BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN QUANG HÙNG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2014
Vinh, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN QUANG HÙNG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔTHÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành
Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học
TS. Hoàng Mạnh Hùng
Nghệ An, 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………… 1
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………1
2.2.3. Rèn kỹ năng làm văn NLXH cho học sinh qua việc chấm, trả bài
làm văn…………………………………………………………………………97
2.2.4. Rèn kỹ năng làm văn NLXH cho học sinh thông qua các tài liệu
tham khảo…………………………………………………………………… 105
2.2.5. Rèn kỹ năng làm văn NLXH cho học sinh THPT qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp…………………………………………………………. …. 108
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………… 113
3.1. Mục đích của quá trình thực nghiệm sư phạm………………………… 113
3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm………………………………….113
3.3. Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm……………………… 114
3.4. Thiết kế giáo án thực nghiệm…………………………………………… 117
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm………………………………………… 132
KẾT LUẬN………………………………………………………………… 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… 140
PHỤ LỤC…………………………………………………………………….146
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngày nay, tri thức đã trở thành nguồn lực quan trọng có ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam. Giáo dục chính là nền tảng của sự phát triển khoa học, công nghệ,
phát triển nguồn nhân lực, đồng thời, là chìa khóa để mở cánh cửa tri thức
nhân loại. Để thích ứng và đáp ứng được các yêu cầu của thời đại, chúng ta
đã, đang thực hiện công cuộc đổi mới một cách căn bản, toàn diện ngành giáo
dục. Trong đổi mới giáo dục, việc đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các
cấp học, bậc học, các môn học nói chung và ở trường trung học phổ thông
(THPT), ở môn Ngữ văn nói riêng được xem là trọng yếu. Đổi mới phương
pháp dạy học phải hướng tới việc phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của người học trong quá trình khai thác, khám phá, chiếm lĩnh
tri thức của nhân loại, đồng thời định hướng, trang bị cho người học phương
văn và văn NLXH trong trường THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Ngay từ khi văn nghị luận (bao gồm nghị luận văn học và nghị
luận xã hội) được đưa vào dạy học trong trường phổ thông, đã nhận được sự
quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, cấp độ, thậm chí dưới nhiều quan điểm
khác nhau. Nghiên cứu về văn nghị luận có rất nhiều công trình, ở đây, chúng
tôi chỉ điểm qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trước tiên, phải kể đến cuốn Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy
tập làm văn cấp III, do tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Tuý biên soạn in
năm 1980. Cuốn sách đã trình bày khá cụ thể về văn nghị luận như xác lập
khái niệm, các đặc trưng, đồng thời tác giả đã đưa ra các căn cứ để phân loại
văn nghị luận trong trường phổ thông: từ góc độ nội dung, văn nghị luận bao
2
gồm hai loại là văn nghị luận chính trị, xã hội và văn nghị luận văn học; từ
góc độ kiểu bài, văn nghị luận bao gồm kiểu bài chứng minh, giải thích, bình
luận, phân tích, bình giảng. Bên cạch đó, các tác giả cũng làm rõ mục đích,
yêu cầu, đồng thời khái quát phương pháp dạy học môn Tập làm văn nghị
luận ở trường phổ thông. Phần lớn dung lượng cuốn sách được dành để đi vào
định hướng cách làm các kiểu bài trong văn nghị luận. Những định hướng
kiến thức và kỹ năng ở mỗi kiểu bài đều được tác giả dẫn giải, minh chứng
bằng những vấn đề cụ thể trong cả văn nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
Có thể thấy, đây là công trình nghiên cứu công phu và hữu ích đối với việc
dạy học văn nghị luận nói chung và văn NLXH nói riêng trong trường phổ
thông.
Tác giả Lê Đình Mai trong cuốn Để làm tốt các kiểu bài văn nghị luận,
xuất bản năm 1995, đã đưa ra cách hiểu khái quát về văn nghị luận trong nhà
trường như khái niệm, đặc điểm, yêu cầu chung. Bên cạch đó, tác giả cũng
đưa ra những hướng dẫn cụ thể cách làm các kiểu bài trong văn nghị luận như
kiểu bài chứng minh, kiểu bài giải thích, kiểu bài bình luận, kiểu bài phân tích
làm một bài văn nghị luận. Điều nhận thấy ở công trình nghiên cứu này, tác
giả đã triển khai nhiều vấn đề khi bàn đến văn nghị luận, vì thế, phạm vi nội
dung cuốn sách khá rộng, giúp cho cả người dạy và người học văn trong
trường phổ thông có thể tham khảo, học hỏi được những kiến thức và kỹ năng
thiết yếu.
Năm 2010, các tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh
Huyền đã đề cập đến văn nghị luận xã hội trong trường THPT qua cuốn sách
Dạy và học nghị luận xã hội. Theo các tác giả: “Nghị luận xã hội là một loại
văn bản không có gì xa lạ trong nhà trường phổ thông, nhưng lâu nay chưa
4
được chú ý đúng mức trong các kì thi, kiểm tra, đánh giá”, “Với chương trình
và sách giáo khoa Ngữ văn mới, NLXH đã được chú ý một cách toàn diện
hơn từ THCS đến THPT” [56; 3]. Trong cuốn sách, các tác giả đã khái quát
những kiến thức chung nhất về nghị luận xã hội như khái niệm, các yêu cầu
của một bài văn NLXH, các dạng đề và cách làm bài NLXH. Phần lớn dung
lượng của cuốn sách đã được tác giả dành cho việc giới thiệu các đề văn
NLXH. Những kiến thức và kỹ năng trong sách đã bám sát chương trình và
sách giáo khoa Ngữ văn THPT, đồng thời, đã định hướng khá rõ, khá trọng
tâm về văn NLXH cho cả người dạy và người học.
Gần đây nhất, năm 2012 các tác giả Nguyễn Xuân Lạc (chủ biên),
Đặng Hiền trong cuốn sách Để làm tốt bài văn nghị luận xã hội cũng đã đi
vào bàn đến văn NLXH trong trường THPT. Đây là cuốn sách được biên soạn
theo hướng thực hành khi các tác giả định hướng nhận diện các dạng bài
NLXH được dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT, các dạng đề văn
NLXH trong đề thi Tốt nghiệp THPT và thi Tuyển sinh vào Đại học - Cao
đẳng. Bên cạch đó, các tác giả cũng đi vào hướng dẫn cách làm bài văn
NLXH với các yêu cầu cụ thể về luận điểm, luận cứ, cách viết và các kỹ năng
tạo lập một bài văn, các thao tác lập luận vận dụng trong văn NLXH cùng với
việc giới thiệu, tuyển chọn hệ thống các đề văn về NLXH. Tuy dung lượng
sinh còn hạn chế. Phần lớn các sách tham khảo khi viết về văn NLXH chủ yếu
vẫn đi theo hướng dẫn giải các đề văn, mà ít chú trọng đến phương pháp dạy
và học văn NLXH, ít chú trọng tới việc định hướng quá trình viết văn, ít chú
trọng tới việc rèn các kỹ năng làm văn NLXH cho học sinh, điều này, đã gây
ra không ít khó khăn cho cả người dạy và người học Làm văn NLXH trong
trường THPT.
6
Từ việc điểm lại các công trình đã nghiên cứu về văn nghị luận nói
chung và văn nghị luận xã hội nói riêng, chúng tôi hy vọng, công trình nghiên
cứu của mình sẽ đi vào giải quyết thật cụ thể thực trạng dạy học văn NLXH
trong trường THPT hiện nay, đồng thời, đề xuất những biện pháp và giải pháp
thiết thực để nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học văn NLXH.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là rèn luyện kỹ năng làm văn
NLXH cho học sinh ở trường THPT.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là phần văn NLXH trong
chương trình Ngữ văn THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trong luận văn này, chúng tôi nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
4.1. Tổng hợp, khái quát những kiến thức và kỹ năng về văn nghị luận
đặc biệt là về văn NLXH, để hướng tới việc trang bị, rèn luyện kỹ năng làm
văn NLXH cho học sinh THPT.
4.2. Tìm hiểu vị trí, vai trò của văn NLXH và làm rõ thực trạng dạy
học, rèn luyện kỹ năng làm văn NLXH trong trường THPT hiện nay.
4.3. Đề xuất các hình thức và biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn
NLXH cho học sinh THPT.
4.4. Đề xuất phương án thực nghiệm, các giáo án thực nghiệm, để rèn
luyện kỹ năng làm văn NLXH cho học sinh THPT.
4.5. Đánh giá hiệu quả bước đầu của đề tài nghiên cứu, đưa ra kết luận
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
8
Chương1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái quát về văn nghị luận xã hội
1.1.1.1. Văn nghị luận
a. Khái niệm
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ một
vấn đề nào đó. Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn
đề” [36; 705 ].
Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt: “Nghị luận là dùng lí luận để phân
tích ý nghĩa phải trái, bàn bạc, mở rộng vấn đề” [25; 450].
Theo tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Túy trong Tài liệu tham khảo
hướng dẫn giảng dạy tập làm văn cấp III phổ thông tập 1: “Văn nghị luận là
một loại thể văn học dùng lý luận (bao gồm lý lẽ và dẫn chứng) để làm sáng
tỏ một vấn đề thuộc về chân lý nhằm làm cho người đọc và người nghe hiểu
và tin vào vấn đề, có thái độ và hành động đúng trước vấn đề đó” [26; 5].
Trong cuốn Rèn kĩ năng làm văn nghị luận, Bảo Quyến cho rằng: “Văn
nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý kiến
của mình bằng cách dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một
vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng
tình với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề
xuất” [40; 5].
Tác giả Nguyễn Quốc Siêu trong Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông,
quan niệm: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích
lí lẽ. Nó tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thúc tư duy lôgic
như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí
lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với
kiểu bài giải thích, kiểu bài bình luận, kiểu bài phân tích, kiểu bài bình
giảng…
Tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Túy trong Tài liệu tham khảo
hướng dẫn giảng dạy tập làm văn cấp III tập 1, cũng cho rằng, việc phân loại
trên chỉ mang tính chất tương đối, vì: “Thực tế giảng dạy và học tập làm văn
nghị luận ở nhà trường phổ thông cũng có xuất hiện loại văn nghị luận trung
gian, hỗn hợp nằm giữa hai loại nghị luận chính trị xã hội và nghị luận văn
học” [26; 13]. Việc phân chia văn nghị luận thành các kiểu bài nhằm: “Giúp
cho học sinh trong việc tập dượt các thao tác, các kỹ năng tập làm văn nghị
luận: thao tác kỹ năng chứng minh, thao tác kỹ năng giải thích, thao tác kỹ
năng bình luận…” [26; 12].
Trên tinh thần thay đổi chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
(bắt đầu năm 2006 ở lớp 10), văn nghị luận là một trong sáu kiểu văn bản
quan trọng được dạy - học ở trường THPT (tiêu chí phân loại văn bản theo
phương thức biểu đạt) đó là: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận,
hành chính - công vụ. Văn nghị luận cũng là kiểu văn bản được dạy học
xuyên suốt, tiếp nối từ THCS đến THPT nhưng được coi là trọng tâm ở
chương trình Làm văn THPT. Văn nghị luận gồm hai loại, đó là nghị luận văn
học, nghị luận xã hội, trong mỗi loại nghị luận lại có những dạng bài khác
nhau:
- Nghị luận văn học gồm:
+ Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ;
+ Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi;
+ Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học;
- Nghị luận xã hội gồm:
+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lý;
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống;
11
vấn đề được đặt ra rất gần gũi, cụ thể, thiết thực với con người trong cuộc
sống như quan niệm về tình yêu, tình bạn, việc học tập, chọn nghề… Nếu đối
tượng nghị luận của văn nghị luận văn học (NLVH) chủ yếu là các vấn đề về
văn học trong phạm vi nhà trường, thì đối tượng nghị luận của văn NLXH lại
hướng người học đến phạm vi, đến các vấn đề của hiện thực đời sống xã hội.
Học văn NLVH trong nhà trường, người học được tiếp cận với cuộc sống qua
lăng kính sáng tạo của nhà văn, thì học văn NLXH người học được trực tiếp
trải nghiệm với cuộc đời qua lăng kính của chính mình.
Thứ hai: Đặc trưng nổi bật trong văn NLXH là tính “thời sự”. Hầu như
tất cả các vấn đề “nổi cộm”, “nóng bỏng”, “báo động”… đang diễn ra trong
xã hội, được dư luận quan tâm đều có thể trở thành đối tượng nhận diện, phản
ánh, bàn luận kịp thời của văn NLXH. Nhờ tính “thời sự”, văn NLXH có khả
năng phản ánh chính xác, trung thực các hiện tượng, vấn đề xảy ra trong xã
hội, từ đó đánh thức người học thái độ quan tâm đến đời sống xã hội, đánh
thức, trang bị cho người học tư duy nhạy bén với cuộc sống. Đặc trưng này,
đã tạo cho văn NLXH sự hấp dẫn, mới mẻ.
Thứ ba: Xuất phát từ đối tượng nghị luận, văn NLXH có những đặc
trưng riêng, đòi hỏi riêng, yêu cầu riêng trong cách thức nghị luận và phương
thức biểu đạt. Khi làm văn NLXH, người viết phải có cái nhìn bao quát, bám
sát hiện thực đời sống để không bị động, lúng túng trước vấn đề xã hội cần
bàn luận; đồng thời, người viết cũng phải có vốn sống và sự trải nghiệm cuộc
sống để có cách nhìn nhận, lý giải, đánh giá vấn đề xã hội một cách thấu đáo,
đa chiều, khách quan, đúng mực. Bên cạnh đó, khi làm văn NLXH người viết
phải biết chủ động bày tỏ tư tưởng, ý kiến, quan điểm đánh giá của bản thân
trước một vấn đề, một hiện tượng xã hội đang diễn ra trong đời sống, thậm
chí, trước một quan niệm, một thái độ… của người khác, của xã hội. Bài văn
13
nghị luận xã hội thuyết phục người đọc trước hết ở quan điểm lập luận của
người viết trước vấn đề xã hội cần bàn luận: là khẳng định hay phủ định, đồng
kiến thức từ hai phân môn Đọc hiểu và Tiếng Việt, đồng thời biết vận dụng
kiến thức tiếp thu từ nhiều nguồn khác nhau như kiến thức các môn học tự
nhiên, kiến thức các môn học xã hội, kiến thức từ thực tế cuộc sống “Khi
xây dựng văn bản làm văn, người viết văn phải biết đảm bảo, kết hợp chặt chẽ
và nhuần nhuyễn giữa tính nghệ thuật, tính hình tượng, tính thẩm mỹ, tính
sáng tạo… của Văn; tính khoa học chuẩn, tính chính xác của tiếng Việt; tính
quy phạm của phương pháp giáo dục; tính phong cách cá nhân… trong việc
tạo lập nên tất cả các loại văn bản” [39; 18]. Bài làm văn của học sinh là sự
phản ánh rõ nhất, đầy đủ nhất, quan trọng nhất quá trình nhận thức, lĩnh hội
tri thức, đồng thời đánh dấu năng lực vận dụng, thực hành, khả năng sáng tạo,
linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ. Làm văn không chỉ là quá trình người học
tái hiện, phát hiện lại những tri thức đã tiếp nhận, lĩnh hội từ hoạt động dạy -
học trên lớp, mà còn là quá trình người học chủ động, phát hiện, sáng tạo
thêm những điều mới mẻ khác. Vì thế, mỗi bài văn là một sản phẩm sáng tạo
tinh thần của chủ thể người học, là nơi người học gửi gắm tâm hồn, tình cảm,
tư tưởng của chính mình.
1.1.2.2. Các kỹ năng làm văn cơ bản
a. Các kỹ năng chung
Trong dạy học Làm văn nghị luận, người dạy trước hết phải trang bị,
hình thành cho người học các kỹ năng chung, đó là các kỹ năng: nghe, nói,
đọc, viết, phản hồi.
Trước đây, quá trình dạy học văn trong trường phổ thông chỉ chú trọng
tới việc dạy và học các văn bản nghệ thuật mà xem nhẹ vai trò, tác dụng của
15
các loại văn bản khác như văn bản nhật dụng, văn bản khoa học, văn bản hành
chính - công vụ Đồng thời, quá trình dạy học Làm văn chỉ chú trọng trang
bị cho người học kỹ năng viết văn bản, xem bài viết của người học là kết quả
đánh giá quan trọng chất lượng, hiệu quả của việc dạy - học văn trong nhà
trường. Quá trình dạy học Làm văn, thậm chí, đã tách rời phần Làm văn với
Trong Làm văn, kỹ năng tạo lập văn bản là kỹ năng rất quan trọng,
đồng thời cũng là kỹ năng khó đối với người học. Để tạo lập văn bản, người
viết phải biết tích hợp vận dụng kiến thức và kỹ năng, đồng thời phải linh
hoạt, sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ. Kỹ năng tạo lập văn bản trong làm
văn ở trường phổ thông, có thể hiểu là quá trình người học thực hành viết văn.
Kỹ năng tạo lập văn bản bao gồm nhiều nhóm kỹ năng như kỹ năng phân tích
đề văn, kỹ năng tìm ý và lập dàn ý, kỹ năng diễn đạt, trình bày, kỹ năng kiểm
tra, hoàn chỉnh bài viết. Tác giả Lê A trong cuốn Thực hành Làm văn lớp 12
khẳng định: “Mỗi nhóm kỹ năng có một vai trò và tác dụng riêng nhưng
chúng có liên quan chặt chẽ với nhau. Kỹ năng tìm hiểu, phân tích đề giúp
học sinh viết đúng hướng, tránh lạc đề. Kỹ năng tìm ý, lập dàn ý giúp bài viết
có ý, đủ ý và có bố cục, kết cấu bài văn hợp lý. Kỹ năng diễn đạt giúp học
sinh viết được bài văn hay, hành văn trôi chảy. Kỹ năng trình bày giúp học
sinh có bài văn sáng sủa, rành mạch, dễ đọc. Kỹ năng kiểm tra giúp phát hiện
và sửa chữa kịp thời những sai sót nhỏ để bài viết được hoàn chỉnh” [1; 5].
b1. Kỹ năng phân tích đề
Đề văn có thể xem là bản mật mã đầy bí ẩn đối với người làm văn, bởi
vì, đề văn có nhiều hình thức (đề tái hiện kiến thức, phát hiện kiến thức, đề
văn tự luận hoặc trắc nghiệm, đề ra theo kiểu truyền thống hoặc đề mở…); có
nhiều mức độ (khó, dễ); có phạm vi (rộng, hẹp) khác nhau; có nhiều loại
(nghị luận văn học, nghị luận xã hội)… với các yêu cầu rất đa dạng, phong
17
phú. Vì thế, phân tích đề văn là quá trình người viết đi giải mã các yêu cầu
của đề. Đây là kỹ năng cơ bản, nhưng rất quan trọng đối với người làm văn.
Kỹ năng phân tích đề giúp người viết đáp ứng được các yêu cầu của đề, tránh
việc lạc đề, lệch đề đồng thời giúp bài làm văn khai triển đúng hướng nghị
luận.
Trong thực tế dạy học Làm văn ở trường phổ thông, chúng ta hay đề
cập tới hai dạng đề văn cơ bản là đề văn thông thường (hay đề văn truyền
vỗ ngực rằng: “Ta là khổng lồ”.
* Những định hướng khi phân tích đề văn
Khi đối diện với đề văn, người viết cần có kỹ năng phân loại đề. Đối
với dạng đề văn thông thường, khi phân tích đề, người viết cần xác định được
ba yêu cầu cơ bản, đó là nội dung vấn đề cần bàn luận, thao tác nghị luận cần
sử dụng (thao tác chính, thao tác phụ trợ, kết hợp), phạm vi tư liệu, dẫn chứng
cần huy động và sử dụng. Để xác định cụ thể các yêu cầu của đề văn, người
viết cần chú ý tới những dấu hiệu có trong đề để nhận diện, bao gồm: nhận
diện thao tác nghị luận (hãy chú ý tới các cụm từ như phân tích, bình luận,
cảm nhận, hãy làm sáng tỏ, bày tỏ suy nghĩ, bày tỏ quan điểm, ý kiến của bản
thân…); nhận diện phạm vi tư liệu, dẫn chứng cần huy động (đối với đề văn
NLVH, cần chú ý tên tác phẩm được nhắc tới, đối với đề văn NLXH thì
đương nhiên dẫn chứng phải được sử dụng chủ yếu trong đời sống, xã hội).
Khi đối diện với đề văn “mở”, trước tiên người viết cần xác định loại
nghị luận của đề là NLVH hay NLXH; thứ đến, người viết cần bám vào gợi ý
trong đề để khoanh vùng tìm giới hạn vấn đề nghị luận (trong đề văn NLVH
cần chú ý tới gợi ý về tư liệu dẫn chứng, trong đề văn NLXH cần chú ý tới từ
“khóa” trong câu hay trong đoạn văn dẫn ở đề - “từ khóa” tức là từ bao quát ý
của câu nói hay đoạn văn, đồng thời “từ khóa” cũng chính là điểm gợi ý quan
19
trọng để người viết xác định và triển khai nội dung bài viết); đối với đề văn
“mở”, tùy theo loại đề, tùy theo vấn đề nghị luận mà người viết sử dụng thao
tác nghị luận thích hợp, thông thường khi làm đề văn “mở” người viết cần
biết phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Ví dụ: ở đề văn 1 (phần đề văn “mở”),
cần chú ý “từ khóa” để xác định yêu cầu nội dung nghị luận trong bài viết là
“hỏi”, ngoài ra cần chú ý tới những từ gợi ý khác trong đề văn để có thể hình
thành nội dung cho bài viết như: “nhiều câu hỏi”, “ham hỏi”, “ngại hỏi”.
Đồng thời, khi phân tích đề văn, người viết cần có kỹ năng đọc lướt đề
để nắm bắt nhanh các yêu cầu của đề, đọc kỹ để “phân tích” (tránh việc xác
“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại
núi e sông”.
Gợi ý. Trong câu nói của Nguyễn Bá Học cần chú ý các hình ảnh biểu
tượng như đường đi khó, ngăn sông cách núi (chỉ những khó khăn, trở ngại
trong cuộc sống), ngại núi e sông (chỉ sự thiếu quyết tâm, thiếu kiên định);
chú ý mối quan hệ ngữ pháp chính phụ giữa hai vế của câu nói: vế sau từ mà
là nội dung chính cần xem xét, bàn luận trong bài viết.
Ví dụ 3. Bàn về kinh nghiệm chọn người cộng sự trong công việc,
Glinka nói: “Nếu bạn cần người hợp tác thì bạn hãy chọn người vừa làm vừa
hát”.
Anh/chị có suy nghĩ gì về bài học kinh nghiệm trên? Từ bài học ấy,
anh/chị rút ra được điều gì cho chính bản thân mình?
Gợi ý. Trong đề văn này người viết cần chú ý tới các từ ngữ có ý biểu
tượng để xác định nội dung vấn đề nghị luận như: người hợp tác - tức là
người cùng tham gia, góp sức, đồng hành trong một công việc nào đấy; người
vừa làm vừa hát - chỉ người lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống đồng thời có
năng lực tinh thần mạnh mẽ. Nội dung vấn đề cần nghị luận là: bài học kinh
21