nếu
nắm bắt được mối quan hệ này và có phương pháp, biết cách tổ chức các hình

Học sinh quan sát tranh minh họa bài học: cho biết tranh vẽ gì? Giáo viên:
Vú sữa là loại trái thơm ngon. Vì sao có loại cây này? Bài học Sự tích cây vú
sữa hôm nay cho các em biết điều đó. (Cả lớp mở SGK trang 96)
2) Luyện đọc:
2.1: Giáo viên đọc mẫu cả bài: giọng đọc chậm trải, nhẹ nhàng, giầu cảm xúc,
nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
2.2: Hướng dẫn học sinh luyện đọc kết hợp giải nghĩa từ:
a) Đọc từng câu:
Học sinh nối tiếp nhau đọc từng câu trong bài. Giáo viên chú ý hướng
dẫn học sinh đọc đúng các từ ngữ học sinh dễ viết sai chính tả: vú sữa, xòa
cành, chẳng nghĩ, trổ ra, nở trắng, gieo trồng.
b) Đọc từng đoạn trước lớp:
- Học sinh nối tiếp nhau đọc từng đoạn trong bài (Đoạn 2 cần tách làm 2:
“Không biết... như mây”, “Hoa rụng... vỗ về”)
- GV kết hợp nhắc học sinh đọc nhấn giọng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm trong
một số câu văn, Ví dụ:
Một hôm, / vừa đói vừa rét, / lại bị trẻ lớn hơn đánh, / cậu mới nhớ đến
mẹ, / liền tìm đường về nhà. //
Hoa tàn, / quả xuất hiện, / lớn nhanh, / da căng mịn, / xanh óng ánh, / rồi
chín. //
13


Môi cậu vừa chạm vào, / một dòng sữa trắng trào ra, / ngọt thơm như sữa
mẹ.//
- Học sinh đọc chú giải: vùng vằng, la cà. GV giải nghĩa thêm các từ ngữ
mỏi mắt chờ mong (chờ đợi, mong mỏi quá lâu), trổ ra (mọc ra, nhô ra), đỏ hoe
(màu đỏ của mắt đang khóc), xòa cành (xòe rộng cành để bao bọc).
c) Đọc từng đoạn trong nhóm:
- Lần lượt học sinh cùng bàn đọc, bạn nghe góp ý và ngược lại.

Học sinh đọc theo nhóm: Các nhóm thi đọc; cả lớp nhận xét và bình chọn
người đọc hay.
Lưu ý: GV cần đưa ra lời nhận xét tùy theo từng đối tượng học sinh, đối với học
sinh đọc tốt thì lời nhận xét có chiều hướng tiến tới đọc diễn cảm; đối với học
sinh đọc chưa tốt cần nhận xét theo chiều hướng đọc rõ ràng, lưu loát.
5) Củng cố dặn dò:
14


- GV hỏi: Câu chuyện này nói lên điều gì? (tình yêu thương sâu nặng của mẹ đối
với con.)
- Nhận xét tiết học.
- Dặn dò về tiếp tục luyện đọc truyện, nhớ nội dung chuẩn bị cho giờ kể chuyện.
6.2: Ví dụ 2: 6.2: Ví dụ 2:
Bài 2: Tập đọc - Học thuộc lòng: Cây dừa (Tiếng Việt 2, Tập 2)
(Trần Đăng Khoa)
I, Mục đích , yêu cầu: Giúp học sinh:
- Biết ngắt nhịp thơ hợp lí khi đọc các câu thơ lục bát.
- Hiểu nội dung: Cây dừa giống như con người, biết gắn bó với đất trời ,
thiên nhiên. (trả lời được câu hỏi 1,2, học thuộc lòng 8 dòng thơ đầu)
- Yêu cầu mở rộng: khuyến khích học sinh trả lời được câu hỏi 3 và thuộc
cả bài thơ.
II, Đồ dùng dạy học:
- Một cây hoa giả có cài 10 câu hỏi về 5 loài cây lạ trong bài đọc Bạn có
biết? về cây cối ở địa phương (Cây cao nhất, thấp nhất, to nhất, đẹp nhất, cây lâu
đời nhất, cây bạn thích nhất, cây mát nhất, cây nhiều quả nhất, cây ăn quả ngon
nhất, cây nở nhiều hoa nhất.) để chơi trò chơi hái hoa dân chủ.
- Tranh minh hoạ nội dung bài trong sách học sinh; thêm tranh ảnh về cây
dừa, rừng dừa Nam Bộ.
III, Các hoạt động dạy- học:

Thân dừa / bạc phếch tháng năm, /
Quả dừa - / đàn lợn con / nằm trên cao.//
Đêm hè, / hoa nở cùng sao, /
Tàu dừa - / chiếc lược / chải vào mây xanh. //
Ai mang nước ngọt, nước lành. /
Ai đeo / bao hũ rượu / quanh cổ dừa. //
Giúp học sinh hiểu được các từ được chú giải sau bài; giải nghĩa thêm:
bạc phếch (bị mất màu, biến thành màu trắng cũ, xấu): đánh nhịp (động tác đưa
tay lên xuống đều đặn – giáo viên vừa giảng vừa mô tả bằng động tác)
c) Đọc từng đoạn trong nhóm:
d) Thi đọc giữa các nhóm (từng đoạn, cả bài; đọc đồng thanh; đọc cá nhân)
e) Cả lớp đọc đồng thanh 1 lần.
3. Hướng dẫn tìm hiểu bài:
3.1: Câu hỏi 1: Các bộ phận của cây dừa (lá, ngọn, thân, quả) được tác giả so
sánh với những gì ?
GV nêu câu hỏi đồng thời yêu cầu cả lớp đọc thầm 8 dòng thơ đầu, 1 học
sinh đọc to trước lớp để trả lời lần lượt từng ý của câu hỏi?
GV tách câu hỏi 1 thành các ý nhỏ và liệt kê nhanh các ý đó lên bảng lớp
(phần nháp) để học sinh dễ trả lời:
+ lá/ tàu dừa : như bàn tay dang ra đón gió như chiếc lược chải vào mây xanh.
+ ngọn dừa: như cái đầu của người, biết gật gật để gọi trăng.
+ thân dừa: mặc tấm áo bạc phếch, đứng canh trời đất.
+ quả dừa: như đàn lợn con, như những hũ rượu.
2 Học sinh đọc lại 8 dòng thơ đầu, cả lớp đọc thầm theo bạn (giọng tả vui,
nhẹ nhàng, hồn nhiên)
3.2: Câu hỏi 2: Cây dừa gắn bó với thiên nhiên (gió, trăng, mây, nắng, đàn cò)
như thế nào ?
Học sinh đọc 6 dòng thơ còn lại, thảo luận và trả lời các ý của câu hỏi:
+ với gió: dang tay đón gió, gọi gió cùng múa, reo.
+ với trăng: gật đầu gọi trăng.

Tàu dừa - / chiếc lược / ..........
Ai mang nước ngọt, nước lành. /
Ai đeo / bao hũ rượu / ...........

Cây dừa xanh /.....
Dang tay đón gió,/ .........
Thân dừa/ ...
Quả dừa-/đàn lợn con/ ..
Đêm hè, / ...
Tàu dừa-/chiếc lược/ ......
Ai mang...
Ai đeo/bao hũ rượu/ ......

Xoá lần thứ ba:
Cây dừa /.....
Dang tay .........
Thân dừa/ ...
Quả dừa-/ ...
Đêm hè, / ...
Tàu dừa-/ ......
Ai mang...
Ai đeo/ ......

Tổ chức trò chơi:
+ GV phổ viến luật chơi: 4 nhóm thi đua, mỗi bạn trong nhóm đọc 1 câu
thơ, các em sẽ đọc nối tiếp như vậy đến hết 8 dòng thơ vừa đọc; nếu đến lượt
mình bạn nào không đọc được thì phải đứng ra ngoài hàng để bạn tiếp theo đọc,
cứ như vậy, cả nhóm sẽ đọc hết nhiệm vụ mà nhóm nào có số người không đọc
ít nhất là nhóm đó thắng cuộc.
+ Tiến hành trò chơi: Chia lớp chơi thành 2 đợt:

một việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng dạy - học.
IV. KIỂM NGHIỆM.
1. Mục đích: Đổi mới phương pháp giáo dục; phối hợp giữa gia đình-nhà
trường- xã hội, “lấy học sinh làm trung tâm”. Giáo viên chỉ là người hướng
dẫn, học sinh chủ đạo tìm tòi, lĩnh hội kiến thức; đồng thời việc trau dồi
kiến thức cho các em, ngưòi dạy học cần phải biết quan tâm đến cả về mặt
thể chất, sức khoẻ và đời sống của trẻ.
2. Đối tượng: Tôi đã chọn thực nghiệm qua 2 năm, 2 lớp, đó là:
- Lớp 2B, Năm học 2013 – 1014
- Lớp 2A2, Năm học 2014 – 1015
Tại trường Tiểu học Ngọc Khê 2; Đối tượng ở 2 lớp của 2 năm là
tương đương nhau, đều cùng điểm trường, cùng địa bàn dân cư.
3. Kết quả nghiên cứu:
Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên so với hồi
đầu năm học, cả 2 năm, 2 lớp, tôi thấy học sinh đã có tiến bộ rõ rệt; các em đã
chăm ngoan, tích cực, tự giác hơn hẳn và kĩ năng đọc cũng đáng mừng. Tuy
nhiên, kết quả hết đạt được đây chưa phải là mĩ mãn sức và việc “Rèn kĩ năng

đọc cho học sinh” là một quá trình lâu dài song với những kết quả bước
đầu như trên, nếu tiếp tục rèn luyện sang lớp trên các em sẽ có kỹ năng
đọc đạt yêu cầu. Cụ thể qua bảng chất lượng khảo sát cuối năm học của 2 lớp:

Đọc hay
Lớp
Lớp 2B

Sĩ số

2
2014-2015 0

TL

40

8

40

4

20

0

0

21

65,2

9,8

8

25

0

0


học. Không có phương pháp nào là vạn năng, tuyệt đối. Cần lựa chọn các
phương pháp sao cho phù hợp với từng bài dạy, từng đối tượng học sinh sao cho
đảm bảo tính khoa học và vừa sức.
Muốn làm được như vậy thì người giáo viên phải luôn luôn biết tự trau
dồi cho mình các kiến thức, kĩ năng sư phạm, tích luỹ kinh nghiệm giảng dạy;...
thì hiệu quả dạy học chắc hẳn ai cũng có thể làm được.
2. Đề xuất:
- Đề xuất với cấp uỷ chính quyền địa phương:
Đảng và Chính Phủ đã và đang quan tâm tới những học sinh thuộc hộ
nghèo cũng đã phần nào giảm đi những khó khăn cho các em và gia đình, nhưng
tình trạng trẻ em thiếu hụt cân nặng vẫn còn là không ít đối với địa bàn sở tại. Vì
nếu sức khoẻ, thể lực của các em kém thì các em không nổ lực mà học tập được,
sẽ khó khăn cho những nhà làm giáo dục trực tiếp như chúng tôi. Điều đó không
tránh khỏi sự ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng đất nước trong tương lai. Vì
vậy, tôi muốn được chính quyền các cấp quan tâm hơn nữa đối chính sách
khuyến học này.
- Đề xuất với chuyên môn:

19


Hàng năm huyện nhà thường tổ chức các cuộc thi (Sân chơi học sinh Tiểu
học) như Hội thi Kể chuyện; Hội thi Tiếng hát hay,... Sân chơi này rất bổ ích đối
với học trò và đã hỗ trợ rất lớn đối với quá trình giáo dục của những người trực
tiếp như chúng tôi. Vì vậy, tôi mong rằng, sân chơi bổ ích này, hàng năm sẽ
được duy trì và ngày một phát triển.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Ngọc Khê, ngày 10 tháng 4 năm 2015


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status