MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU....................................................................................................02
1.1. Lí do chọn đề tài............... ..........................................................................02
1.2. Mục đích nghiên
cứu...................................................................................02
1.3. Đối tượng nghiên cứu:................................................................................02
1.4. Phương pháp nghiên
cứu:............................................................................02
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM...............................................03
2.1. Cơ sở lí luận:..............................................................................................03
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN.............................................03
2.3. Các giải pháp khắc phục lỗi........................................................................05
2.4. Hiệu quả của sáng kiến: ........................................................................ ....18
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................16
3.1. Kết luận:....................................................................................................19
3.2. Kiến nghị....................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................20
DANH MỤC SKKN ĐÃ ĐƯỢC XẾP GIẢI.....................................................21
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Dấu câu có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp bằng chữ viết. Sự
vắng mặt của dấu câu trong một văn bản không những gây khó khăn cho việc
hiểu nội dung văn bản mà còn có thể dẫn đến sự hiểu lầm hay hiểu văn bản theo
nhiều nghĩa khác nhau.
Các dấu câu được học ở Tiểu học, tuy số lượng dấu câu không nhiều nhưng
chúng được sử dụng linh hoạt. Các dấu câu khác nhau đảm nhiệm các chức
năng khác nhau. Ngoài ra, dấu câu còn được sử dụng có tính chất cá nhân, theo
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Môn Luyện từ và câu có tiềm năng giáo dục to lớn, nó góp phần quan trọng
trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương
pháp giải quyết vấn đề. Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ
độc lập linh hoạt, sáng tạo; góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần
thiết và quan trọng của con người như lao động cần cù, cẩn thận, có ý thức vượt
khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và có tác phong khoa học.
Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là một vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm. Bản thân mỗi chúng ta cần phải chăm sóc thế hệ trẻ ngay từ lúc ấu
thơ đến lúc trưởng thành. Vì vậy việc phát triển và bồi dưỡng ngay từ bậc tiểu
học là công việc hết sức quan trọng đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng
cải tiến về nội dung, đổi mới về phương pháp để khuyến khích học sinh say mê
học tập, nghiên cứu tìm tòi chiếm lĩnh tri thức mới.
Việc dạy cách làm các bài dạng bài tập về dấu câu có vị trí đặc biệt quan
trọng. Thông qua dạy cách làm các bài dạng bài tập về dấu câu giúp cho đội
ngũ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn kỹ năng viết dấu
câu đúng theo các kiểu câu trong đoạn văn, bài văn từ đó nâng cao chất lượng
dạy Tiếng Việt Tiểu học. Cũng thông qua việc dạy cách làm các bài dạng bài
tập về dấu câu có tác dụng thúc đấy phát triển tư duy logic, rèn luyện khả năng
sáng tạo văn học của học sinh.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học thì trước hết phải xây dựng được một
nội dung hợp lý, khoa học và những phương pháp giảng dạy phù hợp, phát triển
được khả năng tư duy linh hoạt, sáng tạo của học sinh.
câu, thì các em sẽ dễ vận dụng trong việc thực hiện được dạng bài tập này.
- Việc nắm được mạch kiến thức, hệ thống bài tập về dấu câu là một điều hết
sức cần thiết. Giáo viên cần hệ thống hóa được mạch kiến thức đó, vì giữa bài
tập này và bài tập kia, giữa lớp này và lớp kia có sự móc xích, hỗ trợ lẫn nhau.
Chúng ta không thể dạy bài nào chỉ biết đến bài đó, dạy lớp nào chỉ biết lớp đó.
- Hệ thống câu hỏi gợi ý để tổ chức hoạt động học tập cho các em học sinh
phải phù hợp với từng đối tượng, gần gũi với học sinh, không quá dễ cũng
không quá khó. Đồng thời giáo viên cũng phải lường trước được những sai lầm
mà các em có thể mắc phải để dự kiến trước biện pháp sửa chữa.
Một số lỗi của học sinh mắc phải như sau :
Với kiến thức về dấu câu, học sinh thường mắc phải những lỗi sai sau đây:
- Lỗi không dùng dấu câu : Là những câu sai do không dùng dấu câu ở chỗ cần
thiết. Cả một đoạn văn dài có nhiều ý riêng biệt, học sinh cứ viết mà không có
bất kì một dấu phẩy, dấu chấm nào được sử dụng. Như vậy, học sinh đã vi phạm
quy tắc sử dụng dấu câu. Việc đó gây khó khăn trong giao tiếp, người đọc không
thể hiểu được nội dung truyền đạt, không xác định được ý muốn diễn tả.
- Lỗi sử dụng dấu câu sai: Là lỗi của những câu học sinh sử dụng dấu không
hợp lí, không đúng quy tắc, đáng lẽ phải dùng dấu này lại dùng dấu khác, phải
đặt ở chỗ này lại đặt ở chỗ khác.
Nguyên nhân:
Qua thực tế giảng dạy và từ kết quả khảo sát điều tra như trên tôi đã tiến
hành tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, đó là:
* Về phía học sinh:
- Do ý thức học của một vài em còn kém, coi nhẹ việc nâng cao kĩ năng sử
dụng dấu câu tiếng Việt, chưa thấy được tác dụng của dấu câu trong việc diễn
đạt nội dung dẫn đến lỗi không sử dụng dấu câu; lỗi sử dụng sai dấu câu.
- Khi làm bài tập dạng về dấu câu còn thụ động, đoán mò điền dấu đại, làm bài
còn máy móc. Phần lớn học sinh chỉ thụ động làm các bài cụ thể về dấu câu
chứ không biết so sánh, liên hệ với các bài tập khác.
- Trí nhớ của các em chưa thoát khỏi tư duy cụ thể nên còn ngại khó khi gặp
Lỗi sử dụng sai
dấu câu
SL
TL
17
40,4%
Sử dụng đúng
dấu câu
SL
TL
15
35,8%
2.3 Các giải pháp khắc phục lỗi:
Bản thân là một giáo viên, tôi luôn trăn trở và tìm cách khắc phục những tồn
tại đã nêu trên. Sau đây là các giải pháp mà tôi đã thực hiện trong quá trình
giảng dạy của mình, tôi thấy rất có hiệu quả:
Giải pháp 1: Nắm vững quy tắc về dấu câu
Bởi ở lớp 5, các em được ôn lại các dấu câu đã học ở lớp dưới nên để giúp
các em nhớ lâu và có hệ thống, tôi cùng các em xây dựng "Bảng tóm tắt cách
dùng các dấu câu" dưới hình thức chia nhóm để các em trong nhóm hỗ trợ lẫn
nhau, tôi chỉ là người giám sát và giúp đỡ khi cần thiết. Các em tự xây dựng và
lấy được ví dụ điều đó sẽ giúp các em nhớ và vận dụng được trong làm bài.
Cụ thể:
BẢNG TÓM TẮT CÁCH DÙNG CÁC DẤU CÂU
TT
Ví dụ:
- Mấy ngày nữa thì mẹ về hả chị?
- Phong cảnh đó có khác gì một bức tranh sơn
5
thủy?
- Bây giờ là 9 giờ?
3
Dấu
chấm
than
Dấu phẩy
!
Dấu phẩy có tác dụng sau:
- Ngăn cách các bộ phận có cùng chức vụ trong
câu
Ví dụ: Sân trường bỗng trở nên ồn ào, huyên náo.
- Ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ.
Ví dụ: Dưới gốc cây xà cừ, một tốp bạn nữ đang
túm tụm đọc truyện.
- Ngăn cách các vế trong câu ghép.
Ví dụ: Giữa sân trường, các bạn nam đang đá cầu,
các bạn nữ nhảy dây.
Khi báo hiệu lời nói của một nhân vật, dấu hai
chấm được dùng phối hợp với dấu ngoặc kép hay
dấu gạch đầu dòng.
Ví dụ: a, Tôi thở dài:
- Còn đứa bị điểm không, nó tả thế nào?
b, Rồi những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra:
cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm cỏ,
dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi.
Dấu ngoặc kép thường được dùng để đánh dấu
lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc ý nghĩ của
nhân vật .
Ví dụ: Bác tự cho mình là" người lính vâng
mệnh quốc dân ra mặt trận ", là "đầy tớ trung thành
của dân".
Nếu lời nói trực tiếp là một câu trọn vẹn hay
một đoạn văn thì trước dấu ngoặc kép ta thường
phải thêm dấu hai chấm.
Ví dụ: Bác nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham
6
muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".
Dấu ngoặc kép còn được dùng để đánh dấu
những từ ngữ có ý nghĩa đặc biệt.
Ví dụ: Cả bầy ong cùng nhau xây tổ. Con nào
con nấy hết sức tiết kiệm "vôi vữa".
7
Không biết dùng sẽ dây cà, dây khoai.
Làm cho câu cũng nhẹ nhàng dễ coi
Chấm phẩy (;) phân cách làm hai
Ngoặc kép (“ ”) trân trọng rạch ròi
Sau bổ sung trước mới tài làm sao
Sau dấu hai chấm (:) nhưng đòi
Chấm than (!) tình cảm dạt dào
chuẩn luôn
Khiến sai, đề nghị lẽ nào làm ngơ
Học dần, hiểu sẽ nên khôn
Chấm hỏi (?) giỏi đến bất ngờ
Muốn viết cho đúng phải ôn luyện dần.
Hỏi ai hay chính thẫn thờ hỏi ta
Hai chấm (:) lời trích gần xa
Bài của TS. Lê Thống Nhất
Đôi khi giải thích thế là hiểu thêm
Giải pháp 2: Thông qua bài tập để rèn kĩ năng thực hành sử dụng dấu câu.
Với giải pháp này tôi lựa chọn các bài tập và chia thành 3 nhóm chính để
phù hợp với năng lực của từng học sinh. Cụ thể:
Nhóm 1: Bài tập về từng loại dấu câu
Loại bài tập này được sử dụng sau mỗi bài học về từng dấu câu, giúp học
sinh nắm chắc chức năng, công dụng của dấu câu được học. (Đối với dạng bài
tập này được sử dụng ở các lớp dưới.)
Nhóm 2: Bài tập phân biệt các nhóm dấu câu
7
Loại bài tập này sử dụng sau khi học sinh đã được học một số dấu câu,
nhằm giúp các em hiểu đúng chức năng của từng dấu câu trên cơ sở đối chiếu,
so sánh cách dùng các dấu câu giống nhau về vị trí trong câu hoặc gần gũi nhau
- Hát như thế mà cũng dám lên biểu diễn cơ đấy Cô ca sĩ này ở đâu ra vậy
hả ông
- Nó là con gái tôi
- Ấy chết Xin lỗi bác Kể ra thì giọng hát cũng không đến nỗi nào. Nhưng
cháu nhà bác chọn bài hát không thích hợp. Bài này dở quá Nhạc và lời như
thế thì chẳng có ai hát hay được
Không biết người nào viết nhạc thế nhỉ
- Chính tôi đấy
(Theo Kể chuyện âm nhạc)
Nhóm 3: Bài tập nâng cao kĩ năng sử dụng dấu câu
Loại bài tập này được sử dụng khi các em đã được học hầu hết các dấu câu
tiếng Việt và có sự hiểu biết tương đối chắc chắn về các chức năng của từng
dấu câu. Học sinh được đặt vào các tình huống bộc lộ khả năng sử dụng dấu
câu một cách linh hoạt, sáng tạo. (Đây là dạng bài tập chủ yếu mà tôi dạy cho
các em ở lớp tôi chủ nhiệm trong các giờ Thực hành Tiếng Việt vì ở lớp 5 các
em ôn tập lại các dấu câu đã học ở lớp dưới )
Ví dụ một số bài tập:
Bài 1: Điền dấu câu thích hợp vào mỗi ô trống trong các đoạn dưới đây rồi chép
lại đoạn văn sau cho đúng.
a, Kiến Mẹ rất yêu đàn con của mình
tối nào Kiến Mẹ cũng dỗ dành
thơm yêu từng đứa con và âu yếm nói
8
- Chúc con ngủ ngon
(Theo Truyện của mùa hạ)
b, Mùa hạ đến
tôi nhận ra mùa hạ bằng cái nắng oi nồng khó chịu
cái
- Tên em là Gì ạ
Người cảnh sát nghiêm nét mặt
- Anh trả lời cho nghiêm túc, tên anh là gì
- Dạ...! Tên em là Gì ạ
- Yêu cầu anh cho xem chứng minh thư
Người chiến sĩ cảnh sát cầm tấm chứng minh thư và đọc: Trần Văn Gì
(Sưu tầm)
- Bên cạnh đó, khi kiểm tra, trả bài, nhận xét bài tập làm văn, giáo viên cần
chú ý lỗi dùng dấu câu sai của học sinh và phải lấy đó làm bài tập để hướng dẫn
cả lớp sửa chữa. Có như thế, các em mới thấy được lỗi của mình, biết tự sửa để
sau đó có ý thức sử dụng dấu câu tốt hơn.
- Ngoài ra, Gv có thể dùng bài viết sai (không chỉ với phân môn Luyện từ
và câu mà còn với phân môn Tập làm văn) của học sinh để sửa chung cho cả
lớp, để học sinh thấy cái vô lí từ đó rút ra được lời giải đúng .(với lưu ý không
nêu tên học sinh trước lớp)
Giải pháp 3: Tìm ra cơ sở sử dụng dấu câu
9
* Dấu câu và mục đích nói của câu
Mục đích nói của câu là một yếu tố quan trọng để lựa chọn dấu câu khi
thể hiện câu nói đó bằng chữ viết. Cùng là một cấu trúc câu "Mẹ về" nhưng
có thể nói theo những mục đích khác nhau và khi thể hiện trên chữ viết,
phải sử dụng những dấu câu khác nhau:
- Mẹ về! (sự vui mừng)
- Mẹ về? (sự hồ nghi)
- Mẹ về. (sự thông báo)
Khi nói, người nghe có thể nhận biết sự khác nhau về mục đích nói, về
nội dung thông tin, nội dung biểu cảm của ba phát ngôn nói trên nhờ ngữ
điệu, vẻ mặt hay điệu bộ, cử chỉ. Song trên chữ viết, người ta chỉ có thể
10
cường độ giọng nói lúc phát âm, thanh điệu, cao độ, tốc độ và nhịp độ lời
nói... Ngữ điệu là đối tượng rất quan trọng của việc lĩnh hội tiếng mẹ đẻ.
Bởi vậy, khi dạy lời nói ở dạng viết, điều quan trọng là phải giúp học sinh
nắm được mối liên hệ giữa các âm vị, ngữ điệu với chữ cái và những dấu
hiệu biểu thị khác, trong đó có hệ thống các dấu câu. Luyện đọc diễn cảm là
học cách nhấn âm, phân biệt giá trị các chỗ ngắt, uốn cong ngữ điệu... Đó là
một bằng cớ chứng tỏ người đọc đã hiểu rõ văn bản viết. Dấu câu góp phần
thể hiện tiết tấu, âm điệu, ngữ điệu lời nói khi biểu đạt bằng chữ viết.
Chẳng hạn, dấu chấm ghi lại chỗ ngắt giọng hơi dài và hạ giọng; dấu phẩy
ghi lại chỗ ngắt giọng ngắn hơn một chút và thường là hơi lên giọng; dấu
chấm lửng là chỗ sự ngắt giọng có thể kéo dài,... Người đọc, dù chỉ đọc văn
bản bằng mắt thì họ vẫn có thể tưởng tượng được giọng nói, những quãng
ngắt giọng sự lên giọng hay xuống giọng (ngữ điệu)... của từng câu. Có
được điều này một phần là nhờ vào hệ thống dấu câu. Trong đời sống giao
tiếp chúng ta thường đọc bằng mắt hoặc đọc lướt là chủ yếu. Mặt khác, giữa
văn nói và văn viết có sự khác biệt lớn. Lúc nói, đôi khi người ta
không nghỉ hơi giữa các câu. Ví dụ, khi hùng biện người ta không ngắt câu
hay dừng lại nhiều nhằm mục đích để người nghe chú ý. Như thế, nếu cứ
tuân thủ quy tắc trên một cách máy móc, chúng sẽ gặp rắc rối trong thực tế.
Dạy dấu câu cần khai thác vai trò của ngữ điệu trong việc giúp học sinh
nhận biết chức năng của dấu câu song cũng cần tính đến những trường hợp
ngoại lệ.
* Dấu câu và kết cấu ngữ pháp của câu
Trong một số trường hợp khác, chúng ta không thấy sự tương hợp giữa
dấu câu và ngữ điệu: Dấu chỉ được xác định bằng những tiêu chí ngữ pháp.
Chẳng hạn, dùng dấu phẩy để ngăn cách các đoạn câu trong câu ghép không
có từ nối. Như vậy, cần dựa vào cấu tạo ngữ pháp để dùng dấu câu, hay nói
chữ viết, người viết không thể không chú ý đến việc lựa chọn và sử dụng
dấu câu để văn bản đạt hiệu quả giao tiếp như mong muốn.
Quan hệ ý nghĩa giữa các phần trong câu hoặc mục đích diễn đạt của
câu giúp người viết lựa chọn dấu câu thích hợp. Nội dung của câu là cơ sở
quan trọng để sử dụng dấu câu và đó cũng là căn cứ quan trọng để dạy dấu
câu. Có thể đánh giá khả năng tiếp thu cách đặt dấu câu của học sinh qua
khả năng diễn đạt nội dung thông tin trong lời văn của các em.
Trên thực tế, qua khảo sát các bài làm văn của học sinh, tôi nhận
thấy bài nào diễn đạt ý yếu kém thì cũng mắc nhiều lỗi về dấu câu. Bởi
vậy, việc dạy học dấu câu , tôi bắt đầu từ việc dạy cho học sinh biết cách
trình bày lưu loát bằng lời những suy nghĩ, nhận thức, tình cảm... của mình.
Dạy học dấu câu không thể tách rời việc dạy nghĩa của từ, mở rộng vốn từ,
vốn hiểu biết, nâng cao khả năng dùng từ đặt câu, viết đoạn, viết bài... của
các em. Việc phát triển khả năng diễn đạt của trẻ sẽ phải luôn đi trước một
bước việc dạy cách đặt dấu câu. Do đó, việc dạy học dấu câu ở tiểu học gắn
chặt với việc phát triển tư duy và nâng cao khả năng diễn đạt cho học sinh.
Từ những cơ sở nêu trên, khi chuẩn bị nội dung bài dạy tôi tìm ra các bước
thực hiện, khái quát nội dung của dạng bài tập đó để giúp học sinh hiểu được tại
sao ở vị trí đó chỉ sử dụng được câu này mà không sử dụng được câu kia. Có
như thế học sinh mới nhớ lâu, vận dụng và làm được tất cả các dạng bài tập
tương tự.
Nội dung của các bài tập về dấu câu ở lớp 5, với số lượng 8 tiết, được dạy từ
tuần 29 đến tuần 34, kiểu bài cũng khá nhiều, nên trong phạm vi hẹp này tôi
không thể nêu ra cách tiến hành cho từng bài một. Mỗi bài tập đều đặt ra yêu cầu
chung là học sinh biết dùng các dấu câu vào vị trí thích hợp trong câu và hiểu
được tác dụng, ý nghĩa của các dấu câu. Vì vậy, ở đây tôi đã đưa ra các bước cụ
thể để sử dụng đúng từng loại dấu câu. Với cách làm này, chúng ta có thể vận
dụng linh hoạt vào các dạng bài tập về dấu câu theo hướng phát huy tính tích
12
Dựa vào nội dung câu.
Bước 1: Trong đoạn văn câu nào để hỏi người khác, hoặc tự hỏi mình, hoặc
biểu thị sự thắc mắc, hoài nghi …
Bước 2: Ai là người hỏi, hỏi về điều gì ?
Bước 3: Xác định được từ nghi vấn trong câu dùng để hỏi ( Ai, gì, nào, sao,
không, ư, à… )
Bước 4: Đánh dấu chấm hỏi vào cuối câu đó.
Bước 5: Đọc lại câu văn xem đã phù hợp chưa để điều chỉnh cho đúng.
Dấu chấm than ( ! )
Cách 1: Dựa vào ý nghĩa, tác dụng của câu nói lời đề nghị, nhờ vả, mong
muốn …
Bước 1: Học sinh đọc đoạn văn, tìm xem đâu là câu nói của nhân vật
Bước 2: Câu nào nêu lên yêu cầu, đề nghị, mong muốn, nhờ vả,… người khác
làm việc gì đó.( VD: Lời yêu cầu, đề nghị,… phải mạnh mẽ.)
13
Bước 3: Tìm xem đứng trước động từ trong câu có phải các từ: hãy, đừng, chớ,
nên, phải, … hoặc các hô ngữ, các từ: xin, mong, làm ơn, … đứng ở đầu câu và
cuối câu có các từ: nhé, thôi, nào, với, đi, …không?
Bước 4: Đánh dấu chấm than vào cuối câu đó.
Bước 5: Đọc lại câu văn xem sử dụng dấu câu đã phù hợp chưa để điều chỉnh
cho đúng.
Cách 2: Dựa vào sắc thái biểu cảm.
Bước 1: Đọc đoạn văn tìm xem đâu là câu nói.
Bước 2: Câu nói đó bộc lộ cảm xúc vui mừng, thán phục, đau xót, ngạc nhiên,
mỉa mai, … hay gọi - đáp.
Bước 3: Xác định các từ đi kèm: ôi, chao, chà, trời, quá, lắm, thật, nhé, …có
trong câu.
Bước 3: Đặt dấu gạch ngang vào đầu lời nói, trước và sau ( hoặc trước) lời giải
thích trong câu, liệt kê các ý.
14
Bước 4: Đọc lại câu văn xem sử dung dấu gạch ngang đã phù hợp chưa để điều
chỉnh cho đúng.
* Một số ví dụ cụ thể:
Các bài tập về câu ở lớp 5, không phải bài tập nào cũng chỉ yêu cầu tìm
hiểu một dấu câu cụ thể với một kiểu bài cụ thể. Có những bài yêu cầu từ 2 đến
3 dấu câu với những kiểu bài khác nhau. Ví dụ:
Tuần 29- Bài Ôn tập về dấu câu: Dấu chấm, Dấu chấm hỏi, Dấu chấm than
Bài tập 1- Trang 110: Tìm các dấu chấm, dấu chấm hỏi và dấu chấm than
trong mẫu chuyện vui dưới đây. Cho biết mỗi dấu câu ấy được dùng làm gì ?
Kỉ lục thế giới
Một vận động viên đang tích cực luyện tập để tham gia thế vận hội. (1)
Không may anh bị cảm nặng.(2) Bác sĩ bảo:(3)
Anh sốt cao lắm !(4) Hãy nghỉ ngơi ít ngày đã !(5)
Người bệnh hỏi:(6)
Thưa bác sĩ, tôi sốt bao nhiêu độ ?(7)
Bác sĩ đáp:(8)
Bốn mươi mốt độ.(9)
Nghe thấy thế, anh chàng ngồi phắt dậy(10)
- Thế kỉ lục thế giới là bao nhiêu ?(11)
* Cách tiến hành:
Bước 1: Đọc mẩu chuyện trên. Xác định số lượng các câu trong đoạn văn trên ?
Đánh số thứ tự sau mỗi câu. (11 câu.)
Bước 2: Nêu những câu văn có sử dụng dấu chấm, dấu chấm hỏi ? Dấu chấm
than ? Dấu hiệu để xác định dấu câu trên ? (Dấu chấm câu 1, 2, 9; Dấu chấm
hỏi câu 7, 11; Dấu chấm than câu 4, 5. Dựa vào dấu hiệu hình thức.)
Bước 1: HS đọc kĩ đoạn văn.
Bước 2: HS nêu cách điền dấu câu.
- Cách 1: Dựa vào nội dung các ý
- Cách 2: Dựa vào cách tìm các thành phần trong câu đã học – CN, VN, TN.
Bước 3: Vận dụng cách xây dựng dấu câu đã được học để điền dấu câu thích
hợp. (HS điền dấu câu: ô trống thứ 2 điền dấu chấm. Còn lại là điền dấu phẩy.)
Bước 4: HS đọc và viết lại đúng quy tắc chính tả.
Bước 5: HS – GV chốt lại cách thực hiện bài tập.
Tuần 32 – Bài Ôn tập về dấu câu: Dấy phẩy.
Bài tập 2- Trang 138: Bài tập thuộc kiểu ngắt câu: Có thể đặt dấu câu chấm
hoặc dấu phẩy vào những chỗ nào ở hai bức thư trong mẫu chuyện sau ?
Dấu chấm và dấu phẩy.
16
Có lần, nhà văn nổi tiếng Bớc-na Sô nhận được tập bản thảo truyện ngắn
của người đang tập việt văn, kèm theo một bức thư ngắn. Thư viết: “ Thưa ngài
tôi xin trân trọng gửi tới ngài một số sáng tác mới của tôi vì viết vội chưa kịp
đánh các dấu chấm dấu phẩy rất mong ngài đọc cho và điền giúp tôi những dấu
chấm dấu phẩy cần thiết xin cảm ơn ngài.”
Vốn là người có khiếu hài hước, Bớc-na Sô bèn viết thư trả lời: “ Anh bạn
trẻ ạ tôi rất sẵn lòng giúp đỡ anh với một điều kiện là hãy đếm tất cả những dấu
chấm dấu phẩy cần thiết rồi bỏ vào phong bị gửi đến tôi chào anh.”
* Cách thực hiện:
Bước 1: HS đọc kĩ đoạn văn.
Bước 2: HS nêu cách điền dấu câu.
- Cách 2: Dựa vào nội dung các ý. Đoạn 1 có 4 ý, đoạn 2 có 2 ý.
- Cách 2: Dựa vào cách tìm các thành phần trong câu đã học – CN, VN, TN.
Bước 3: Vận dụng cách xây dựng dấu câu đã học để điền dấu câu thích hợp.
(HS ngắt câu: “ Thưa ngài, tôi xin trân trọng gửi tới ngài một số sáng tác mới
17
(Tác dụng của dấu ngoặc kép trong câu trên là để đánh dấu lời nói trực tiếp
của người dân )
- Tác giả sử dụng của dấu chấm than trong câu: Út khá lắm, cứ làm như vậy rồi
quen, em ạ! để làm gì?
(Tác giả sử dụng của dấu chấm than trong câu trên để biểu lộ tình cảm của
anh Ba với cậu bé Út.)...
Với cách làm như vậy, trong mỗi giờ học, các em được củng cố thêm kiến
thức, từ đó các em ngày một có kĩ năng sử dụng dấu câu tốt hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến:
Với cách nghiên cứu khai thác nội dung bài như trên, chỉ những bài tập đầu
năm các em còn bỡ ngỡ, dần dà cũng thành quen, các em đã vận dụng và tự tìm
được cách làm các bài tập mà giáo viên yêu cầu. Vì các em luôn phải tìm tòi,
suy nghĩ, nên các tiết học Luyên từ và câu ở lớp tôi không có thời gian “chết”.
Hoạt động nhóm, cá nhân, trao đổi bàn bạc làm cho giờ học trở nên sôi nổi. Tất
cả các kết quả đúng mà các em tìm ra đều được trình bày một cách chắc chắn,
có cơ sở, không còn là kết quả của sự mò mẫm. Điều đáng mừng là giờ đây học
sinh trong lớp đều nắm vững kiến thức, hiểu sâu nội dung bài học. Những học
sinh gặp khó khăn trọng học tập vốn nhút nhát, tự ti với cách thực hiện như thế
này cũng có kết quả khả quan. Còn đối với những em có khả năng tiếp thu kiến
thức, kỹ năng và có năng lực tốt thì đôi lúc còn tạo cho giáo viên sự ngỡ ngàng
trước những cách làm hay. Với hướng đi ấy, tôi đã tạo cho các em tìm được một
con đường về cách học phân môn Luyện từ và câu nói riêng, các phân môn học
khác nói chung. Chẳng hạn như bài tập về dấu câu ở phân môn Luyện từ và câu
cũng đã có cách làm riêng theo từng kiểu bài như trên. Ở dạng bài tập này, nếu
có kiến thức chắc chắn, có sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung bài tập này với
nội dung bài tập kia thì chúng ta cũng tìm được đường đi đến kết quả một cách
chính xác và nhanh nhất. Điều đó được thể hiện rất rõ qua các lần khảo sát ở
biện pháp này.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Sự sáng tạo, linh hoạt trong việc tổ chức dạy các bài học hay việc tìm tòi,
tự học , tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ của giáo viên góp phần không nhỏ
trong việc nâng cao chất lượng dạy – học. Chính vì vậy, bản thân là một giáo
18
viên, tôi luôn trau dồi kiến thức và cũng đã trăn trở, suy nghĩ rất nhiều để tìm
ra phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực với một mục tiêu hướng tới là làm
sao cho giờ học có hiệu quả cao. Từ kinh nghiệm và kết quả thực tế cho thấy,
việc tổ chức thực hiện các giải pháp mà tôi đã nêu trong sáng kiến kinh nghiệm
ở các tiết học không mất nhiều thời gian mà vẫn đem lại kết quả tốt, các em tự
tin hơn khi làm các bài tập về dấu câu, sử dụng đúng các dấu câu khi đặt câu,
viết bài văn. Tôi hi vọng rằng những giải pháp tôi đã nêu trong sáng kiến sẽ
được nhân rộng, ứng dụng ở phạm vi rộng hơn chứ không chỉ trong phạm vi tổ
chuyên môn hay trong nhà trường.
3.2. Kiến nghị:
- Dạy học phải nghiên cứu và phân đối tượng, chia lớp nhỏ có đủ các đối
tượng, chú ý đến cách phân tích đề bài, hình thành cho HS thói quen đọc và xác
định yêu cầu bài tập. Từ đó đi phân tích, nêu cách thực hiện rồi hướng dẫn cách
làm.
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tạo điều kiện cho các em được hoạt
động, được trình bày ý tưởng của mình, tạo niềm tin cho các em giúp các em có
sự nỗ lực cố gắng vươn lên trong quá trình học tập.
- Đối với học sinh khó khăn về học cần cho HS thực hành nhiều trên bảng với
những dạng tương tự và cũng đi từ từ từng bước. Tạo sự mạnh dạn ở các em,
chỉ yêu cầu học sinh thực hiện cơ bản về cách làm chung.
- Đối với học sinh có kiến thức, kỹ năng, năng lực học tốt, GV yêu cầu HS suy
10. 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Văn- Tiếng Việt lớp 2,3,4,5
11. Bài tập rèn kĩ năng sử dụng dấu câu tiếng Việt cho học sinh Tiểu học.
12. 100 bài tập luyện cách dùng đúng dấu câu tiếng Việt (Dành cho học sinh
Tiểu học).
20
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Cao Thanh Quỳnh
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Vệ 1
TT
1.
2.
Tên đề tài SKKN
Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả khi dạy yếu tố
hình học cho học sinh lớp 1
Vận dụng trò chơi học tập
trong dạy- học môn Lịch sử
và Địa lí lớp 4- Phần Lịch sử
Cấp đánh
giá xếp loại