Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận
“Giáo dục tiểu học là nền tảng giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây
dựng tình cản đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất trẻ em nhằm hình thành
cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa” (theo điều 2 – Luật phổ cập giáo dục).
Bậc tiểu học là nền móng xây dựng lên lâu đài văn hoá cho mọi
người. Cũng có thể coi bậc tiểu học là đường băng đầu tiên giúp thế hệ trẻ
Việt Nam bay vào vũ trụ bao la của tri thức, của cuộc sống. Đường băng đó
được tạo ra từ những điều sơ đẳng nhất như: kỹ năng nghe nói, đọc, viết, kỹ
năng tính toán, kỹ năng giao tiếp và những hiểu biết về cuộc sống về xã hội.
Các kỹ năng trên được hình thành khi học sinh học môn Tiếng Việt, Toán,
Đạo đức, Tự nhiên xã hội.
Tiếng việt là một môn học có vai trò quan trọng. Thông qua các bài
học, bài tập phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, Tiếng việt còn rèn luyện
cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản như so sánh, phân tích, tư duy,
tưởng tượng. Ngoài ra tiếng việt còn là một trong các phương tiện để học tốt
các môn học khác.
Luyện từ và câu là phân môn có vị trí quan trọng trong Tiếng việt. Nó
cung cấp hệ thống các từ ngữ, cấu tạo câu … qua các bài luyện tập. Dạng
bài tập của luyện từ và câu của lớp 3 mà xuyên suốt cả quá trình học đó là
dạng bài về dấu câu. Dấu câu có vị thế không nhỏ trong lượng kiến thức cần
chiếm lĩnh của học sinh. Học tốt mảng “dấu câu” sẽ có tác động tốt khi học
phân môn Tập đọc (Có kĩ năng sử dụng dấu câu sẽ biết cách ngắt, nghỉ câu
văn, câu thơ đúng chỗ, ngược lại, biết đọc đúng, ngắt, nghỉ đúng chỗ sẽ dần
1
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
dần hoàn thành kĩ năng sử dụng dấu câu). Ngoài ra, học tốt mảng “dấu câu”
sinh, tôi rất trăn trở và đã cố gắng suy nghĩ tìm giải pháp để khi dạy và học
phàn dấu câu, với giáo viên mở được con đường bằng phẳng nhất để các em
đi, với học sinh tạo được hứng thú học và có kĩ năng làm được các bài tập
về dấu câu.
Sau khi áp dụng vào lớp 3B, Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám có
hiệu quả, tôi xin mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc
“Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3” .
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng. Học sinh khối 3
2. Phạm vi nghiên cứu.
Hình thành kỹ năng sử dụng dấu câu. Để tiến hành công việc trên tôi đã
dựa vào thực tế giảng dạy và tiến hành dạy thực nghiệm tại lớp 3B trường
Tiểu học Hoàng Hoa Thám.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Để nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học
sinh.
- Để học sinh không sai khi làm bài tập dạng điền dấu.
- Giúp học sinh dùng dấu câu đúng khi nói và viết.
- Ngoài ra học tốt phần này sẽ có tác dụng học tốt phân môn Tập đọc-
kể chuyện, học sinh biết cách ngắt nghỉ câu văn, câu thơ đúng chỗ.
3
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Ngược lại. biết đọc đúng ngắt nghỉ đúng chỗ sẽ dần hoàn thành kỹ
năng sử dụng dấu câu.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
chủ yếu là dấu phẩy. Dấu phẩy có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá
trình viết văn của học sinh. Khi hướng dẫn học sinh sử dụng dấu phẩy, điều
đầu tiên tôi cần làm đó là giúp học sinh nhận ra chức năng của dấu phẩy
được thể hiện trong câu. Dấu phẩy ngăn cách các danh từ, cụm danh từ,
động từ, cụm động từ … đi liền nhau trong câu, ngăn cách các trạng ngữ với
bộ phận chính của câu v v. Tuy nhiên theo chương trình thay sách lớp 3 thì
các khái niệm về danh từ, động từ … trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ
không được giới thiệu tường minh mà được thể hiện thông qua việc nhận
diện mẫu câu với những bộ phận chính được diễn đạt dưới dạng các câu hỏi:
Ai? Cái gì? làm gì? như thế nào? Với bộ phận phụ (trạng ngữ) diễn đạt qua
các câu hỏi: Ở đâu? Khi nào? Để làm gì? Vì sao? …? Do vậy, khi tiến hành
các biện pháp dạy học các bài tập sử dụng dấu câu, giáo viên cần lưu ý học
sinh các điểm sau:
* Dấu phẩy dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của câu, cụ
thể là:
5
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Đánh dấu ranh giới giữa các thành phàn phụ của câu với bộ phận
chính của câu.
Ví dụ: Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, lòng
tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man qua buổi tựu trường.
- Đánh dấu ranh giới giữa các từ, cụm từ có cùng chức vụ trong câu:
Ví dụ: Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mọc cuồn cuộn tràn theo
bóng voi ẩn hiện của Hai Bà.
+ Bé kẹp lại tóc, thả ống quần xuống, lấy cái nón của má đội lên đầu.
- Đánh dấu ranh giới giữa một từ ngữ với bộ phận chú thích của nó.
Ví dụ: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh,
lòng mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.
- Đánh dấu ranh giới giữa các vế của câu ghép chức năng này ít
GV: Nhiệm vụ của Đội viên là gì?
HS: Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy – tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn
danh dự Đội.
Học sinh sẽ đặt dấu phẩy ở vị trí “ … thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy,
tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội”.
Ví dụ 2: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu sau:
a) Ếch con ngoan ngoãn chăm chỉ và thông minh.
b) Nắng cuối thu vàng ong dù giữa trua cũng chỉ dìu dịu.
c) Trời xanh ngắt trên cao xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa
những ngọn cây hè phố.
7
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Với bài tập này, câu hỏi cần được đưa ra để gợi ý hướng dẫn để học
sinh định hướng và tìm được vị trí đặt dấu chính xác như sau:
/?/ - Ếch con như thế nào?
- Ngoan ngoãn – chăm chỉ và thông minh
Tương ứng: …ngoan ngoãn, chăm chỉ và thông minh.
/?/ - Nắng cuối thu như thế nào?
- Vàng ong – dù giữa trưa cũng chỉ dìu dịu.
Tương ứng: … vàng ong, dù giữa trưa cũng chỉ dìu dịu.
/?/ - Trời như thế nào?
- Xanh ngắt trên cao – xanh như dòng sông trong – trôi lặng lẽ giữa
những ngọn cây hè phố.
Tương ứng: … xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong, trôi
lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.
Như vậy, với cách đặt câu hỏi như trên, giáo viên đã định hướng giúp
học sinh hiểu:
+ Dấu phẩy sẽ được đặt ở nội dung câu trả lời.
+) Dấu phẩy sẽ dùng (sẽ đặt) để tách từng sự vật, từng việc, từng hành
đã bị thua.
d) Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra
giúp đời Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời
xưa.
9
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Đây là một bài tập khá phức tạp đối với học sinh lớp 3. Với dạng bài
tập này, giáo viên có thể dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm
việc theo nhóm nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu như sau:
Câu a: - Giáo viên đưa ra sơ đồ: Vì sao? Ai? ….làm gì ?
- Học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình như sau:
Vì thương dân – Chử Đồng Tử và công chúa - đi khắp nơi dạy dân
Vì sao ? Ai ? Làm gì ?
cách trồng lúa nuôi tằm dệt vải.
- Giáo viên đưa ra câu hỏi phụ như sau:
Dạy dân những cách gì?
- Học sinh tách thành 3 việc theo sơ đồ:
Dạy cách trồng lúa – nuôi tằm – dệt vải.
Khi học sinh phân cách các phần trong câu theo sơ đồ xong, giáo viên
hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi như sau:
GV: Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong
câu a ?
HS: Vì thương dân, Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân
cách trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải.
Câu b: - Giáo viên đưa ra mô hình tổng quát cho câu b:
Vì sao ? Ai ? ….làm gì ?
- Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh với mô hình câu a để thấy hai
mô hình tương tự nhau. Vì vậy, giáo viên yêu cầu học sinh tự phân tích mô
hình ấy để tìm ra chỗ cần đặt dấu phẩy.
Vì mấy điều?
Học sinh phân tích theo mô hình phụ:
Tại thiếu kinh nghiệm – nôn nóng – và coi thường đối thủ.
Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo sơ đồ xong, giáo
viên hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi:
Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu c ?
Học sinh sẽ đặt đúng dấu phẩy vào vị trí thích hợp như sau:
Tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng và coi thường đối thủ, Quắm Đen đã
bị thua.
- Sau khi học sinh đặt đúng dấu phẩy trong câu c, giáo viên cần nhấn
mạnh lại để lưu ý học sinh: Trường hợp cụm từ đi trước nó là từ “và” thì
không cần phân cách bằng dấu phẩy.
Ví dụ: - Lan, Mai, Hồng đều là học sinh giỏi.
- Lan, Mai và Hồng đều là học sinh giỏi.
cầu d: Giáo viên cho học sinh nhận xét để thấy câu d có cấu trúc
tương tự câu c với phần trạng ngữ cũng gồm 3 cụm từ chỉ đặc điểm đi liền
nhau và cụm cuối cùng đi trước là từ “ và”. Do vậy, giáo viên yêu cầu học
sinh vận dụng cách làm ở câu c để tìm ra chỗ cần đặt dấu phẩy.
Học sinh sẽ phân tích theo sơ đồ như sau:
Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra giúp đời –
Vì sao ?
Lê Quý Đôn - đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời xưa.
Ai ? Thế nào ?
Học sinh tiếp tục phân tích theo sơ đồ phụ “ Vì mấy điều?” như sau:
12
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Nhờ ham học – ham hiểu biết – và muốn đem hiểu biết của mình ra
giúp đời.
b) Xưa kia Cò và Vạc cùng kiếm ăn chen chúc đông vui trên bãi lầy
cánh đồng mùa nước những hồ lớn những cửa sông.
1.3. Tổ chức cho học sinh đặt câu hỏi theo nhóm nhỏ để tự phát
hiện ra các chỗ cần đặt dấu trong câu.
Ở biện pháp này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý trên bảng phụ,
đề nghị học sinh chọn câu hỏi thích hợp cho từng câu trong bài tập.
- Học sinh hỏi và trả lời theo nhóm.
- Dựa vào câu trả lời xác định chỗ cần đặt dấu câu mà bài tập yêu cầu.
Ví dụ:
Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Tối qua tại nhà văn hoá xã Đoàn Ca nhạc Bông Sen đã biểu diễn
phục vụ bà con xã Hoà Hưng.
b) Vì muốn xem bóng đá Hùng phải cố làm xong các bài tập cô giao
về nhà.
c) Từ khắp nơi bà con nô nức kéo về núi Cương để dự lễ hội đền
Hùng.
* Ở bài tập này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý như sau:
- Chọn mô hình phù hợp cho từng câu:
+ Bao giờ? Ở đâu? Ai? … làm gì?
+ Vì sao? Ai? … làm gì?
+ Từ đâu? Ai? … làm gì?
14
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
- Câu a, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?
- Câu b, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?
- Câu b, có 1 hay 2 hay 3 dấu phẩy?
- Có thể đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong câu a (b, c)?
Sau khi học sinh hỏi và trả lời trong nhóm dựa vào các câu hỏi gợi ý
trên, học sinh sẽ đặt dấu phẩy vào vị trí đúng như sau:
thức.
Ví dụ:
Đặt dấu phẩy vào vị trí thích hợp trong mỗi câu dưới đây:
Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh… Còn trên tầng cao cánh chú là đàn
cò đang bay là trời xanh trong và cao vút.
Với bài tập này học sinh sẽ đọc và gạch xổ như sau:
Dưới tầm cánh chú bây giờ / là luỹ tre xanh rì rào trong gió / là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh…/ Còn trên tầng cao cánh chú / là
đàn cò đang bay / là trời xanh trong / và cao vút.
Dựa vào các gạch xổ phân cách, cả nhóm sẽ thảo luận và tìm ra vị trí
đặt dấu phẩy đúng như sau:
Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió, là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh… Còn trên tầng cao cánh chú là đàn
cò đang bay, là trời xanh trong và cao vút.
16
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Sau khi học sinh làm đúng được các bài tập trên tôi ra thêm bài tập để
học sinh làm. Bìa tập như sau:
Bài tập 1:
Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong đoạn văn dưới đây:
Mỗi cây có một đời sống riêng một tiếng nói riêng. Cây lan cây huệ
cây hồng nói chuyện bằng hương bằng hoa. Cây mơ cây cải nói chuyện
bằng lá. Cây bầu cây bí nói bằng quả. Cây khoai cây dong nói bằng củ bằng
rễ… Phải yêu vườn như Loan mới hiểu được lời nói của các loài cây.
Bài tập 2:
Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong đoạn văn sau:
Bản giao hưởng “Mùa thu” cất lên. Những chiếc lá vàng rơi trong
nắng nắng lung linh kỳ ảo. Lá vàng phủ hai bờ tiếng gió xào xạc nói với lá.
Bài tập 2:
Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong đoạn văn sau?
Mỗi bản nhạc mỗi bức tranh mỗi câu chuyện mỗi vở kịch mỗi cuốn
phim,… đều là một tác phẩm nghệ thuật. Người tạo nên tác phẩm nghệ thuật
là các nhạc sĩ hoạ sĩ nhà văn nghệ sĩ sân khấu hay đạo diễn. Họ đang lao
động miệt mài say mê để đem lại cho ta những giờ giải trí tuyệt vời giúp ta
nâng cao hiểu biết và góp phần làm cho cuộc sống mỗi ngày một tốt đẹp
hơn.
Bài tập 3:
Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu dưới đây?
Lê Lai cứu chúa
18
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Giặc Minh xâm chiếm nước ta. Chúng làm nhiều điều bạo ngược
khiến lòng dân vô cùng căm giận. Bấy giờ ở Lam Sơn có ông Lê Lợi phất
cờ khởi nghĩa. Trong những năm đầu nghĩa quân còn yếu thường bị giặc
vây. Có lần giặc vây rất ngặt quyết bắt bằng được chủ tướng Lê Lợi. Ông Lê
Lai liền đóng giả làm Lê Lợi đêm một toán quân phá vòng vây. Giặc bắt
được ông nhờ vậy mà Lê Lợi và số quân còn lại được cứu thoát.
2. Kiểu bài điền dấu cuối câu:
“Dấu cuối câu” bao gồm dấu chấm, dấu hỏi và dấu chấm than. Có hai
dạng bài sử dụng dấu cuối câu là: Dạng bài ngắt một đoạn thành các câu rồi
viết lại cho đúng chính tả và dạng bài điền dấu câu thích hợp trên một đoạn
với các câu đã được phân cách sẵn với những ô trống hay không có ô trống.
2.1. Dạng bài ngắt một đoạn thành các câu rồi viết lại cho đúng
chính tả.
Trọng tâm của dạng bài ngắt một đoạn thành các câu rồi viết lại cho
đúng chính tả là giúp học sinh nắm cách sử dụng dấu chấm. Việc sử dụng
dấu chấm liên quan đến khái niệm về câu. Có hai khái niệm để nhận diện
- Người lớn thì đánh trâu ra cày.
Ai? làm gì?
- Các bà mẹ cúi lom khom tra ngô.
Những ai? làm gì?
- Các cụ già nhặt cỏ, đốt lá.
20
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Những ai? làm gì?
- Mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm.
Những ai? làm gì?
Sau khi học sinh phân tích thì việc viết lại đoạn văn theo đúng theo
yêu cầu là đơn giản.
b) Sử dụng sơ đồ hỗ trợ học sinh tìm kiếm các ý tương ứng với các
câu trong đoạn.
Biện pháp này thích hợp với học sinh trung bình.
Cũng với bài tập phần a, tôi có thể sử dụng sơ đồ sau.
Ý Câu
Lưu ý: Cột ý có thể là ý tóm tắt của từng câu, song thực hiện điều này
không phải dễ dàng nhất là đối với các câu ngắn. Vì vậy có thể rút ra những
từ khoá trong câu như những gợi ý để học sinh dựa vào đó phát hiện trọn
vẹn câu chứa từ khoá ấy.
c) Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh.
Cho học sinh đọc to trong nhóm hay cặp và đến chỗ nào các em dừng
thì gạch xổ phân cách câu, sau đó trao đổi, sửa chữa và xác định câu. Với
biện pháp này, chủ yếu khai thác cảm nhận tự nhiên đối với Tiếng Việt vốn
là bản ngữ của các em. Trên cơ sở ấy, học sinh trao đổi và xem xét để nhận
diện câu một cách có ý thức.
21
chỗ thích hợp và viết hoa những chữ đầu câu:
22
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi có lần, chính mắt tôi đã thấy
ông tán đình đồng chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng,
nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng
ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
Bài tập 3: Dùng những câu hỏi sau (Hậu là ai? Hậu thường làm gì
mỗi lần về quê? Có lần cả buổi sáng Hậu đã làm gì? Một lần Hậu đã mải
miết làm gì từ sáng đến chiều?) để ngắt đoạn sau thành 4 câu. Viết lại đoạn
văn này sau khi đã ngắt câu bằng các dấu chấm:
Hậu là cậu em họ tôi sống ở thành phố mỗi lần về quê, Hậu rất thích
đuổi bướm, câu cá có khi cả buổi sáng em chạy tha thẩn trên khắp thửa
ruộng của bà để đuổi theo mấy con bướm vàng, bướm nâu một lần, em mải
miết ngồi câu từ sáng đến chiều mới được một con cá to bằng bàn tay.
Bài tập 4: Dùng dấu chấm để ngắt đoạn sau thành 4 câu rồi ghép lại
đoạn văn này cho đúng quy tắc viết hoa đầu câu:
Đà Lạt là một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng vào bậc nhất ở nước
ta thành phố phảng phất tiết trời của mùa thu với sắc trời xanh biếc và
không gian thoáng đãng, mênh mông, quanh năm không biết đến mặt trời
chói chang mùa hè Đà Lạt giống như một vườn lớn với thông xanh và hoa
trái xứ lạnh giữa thành phố có hồ Xuân Hương mặt nước phẳng như gương
phản chiếu sắc trời êm dịu.
Bài tập 5: Trong đoạn văn dưới đây, người viết quên không đặt dấu
chấm. Em chép đoạn văn vào vở sau khi đặt dấu chấm vào chỗ thích hợp và
viết hoa những chữ đầu câu:
Trang và Thảo là đôi bạn rất thân với nhau một hôm, Thảo rủ Trang
ra công viên chơi Trang đồng ý ra tới đấy, hai đứa tha hồ ngắm hoa đẹp
dựa vào nội dung câu đang tìm đó ghi dấu câu tương ứng với mục đích sử
dụng ấy.
* Cách 3: Giáo viên trình bày lên bảng ba loại dấu cuối câu, đề nghị
học sinh chọn dấu thích hợp rồi dựa vào nội dung câu giải thích vì sao chọn
dấu ấy.
b). Kiểu bài yêu cầu điền nhiều loại dấu cuối câu.
Mục đích của kiểu bài yêu cầu điền nhiều loại dấu cuối câu nhằm
giúp học sinh củng cố kiến thức về công dụng của các dấu cuối câu đã học
và phân biệt cách sử dụng chúng. Vì vậy, khi dạy kiểu bài yêu cầu điền
nhiều loại dấu cuối câu giáo viên cần lưu ý:
* Dấu chấm: dùng để đánh dấu chỗ kết thúc câu trần thuật. Nhiều
khi, nó cũng được dùng ở cuối những câu cầu khiến (câu khiến) hoặc câu
cảm thán (câu cảm) mà ý cảm thán hay cầu khiến không mạnh.
Ví dụ: - Dấu chấm dùng ở cuối câu trần thuật:
Duới đường, lũ trẻ đang thả rủ nhau thả những chiếc thuyền gấp bằng
giấy trên những vũng nước mưa.
- Dấu chấm dùng ở cuối câu cảm và câu khiến:
Bác dất vui lòng biết rằng cháu nào cũng siêng học, siêng làm, ăn ở
sạch sẽ, biết giữ kỉ luật, lễ phép. Thế là tốt lắm. Bác khuyên các cháu gắng
sức thêm. Việc gì có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm.
* Dấu chấm hỏi: dùng để đánh dấu chỗ kết thúc câu hỏi (câu nghi
vấn).
Ví dụ: - Hằng ngày, các em làm việc gì ?
- Buổi sáng, chúng em học trên lớp, buổi chiều làm bài.
25