SKKN Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3 - Pdf 25

Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
====***====
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I.SƠ YẾU LÝ LỊCH
- Họ và tên : Phạm Thị Anh Phương.
- Ngày tháng năm sinh: 19 – 04 - 1973.
- Năm vào ngành: 1992.
- Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường tiểu học
Phương Trung 1
- Trình độ chuyên môn:
- Hệ đào tạo:
- Bộ môn giảng dạy: Lớp 2
- Trình độ chính
trị:
- Khen thưởng: Giáo viên giỏi cấp cơ sở1
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận
“Giáo dục tiểu học là nền tảng giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây
dựng tình cản đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất trẻ em nhằm hình thành
cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa” (theo điều 2 – Luật phổ cập giáo dục).
Bậc tiểu học là nền móng xây dựng lên lâu đài văn hoá cho mọi
người. Cũng có thể coi bậc tiểu học là đường băng đầu tiên giúp thế hệ trẻ
Việt Nam bay vào vũ trụ bao la của tri thức, của cuộc sống. Đường băng đó

học sinh tiếp cận với lời giải đúng một cách ngắn, nhanh, dễ hiểu nhất là rất
khó khăn. Phần lớn thường sa vào giảng giải hoặc ấn định hoặc “mớm” sẵn
cho học sinh mà không giúp các em vận dụng kiến thức ở các bài tập dạng
khác, ở các phân môn khác để giải quyết vấn đề.
Mặt khác, về phía học sinh lớp 3, do còn nhỏ nên khả năng tư duy,
khả năng phân tích chưa cao nên khi gặp các dạng bài tập về dấu câu các em
thường không có hứng thú nhiều. Các em thường chờ đợi sự gợi ý của giáo
viên, hoặc tuỳ tiện dùng bất kì dấu câu nào vào bất kì chỗ nào mà không cần
cân nhắc tại sao lại điền đấu đó. chính vì thế, đôi khi chúng ta thường hay
gặp những bài làm với cách đặt dấu câu đó, đọc lên thấy lủng củng, nghĩa
của câu cũng thay đổi hoàn toàn so với văn bản gốc. Với một số em khá,
giỏi gặp bài khó, phức tạp một chút là làm bài có thể đúng nhưng bài làm đó
thường dựa vào cảm tính, phỏng đoán chứ không có kĩ năng phân tích nên

3
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
khi giáo viên hỏi về lí do đặt dấu đó thì các em giải thích một cách yếu ớt,
không có cơ sở.
Xuất phát từ mục đích cần đạt được của môn Tiếng việt, xuất phát từ
những khó khăn gặp phải của giáo viên, đặc biệt xuất phát từ thực tế học
sinh, tôi rất trăn trở và đã cố gắng suy nghĩ tìm giải pháp để khi dạy và học
phàn dấu câu, với giáo viên mở được con đường bằng phẳng nhất để các em
đi, với học sinh tạo được hứng thú học và có kĩ năng làm được các bài tập
về dấu câu.
Sau khi áp dụng vào lớp 3B, Trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám có
hiệu quả, tôi xin mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc
“Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3” .
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng. Học sinh khối 3
2. Phạm vi nghiên cứu.

- Kiểu bài này chia thành 2 dạng:
+ Dạng 1: Ngắt một đoạn văn thành các câu rồi viết lại cho đúng
chính tả.
+ Dạng 2: Điền dấu câu thích hợp trên một đoạn với các câu được
phân cách sẵn bằng ô trống (hoặc không có ô trống)
Ở dạng này tôi chia làm 2 loại bài:
- Loại bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu.

5
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
- Loại bài yêu cầu điền nhiều loại dấu câu.
3. Kiểu bài hỗn hợp:
Điền dấu cuối câu và điền dấu trong câu
Sau khi quan sát những lỗi sai của học sinh, tìm hiểu nguyên nhân, từ
đó tìm những biện pháp để khắc phục những tồn tại đó của các em. Tôi đưa
ra các biện pháp giải quyết như sau:
II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT.
1. Kiểu bài điền một loại dấu trong câu.
Như đã nói ở trên, dấu trong câu gồm dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu
chấm phẩy…Trong các loại dấu này, ở trương trình lớp 3 tập trung nhiều và
chủ yếu là dấu phẩy. Dấu phẩy có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá
trình viết văn của học sinh. Khi hướng dẫn học sinh sử dụng dấu phẩy, điều
đầu tiên tôi cần làm đó là giúp học sinh nhận ra chức năng của dấu phẩy
được thể hiện trong câu. Dấu phẩy ngăn cách các danh từ, cụm danh từ,
động từ, cụm động từ … đi liền nhau trong câu, ngăn cách các trạng ngữ với
bộ phận chính của câu v v. Tuy nhiên theo chương trình thay sách lớp 3 thì
các khái niệm về danh từ, động từ … trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ
không được giới thiệu tường minh mà được thể hiện thông qua việc nhận
diện mẫu câu với những bộ phận chính được diễn đạt dưới dạng các câu hỏi:
Ai? Cái gì? làm gì? như thế nào? Với bộ phận phụ (trạng ngữ) diễn đạt qua


7
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
c) Nhiệm vụ của Đội viên là thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy tuân theo
Điều lệ đội và giữ gìn danh dự Đội.
Đối với bài tập này để giúp học sinh nhận diện được những từ – cụm
từ cần phân cách bằng dấu phẩy, giáo viên có thể đặt các câu hỏi sau.
GV: Những ai đều là thợ mỏ?
HS: Ông em – bố em và chú em
GV: Vậy chúng ta có thể đặt dấu phẩy ở đâu?
HS: Ông em, bố em và chú em.
Ngay ở câu a, tôi lưu ý và giúp học sinh hiểu: Dùng dấu phẩy để tách
các từ chỉ sự vật (chỉ người) đứng liền nhau trong câu.
Trường hợp cụm từ có từ “và” đứng trước thì không cần phân cách
bằng dấu phẩy.
Tương tự với cách hỏi như vậy với câu b, c.
GV: Các bạn mới được kết nạp vào Đội là người như thế nào?
HS: Con ngoan – trò giỏi.
Sau khi trả lời xong, học sinh tự đặt dấu phẩy ở vị trí “ con ngoan, trò
giỏi”.
GV: Nhiệm vụ của Đội viên là gì?
HS: Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy – tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn
danh dự Đội.
Học sinh sẽ đặt dấu phẩy ở vị trí “ … thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy,
tuân theo Điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội”.
Ví dụ 2: Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu sau:
a) Ếch con ngoan ngoãn chăm chỉ và thông minh.
b) Nắng cuối thu vàng ong dù giữa trua cũng chỉ dìu dịu.

8

d) Trên cánh rừng mới trồng chim chóc lại bay về ríu rít.
Bài tập 2: Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:
a) Lá ngô rộng dài trổ ra mạnh mẽ nõn nà.
b) Cây hồi thẳng cao tròn xoe.
c) Hồ Than Thở nước trong xanh êm ả có hàng thông bao quanh reo
nhạc sớm chiều.
d) Giữa Hồ Gươm là Tháp Rùa tường rêu cổ kính xây trên gò đất cỏ
mọc xanh um.
Bài tập 3: Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Nhờ chuẩn bị tốt về mọi mặt SEA Games 22 đã thành công rực rỡ.
b) Muốn cơ thể khoẻ mạnh em phải năng tập thể dục.
c) Để trở thành con ngoan trò giỏi em cần học tập và rèn luyện.
1.2. Dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm việc theo nhóm
nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu:
Ví dụ: Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu dưới đây:
a) Vì thương dân Chử Đồng Tử và công chúa đi khắp nơi dạy dân
cách trồng lúa nuôi tằm dệt vải.
b) Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiều người khác chị em Xô
phi đã về ngay.
c) Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ Quắm Đen
đã bị thua.
d) Nhờ ham học ham hiểu biết và muốn đem hiểu biết của mình ra
giúp đời Lê Quý Đôn đã trở thành nhà bác học lớn nhất của nước ta thời
xưa.

10
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
Đây là một bài tập khá phức tạp đối với học sinh lớp 3. Với dạng bài
tập này, giáo viên có thể dùng câu hỏi kết hợp sơ đồ hỗ trợ học sinh làm
việc theo nhóm nhằm phát hiện chỗ cần đặt dấu câu theo yêu cầu như sau:

Sau khi phân tích theo mô hình như trên, học sinh có thể dễ dàng đặt
dấu phẩy vào vị trí đúng như sau:
Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác, chị em Xô phi
đã về ngay.
Câu c: Trong câu c có phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân khá phức tạp,
với ba cụm từ chỉ đặc điểm đi liền nhau (tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng
và coi thường đối thủ).
Vì vậy cần có mô hình hỗ trợ khác để giúp các em tìm ra chỗ cần
phân cách bằng dấu phảy như sau:
Giáo viên đưa ra sơ đồ:
Vì sao ? Ai ? …. thế nào ?
Học sinh phân cách các phần của câu theo mô hình như sau:
Tại thiếu kinh nghiệm nôn nóng và coi thường đối thủ – Quắm Đen –
Vì sao ? Ai ?
đã bị thua
thế nào ?

12
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
Giáo viên đưa tiếp câu hỏi phụ như sau:
Vì mấy điều?
Học sinh phân tích theo mô hình phụ:
Tại thiếu kinh nghiệm – nôn nóng – và coi thường đối thủ.
Sau khi học sinh phân cách các phần của câu theo sơ đồ xong, giáo
viên hướng dẫn học sinh đặt dấu phẩy bằng cách đặt câu hỏi:
Như vậy, ta có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong câu c ?
Học sinh sẽ đặt đúng dấu phẩy vào vị trí thích hợp như sau:
Tại thiếu kinh nghiệm, nôn nóng và coi thường đối thủ, Quắm Đen đã
bị thua.
- Sau khi học sinh đặt đúng dấu phẩy trong câu c, giáo viên cần nhấn

Em có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau:
a) Hằng năm cứ vào đầu tháng 9 các trường lại khai giảng năm học
mới.
b) Sau ba tháng hè tạm xa trường chứng em lại náo nức tới trường gặp
thầy gặp bạn.
c) Đúng 8 giờ trong tiếng Quốc ca hùng tráng lá cờ đỏ sao vàng được
kéo lên ngọn cột cờ.
Bài tập 2:
Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:
a) Bằng những động tác thành thạo chỉ trong phút chốt ba cậu bé đã
leo lên đỉnh cột.

14
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
b) Với vẻ mặt lo lắng các bạn trong lớp hồi hộp theo dõi Nen-li.
c) Bằng một sự cố gắng phi thường Nen-li đã hoàn thành bài thể dục.
Bài tập 3:
Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong từng câu văn dưới đây:
a) Từ bấy trở đi sớm sớm cứ khi Gà Trống cất tiếng gáy là Mặt Trời
tươi cười hiện ra phân phát ánh sáng cho mọi vật mọi người.
b) Xưa kia Cò và Vạc cùng kiếm ăn chen chúc đông vui trên bãi lầy
cánh đồng mùa nước những hồ lớn những cửa sông.
1.3. Tổ chức cho học sinh đặt câu hỏi theo nhóm nhỏ để tự phát
hiện ra các chỗ cần đặt dấu trong câu.
Ở biện pháp này, giáo viên đưa ra một số câu hỏi gợi ý trên bảng phụ,
đề nghị học sinh chọn câu hỏi thích hợp cho từng câu trong bài tập.
- Học sinh hỏi và trả lời theo nhóm.
- Dựa vào câu trả lời xác định chỗ cần đặt dấu câu mà bài tập yêu cầu.
Ví dụ:
Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau:

a) Vì chạy chơi ngoài nắng Long đã bị cảm sốt.
b) Do mất điện cuộc liên hoan văn nghệ trong hội vui học tập phải kết
thúc sớm.
c) Nhờ sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo dạy thể dục đội bóng bàn lớp
3C đã giành được giải Nhất.

16
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
Bài tập 2:
Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:
a) Con gà này có bộ lông mã tía cổ bạnh màu hạt đậu.
b) Con gà ông Bảy Hoá có bộ mã khá đẹp lông trắng pha đỏ mỏ búp
chuối mào cờ hai cánh như hai vỏ trai úp nhưng lại hay tán tỉnh láo toét.
1.4. Khai thác kinh nghiệm ngữ cảm của học sinh.
Ở biện pháp này học sinh sẽ hoạt động theo nhóm (bàn). Một học sinh
sẽ đọc đoạn (câu) cần điền dấu đã cho, đến chỗ nào các em dừng thì sẽ gạch
xổ phân cách, sau đó nhóm trao đổi và sửa chữa rồi xác định lại các chỗ cần
đặt dấu câu theo yêu cầu. Với biện pháp này, tôi khai thác cảm nhận tự
nhiên đối với Tiếng Việt vốn là bản ngữ của các em. Trên cơ sở ấy, học sinh
trao đổi và xem xét để nhận diện việc sử dụng dấu trong câu một cách có ý
thức.
Ví dụ:
Đặt dấu phẩy vào vị trí thích hợp trong mỗi câu dưới đây:
Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh rì rào trong gió là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh… Còn trên tầng cao cánh chú là đàn
cò đang bay là trời xanh trong và cao vút.
Với bài tập này học sinh sẽ đọc và gạch xổ như sau:
Dưới tầm cánh chú bây giờ / là luỹ tre xanh rì rào trong gió / là bờ ao
với những khóm khoai nước rung rinh…/ Còn trên tầng cao cánh chú / là
đàn cò đang bay / là trời xanh trong / và cao vút.


18
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
- Giáo viên đưa ra gợi ý: “Đoạn có 2 câu. Câu 1 có 4 dấu phẩy, các
dấu phẩy ấy nên đặt vào đâu? Câu 2 có 2 dấu phẩy, các dấu phẩy nên đặt
vào đâu?”
- Nhóm 4 học sinh chép đoạn văn vào giấy khổ lớn, sau đó trao đổi
xác định các chỗ cần đặt dấu phẩy trong câu trong khoảng 3 phút.
- Các nhóm đính sản phẩm trên bảng lớp.
- Giáo viên nêu đáp án được viết trên bảng phụ hay trên một tờ giấy
khổ lớn, trên cơ sở đó học sinh đối chiếu xác định nhóm làm đúng hay sai.
- Giáo viên điều chỉnh, hướng dẫn, giải thích những trường hợp nhầm
lẫn (có thể đặt câu hỏi để học sinh tự giải thích).
* Với biện pháp này tôi cũng ra thêm một số bài tập để học sinh được
chơi nhiều lần. Bài tập như sau:
Bài tập 1:
Đặt dấu phẩy vào những chỗ thích hợp trong các câu sau:
Sân bóng là một khoảng đất hẹp mấn mô trước khu nhà tập thể. Tất cả
các cầu thủ đều cởi trần chân đất đuổi theo quả bóng cao su bằng quả cam.
Khung thành mỗi bên là khoảng trống giữa hai chiếc dép.
Bài tập 2:
Em đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong đoạn văn sau?
Mỗi bản nhạc mỗi bức tranh mỗi câu chuyện mỗi vở kịch mỗi cuốn
phim,… đều là một tác phẩm nghệ thuật. Người tạo nên tác phẩm nghệ thuật
là các nhạc sĩ hoạ sĩ nhà văn nghệ sĩ sân khấu hay đạo diễn. Họ đang lao
động miệt mài say mê để đem lại cho ta những giờ giải trí tuyệt vời giúp ta
nâng cao hiểu biết và góp phần làm cho cuộc sống mỗi ngày một tốt đẹp
hơn.

19

hiện bài tập ngắt một đoạn thành các câu rồi viết lại cho đúng chính tả.
a) Đặt mỗi câu hỏi phù hợp với nội dung ý của các câu trong đoạn
để giúp học sinh phát hiện ra đoạn gồm mấy ý.
Ví dụ: Ngắt đoạn dưới đây thành 5 câu và ghép lại cho đúng chính
tả:
Trên nương, mỗi người một việc người lớn thì đánh trâu ra cày các bà
mẹ cúi lom khom tra ngô các cụ già nhặt cỏ đốt lá mấy chú bé đi bắc bếp
thổi cơm.
Với bài tập này, giáo viên nêu 5 câu hỏi (có thể theo thứ tự ý trong
đoạn hoặc có thể không. Trường hợp đảo thứ tự sẽ tạo thách thức cho học
sinh hơn, nhờ vậy các em sẽ động não nhiều hơn). Các câu hỏi như sau:
- Trên nương, ai thế nào?
- Ai làm gì?
- Những ai làm gì?
- Những ai làm gì?
- Những ai làm gì?
Khi giáo viên đưa ra các câu hỏi như trên, học sinh sẽ phân tích từng
câu theo câu hỏi của giáo viên như sau:
- Trên nương, mỗi người một việc.
Ai? thế nào?
- Người lớn thì đánh trâu ra cày.
Ai? làm gì?

21
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
- Các bà mẹ cúi lom khom tra ngô.
Những ai? làm gì?
- Các cụ già nhặt cỏ, đốt lá.
Những ai? làm gì?
- Mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm.

Giáo viên đưa ra những gợi ý về âm để học sinh tìm ra chữ cuối của
mỗi câu. Ví dụ cũng với bài tập ở biện pháp a tôi tiến hành như sau:
Câu 1 kết thúc bằng một tiếng bắt đầu bằng âm “vờ”. Câu 2 kết thúc
bằng tiếng bắt đầu bằng âm “cờ”. Câu 3 kết thúc bằng tiếng bắt đầu bằng âm
“en-nờ”. Câu 4 kết thúc bằng tiếng bắt đầu bằng âm “e-lờ”. Câu 5 kết thúc
bằng tiếng bắt đầu bằng âm “cờ”.
Lưu ý: Việc sử dụng biện pháp này đặc biệt thích hợp đối với đoạn
văn trong đó mỗi câu có nhiều tiếng bắt đầu cùng một âm, vì như thế tạo
cho học sinh nhiều chọn lựa, nhờ vậy hoạt động cách xác định câu không
chỉ dựa vào hình thức mà còn dựa vào nội dung ý nghĩa của câu.
Sau khi đưa ra 4 biện pháp dạy dạng bài ngắt một đoạn thành các câu
rồi viết lại cho đúng chính tả như trên, tôi đưa ra các bài tập cùng dạng để
học sinh được thực hành nhiều lần theo các biện pháp mà giáo viên đã dạy.
Các bài tập như sau:
Bài tập 1: Dựa vào từng sự việc để chia đoạn sau thành 4 câu. Cuối
mỗi câu cần ghi dấu chấm và đầu câu phải viết hoa.

23
Sáng kiến kinh nghiệm: Hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 3
Sáng nào mẹ tôi cũng dậy rất sớm đầu tiên, mẹ nhóm bếp nấu cơm
sau đó mẹ quét dọn trong nhà, ngoài sân lúc cơm gần chín, mẹ gọi anh em
tôi dậy ăn sáng và chuẩn bị đi học.
Bài tập 2: Chép đoạn văn dưới đây vào vở sau khi đặt dấu chấm vào
chỗ thích hợp và viết hoa những chữ đầu câu:
Ông tôi vốn là thợ gò hàn vào loại giỏi có lần, chính mắt tôi đã thấy
ông tán đình đồng chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng,
nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng
ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
Bài tập 3: Dùng những câu hỏi sau (Hậu là ai? Hậu thường làm gì
mỗi lần về quê? Có lần cả buổi sáng Hậu đã làm gì? Một lần Hậu đã mải

a). Kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu.
Trọng tâm của kiểu bài yêu cầu điền một loại dấu cuối câu là giúp học
sinh nắm cách sử dụng loại dấu chấm câu ấy.
Các dấu cuối câu liên quan đến chức năng của câu dấu chấm liên
quan đến kiểu câu dùng để kể; dấu chấm hỏi liên quan đến câu dùng để cảm
thán, để ra mệnh lệnh, hoặc để mời gọi. Do vậy, muốn giúp học sinh chọn
dấu thích hợp để sử dụng, điều quan trọng là hướng dẫn học sinh, qua thông
tin được đề cập trong câu, đoán xem người viết muốn gì: kể lại sự việc; hỏi
để biết điều gì đó; hay bày tỏ cảm xúc, ra lệnh, yêu cầu …
Dưới đây là một số biện pháp tổ chức cho học sinh học kiểu bài yêu
cầu điền một loại dấu cuối câu:

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status