A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài:
Nghị luận so sánh văn học là một kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ
trong cơ cấu bài văn thi đại học của học sinh. Đây là kiểu bài mới, được áp dụng kể
từ khi thay sách nên không ít giáo viên còn lúng túng khi giảng dạy. Bởi lẽ, hầu hết
giáo viên ra trường trước năm 2006 ít được tiếp cận kiểu bài này, còn những giáo
viên ra trường sau kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế . Mặt khác, dạng đề
này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững vàng, năng lực cảm nhận tác phẩm văn
chương sâu rộng và nhận định dề tinh nhạy để trình bày. Do đó, cách học thuộc bài,
học theo lối mòn sẽ không phát huy được tác dụng. Trước thực trạng trên, bằng
kinh nghiệm của bản thân và sự nghiên cứu tài liệu tôi mạnh dạn đề xuất một giải
pháp giúp học sinh THPT làm tốt dạng bài này trong quá trinh ôn tập thi học sinh
giỏi, đại học.
II. Mục đích nhiệm vụ của đề tài:
II.1. Về kiến thức :
Nắm được những định hướng chung về cách làm bài nghị luận so sánh cho học
sinh lớp 12 giúp các em làm bài hiệu quả và chất lượng.
Nội dung và phương pháp làm kiểu bài so sánh văn học. Đưa ra một số giải
pháp mang tính định hướng cho học sinh vận dụng trong quá trình giải quyết các đề
bài nghị luận văn học kiểu bài so sánh thường gặp.
II.2. Về kĩ năng:
Nhận diện đề, lập dàn ý, thiết kế đề kiểm tra đánh giá môn ngữ văn theo
hướng đổi mới.
II.3. Về thái độ :
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn.
Đổi mới quan niệm đánh giá kết quả học tập của học sinh, tăng cường rèn
luyện kĩ năng
III. Phương pháp nghiên cứu:
Làm đề tài này, tôi đã vận dụng những phương pháp sau đây:
Phương pháp thống kê , nêu ví dụ.
Phương pháp thực nghiệm.
sinh đạt được còn khiêm tốn.
II. 3. Thực trạng ra đề thi :
Nghị luận so sánh là một kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ trong cơ cấu
bài văn thi đại học những năn gần đây. Đây là kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa
bằng một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó
ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định
hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ những khó khăn
trên, bài viết này xin đưa ra một số gợi ý để giúp cho các em ôn tập tốt trong các kì
thi.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
III.1. Những kiến thức cơ bản về kiểu bài so sánh :
Trang 2
Khái niệm so sánh văn học cần được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau. Thứ
nhất, so sánh văn học là "một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn". Thứ
hai, nó được xem như một thao tác lập luận như : phân tích, bác bỏ, bình luận đã
được đưa vào chương trình giáo khoa ngữ văn lớp 11. Thứ ba, nó được xem như
"một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận, tức là như một
kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ ;
nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi ở sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12.
Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học chưa được cụ thể
bằng một bài học độc lập. Vì vậy, việc xác lập nội hàm khái niệm như kiểu bài,
mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết.
Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiều bình
diện : đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật,
nghệ thuật trần thuật, phong cách nghệ thuật Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra
ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác
phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học. Mục đích
cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ ra được chỗ giống và khác nhau
giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó thấy được những mặt kế thừa, những điểm
cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm ; thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác
lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích).
2. Làm rõ đối tượng thứ hai ( bước này thực hiện các thao tác như phần trên)
3. So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình
diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này cần vận dụng nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh).
4. Lí giải sự khác biệt : Thực hiện thao tác này cần dựa vào ba tiêu chí cơ bản
sau:
- Bối cảnh xã hội, lịch sử, văn hóa - môi trường tồn tại của đối tượng nghị
luận.
- Tư tưởng, phong cách của nhà văn.
- Đặc trưng thi pháp của thời kì văn học
Bước này cần vận dụng nhiều thao tác lập luận phân tích nhưng chủ yếu là
thao tác lập luận phân tích.
KẾT BÀI
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Nêu những cảm nghĩ của bản thân
III.3. Kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án câu III.a - Đề thi
tuyển sinh Đại học - Cao đẳng năm 2009, khối C như sau :
Câu III.a. Theo chương trình chuẩn (5.0 điểm)
Trang 4
Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt
(Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa -
Nguyễn Minh Châu).
Mục đích và yêu cầu của kiểu bài này là người viết trên cơ sở cảm nhận được cái
hay về nội dung và vẻ đẹp về nghệ thuật của hai đoạn văn, so sánh để thấy được sự
khác nhau của hai đoạn văn đó trên cả bình diện nội dung và nghệ thuật để từ đó
thấy được sự giống và khác nhau trong phong cách nghệ thuật cũng như sự đóng
góp của hai nhà văn đó cho nền văn học nước nhà. Cụ thể
MỞ BÀI
Giới thiệu khái quát về đối tượng so sánh
can đảm, cứng cỏi. (dẫn chứng)
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ
đời. (dẫn chứng)
3. So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện
nội dung và hình thức nghệ thuật :
- Tương đồng : Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của
hoàn cảnh. Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm
khất lấp. Cả hai đều khắc họa bằng những chi tiết chân thực
- Khác biệt : Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là phẩm
chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn
đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở nhân vật người đàn bà hàng chài là những
phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy
kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình
4. Lí giải sự khác biệt : Thực hiện thao tác này cần dựa trên ba tiêu chí cơ bản
như đã nói ở phần trên.
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến
đổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà hàng chài lại
tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại (cảm hứng thế sự - đời
tư trong khuynh hướng nhận thức lại)
+ Sự khác biệt giữa con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con người đa
dạng phúc tạp (Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này.
KẾT BÀI
- Khái quát những nét giống và khác nhau tiêu biểu và nêu những cảm nghĩ của
bản thân. (Học sinh dựa vào gợi ý trên để viết kết bài. Có nhiều cách kết bài khác
nhau, hướng dẫn trên chỉ có tính chất tham khảo)
Trang 6
Bảng so sánh trên đây chỉ ra rằng, dàn bài khái quát mà tôi đề xuất về cơ bản đã
thể hiện được một cách tuần tự hệ thống ý trong đáp án của đề thi tuyển sinh Đại
học - Cao đẳng khối C năm 2009. Tiếc rằng, trong đáp án của đề thi tuyển sinh Đại
học - Cao đẳng khối C năm 2009 lại chưa yêu cầu so sánh về nghệ thuật xây dựng
này được cụ thể hóa bằng một hệ thống dàn ý chi tiết sau :
a/ Yêu cầu về kĩ năng :
Sử dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích bình luận.
b/ Yêu cầu về kiến thức :
- Cần chỉ ra sự thống nhất trong phong cách của nhà văn trong cả quá trình sáng
tác.
- Chỉ ra những thay đổi đáng kể trong phong cách nghệ thuật ở giai đoạn sáng
tác sau đó.
- Lí giải nguyên nhân cụ thể về sự thay đổi đó.
(Yêu cầu học sinh cần nhớ trong chương trình Ngữ văn THPT có ba tác gia : Tố
Hữu ; Hồ Chí Minh ; Nguyễn Tuân là có thể so sánh ở kiểu bài này).
Đối với kiểu bài so sánh về sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ
thuật của một nhà văn ở hai giai đoạn sáng tác sẽ có hai dạng đề.
Dạng thứ nhất:
Đề bài :
Anh/chị hãy nêu sự giống nhau và thay đổi trong phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng tám 1945.
Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh tái hiện kiến thức cơ bản trong bài giới
thiệu về tác gia Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn 12 nâng cao. Việc nắm
vững kiến thức cơ bản này sẽ là chìa khóa để học sinh hiểu được những tác phẩm
của Nguyễn Tuân.
MỞ BÀI
Giới thiệu khái quát về Nguyễn Tuân trong đời sống văn học nước nhà.
THÂN BÀI
* Luận điểm 1: Nét chung trong phong cách nghệ thuật
- Cái Tôi "Tài hoa - Uyên bác - Độc đáo"
- Tiếp cận cảnh vật nghiêng về góc độ văn hóa thẩm mỹ, cảnh tráng lệ, có
tính cách sinh động, cảnh thường đập mạnh vào giác quan.
- Tiếp cận con người nghiêng về góc độ tài hoa nghệ sĩ, đó là những con
người hội tụ cả : Tài - Tâm - Khí phách mà Nguyễn Tuân gọi đó là "Thiên lương"
cho nền văn học nước nhà.
KẾT LUẬN
Nêu ấn tượng của bản thân về tác giả Nguyễn Tuân.
Dạng thứ 2:
Đề bài :
Trang 9
(1). "Biết đọc vỡ sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của
viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối
do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn
khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có
một báu vật trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất thì ân hận suốt đời" (Chữ
người tử tù)
(2). "Ông lái đò nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc
quy luật phục kích của lũ đá nơi cửa ải( ) Cưỡi lên thác sông đà, phải cưỡi đến
cùng như cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hùng hục tế mạnh trên sông đá. Nắm
chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy
luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường thẳng chéo
về phía cửa đá ấy đứa thì ông đò đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến.
(Người lái đò sông Đà)
Từ hai đoạn văn trên, anh/chị hãy chỉ ra sự thống nhất và thay đổi trong
phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám
1945.
Mục đích của kiểu bài này là học sinh vận dụng kĩ năng cảm nhận cái hay,
cái đẹp của hai đoạn văn và từ đó vận dụng thao tác lập luận phân tích, so sánh để
làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân ở hai thời kì sáng tác qua hai đoạn trích văn bản cụ thể.
Ta có thể xây dựng một dàn ý với những yêu cầu sau :
MỞ BÀI
Dẫn dắt và giới thiệu về hai đoạn trích, từ đó khẳng định cả hai đoạn văn
trên đều thể hiện được tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
+ Sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa làm cho cảnh vật sống
động.
* Luận điểm 4: Lí giải về sự khác nhau :
- Hoàn cảnh xã hội và đặc điểm thẩm mỹ, đặc điểm thi pháp có sự thay đổi :
văn học sau 1945 mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Tình cảm của nhà văn đã có sự thay đổi, không còn "bất mãn" như trước
1945.
* Luận điểm 5: Đánh giá : Khẳng định sự đóng góp to lớn của Nguyễn Tuân
cho nền văn học nước nhà.
KẾT LUẬN
Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu, đồng thời nêu cảm
nghĩ của bản thân.
Trang 11
III.4.2. So sánh về phong cách nghệ thuật của hai nhà văn:
Mục đích của kiểu bài này là giúp học sinh thấy được những điểm giống
nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật của hai nhà văn trong một giai
đoạn sáng tác, thấy được sự đóng góp của họ cho nền văn học nước nhà trong giai
đoạn đó. Để làm một cách có hiệu quả và thống nhất, người viết cần đáp ứng được
một số yêu cầu cơ bản sau.
a/ Yêu cầu kĩ năng : Sử dụng thao tác phân tích, bình luận, so sánh.
b/ Yêu cầu kiến thức :
- Cần chỉ ra sự thống nhất trong phong cách nghệ thuật của hai nhà văn trong
quá trình sáng tác.
- Chỉ ra những nét khác biệt trong phong cách nghệ thuật của hai nhà văn.
- Lí giải nguyên nhân của sự khác biệt.
- Đánh giá về sự đóng góp của hai nhà văn cho nền văn học.
Ví dụ :
Đề bài.
(1). "Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi
lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có
khác nhau để miêu tả sự vật (dẫn chứng và phân tích).
+ Ngôn ngữ : Uyên bác, sắc sảo, tài tình (dẫn chứng và phân tích).
- Phân tích đoạn văn (2) :
+ Tiếp cận cảnh vật nghiêng về góc độ văn hóa lịch sử (dẫn chứng và phân
tích)
+ Thể hiện cái tôi trữ tình đậm nét : Sự say mê tìm tòi, quan sát, tích lũy
(Dẫn chứng và phân tích).
+ Bút pháp miêu tả : Sử dụng nhiều biện pháp : So sánh, liệt kê (dẫn chứng và
phân tích)
+ Ngô ngữ : Sử dụng lời văn thật đẹp, thật sang (dẫn chứng và phân tích)
* Luận điểm 4: Lí giải về sự khác biệt :
- Hoàn cảnh sống, hoàn cảnh sáng tác.
- Quan điểm thẩm mỹ :
+ Nguyễn Tuân không thích sự hời hợt bằng phẳng mà thích cái đẹp phải nổi
loạn.
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường : Yêu cảnh sắc thiên nhiên gắn với truyền thống văn
hóa, lịch sử được viết bằng ngòi bút thật đẹp, thật sang
* Luận điểm5: Đánh giá về sự đóng góp của hai tác giả trên cho nền văn học
nước nhà giai đoạn 1945 - đến nay.
Trang 13
KẾT LUẬN :
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau cơ bản.
- Nêu cảm xúc của bản thân.
III.4.3. So sánh về phong cách nghệ thuật của hai nhà thơ:
Đây là một dạng đề khó, thường dành cho đối tượng theo học chương trình
nâng cao, yêu cầu học sinh tích hợp được kiến thức một cách khoa học không
những chỉ làm sáng tỏ được vẻ đẹp của văn bản mà còn chỉ ra được những nét
giống nhau và khác nhau, lí giải được nguyên nhân của sự khác nhau đó. Nhưng về
cơ bản, kiểu bài này áp dụng một cách đầy đủ những yêu cầu của dàn ý khái quát
đã trình bày ở phần trên.
thuật truyền thống) và biện pháp tu từ ẩn dụ.
* Luận điểm 3: Khái quát về sự khác nhau :
- Phân tích đoạn thơ (1)
+ Thể hiện được bản chất của sự tương tư : một tình yêu đơn phương, có sự
nhớ nhung và trách móc.
+ Nghệ thuật : Mượn hình ảnh ước lệ và sử dụng một cách sáng tạo thành
ngữ. Có sự ảnh hưởng sâu sắc của thơ mới.
- Phân tích đoạn thơ (2)
+ Bộc lộ rõ tình cảm của người con gái trong tình yêu : Nỗi nhớ người yêu,
khẳng định một tình yêu chung thủy son sắc.
+ Nghệ thuật : Xây dựng hai hình tượng sóng đôi (Sóng và Em), sử dụng biện
pháp nghệ thuật nhân hóa và so sánh.
* Luận điểm 4: Giải thích về sự giống nhau và khác nhau.
- Nguyễn Bính :
+ Là người nhạy cảm với thời đại đầy biến động, trong đó những nề nếp
nghìn đời sau lũy tre xanh đang bị lung lay trước sự xâm nhập của cuộc sống đô
thị. Nguyễn Bính là một nhà thơ mới nhưng lại trở về đào sâu vào truyền thống văn
hóa dân gian nên đã đem đến cho thơ một vẻ đẹp chân quê.
+ Tương tư sáng tác trước cách mạng tháng Tám 1945 nên có sự ảnh hưởng
sâu sắc của thơ mới lãng mạn.
- Xuân Quỳnh :
+ Thể hiện một tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn
nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng bình dị
về hạnh phúc đời thường.
+ Bài thơ Sóng sáng tác lấy cảm hứng từ chuyến đi vè vùng biển Diêm Điền
(Thái Bình), trước những con sóng biển đã gợi cảm hứng cho tác giả, đồng thời bài
thơ có sự ảnh hưởng của cảm hứng lãng mạn sau cách mạng tháng Tám 1945.
Trang 15
* Luận điểm 5: Đánh giá : Cả hai nhà thơ đã có sự đóng góp tích cực cho thơ
ca ở hai thời kì trước và sau cách mạng tháng Tám 1945.
Trang 16
- Hình tượng ánh sáng : Biểu tượng cho cái Đẹp, cái Dũng, cái Thiên Lương
của con người. Cái đẹp bao giờ cũng chiến thắng. (Dẫn chứng)
- Hình tượng bóng tối : Biểu tượng cho sự tàn bạo, dơ bẩn của xã hội phong
kiến suy đồi. Sự xấu xa đê tiện cái thấp hèn. (Dẫn chứng)
- Nghệ thuật : Ẩn dụ, giọng văn trang nghiên cổ kính (Dẫn chứng)
* Luận điểm 3: So sánh sự giống nhau và khác nhau trên cả bình diện nội
dung và hình thức nghệ thuật.
- Giống nhau : Đều sử dụng hình tượng ánh sáng và bóng tối để tạo ý đồ riêng
cho sáng tạo nghệ thuật. Đều sử dụng biện pháp nghệ thuật đối lập. Hình tượng
bóng tối đều nói về cái âm u, tù túng, xấu xa ngột ngạt của xã hội. Ánh sáng đều
hướng con người đến cái cao thượng, vươn tới những khát vọng cao đẹp.
- Khác biệt :
+ Nguyễn Tuân : Hình tượng ánh sáng và bóng tối vừa có sự đối lập, vừa có
sự bổ sung, nâng đỡ, đồng thời có sự chuyển hóa từ bóng tối ra ánh sáng.
+ Thạch Lam : Bóng tối vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho cuộc sống tù đọng
bế tắc, quẩn quanh nơi phố huyện vừa được sử dụng như một phông nền chính làm
nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm.
* Luận điểm 4: Lí giải về sự khác biệt.
- Nguyễn Tuân : Cảm hứng thẩm mỹ bắt nguồn từ cái đẹp lớn lao, cao cả, bi
hùng hoặc mô tả những con người có nhân cách lớn nên dựa trên thủ pháp nghệ
thuật đối lập gay gắt, ánh sáng và bóng tối cũng được sử dụng nhằm miêu tả những
tương phản mạnh mẽ, những chuyển biến bất ngờ, đột ngột. Đó vừa là một thủ
pháp trong xây dựng tình huống truyện, vừa là sự dẫn dắt đi đến kết thúc của sự
chiến thắng giữa chân lí, cái đẹp với cái xấu, cái ác.
- Thạch Lam : Chú ý đến cái bình dị, nhỏ nhoi trong cuộc sống nên ánh sáng
và bóng tối trong tác phẩm của ông không có sự chuyển biến dữ dội, bất ngờ.
KẾT BÀI :
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có thể nêu cảm nghĩ của bản thân.
Tỉ
lệ %
Điểm
9 - 10
Tỉ
lệ %
42 0 0 22 52 20 46 1 2
Đặc biệt học sinh Thiều Việt Hà đạt 9 điểm, Phạm Thu Trang 8.5 điểm,
Nguyễn Thị Xuyên 8.5 điểm, Nguyễn Thị Xuân 8.5 điểm, Đoàn hoàng Ly Quân 8,5
điểm.
Trong kì thi chọn học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh, đội tuyển bộ môn
Ngữ văn của nhà trường do tôi phụ trách, kết quả thu được như sau : 3 giải nhất, 5
giải nhì ; 2 giải ba.
Những kết quả trên là cơ sở để khẳng định cho việc áp dụng những phương
pháp trên là có hiệu quả và phù hợp cho tình hình dạy học hiện nay và phù hợp
đối với việc ôn tập cũng như xu hướng ra đề thi trong các kì thi thi tốt nghiệp, thi
vào Đại học và Cao đẳng trong thời gian tới.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Dạng đề bài nghị luận văn học kiểu bài so sánh bốn năm gần đây đã trở nên
quen thuộc đối với học sinh trong các kì thi Đại học Cao đẳng và các kì thi học sinh
giỏi cấp Quốc gia, cấp tỉnh. Mặc dù vậy các em cũng gặp không ít những khó khăn
Trang 18
trong quá trình triển khai các thao tác nghị luận để bài viết thực sự có hiệu quả
thuyết phục. Đồng thời để các thầy giáo, cô giáo giảng dạy bộ môn này cũng có sự
thống nhất về phương pháp thì việc trao đổi chuyên môn trong tổ bộ môn phải được
tiến hành thường xuyên, rút ra những hạn chế còn tồn tại, tìm ra các giải pháp tốt
nhất để hướng dẫn cho từng loại đối tượng học sinh.
Bộ giáo dục cần có sự bổ sung trong chương trình Ngữ văn 11 bằng một bài học
cụ thể để hướng dẫn cho học sinh biết cách làm một bài nghị luận văn học kiểu bài
so sánh, đồng thời cũng giúp cho việc ra đề thi trong các kì thi có tính khoa học,
Trang 20