MỤC LỤC
Phần
Tên mục
Trang
1. Lí do chọn đề tài
2
PHẦN 2. Mục đích nghiên cứu
MỞ
3. Đối tượng nghiên cứu
ĐẦU
4. Phương pháp nghiên cứu
2
2
2
1. Cơ sở lí luận của vấn đề
3
1.1. Văn nghị luận và đặc trưng của văn nghị luận
3
1.2. Dạng đề so sánh trong văn nghị luận
15
4. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm
19
20
KẾT 1. Kết luận
LUẬN, 2. Kiến nghị
KIẾN
NGHỊ 3. Lời cảm ơn
20
20
* Tài liệu tham khảo
21
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Chương trình ngữ văn trung học phổ thông hiện hành, phần làm văn chủ
yếu trang bị cho học sinh phương pháp làm văn nghị luận(Nghị luận xã hội và
nghị luận văn học). Phần này thường chiếm tới 70% tổng số điểm bài thi ở kì thi
1
trung học phổ thông quốc gia (trong đó, nghị luận văn học là 50%). Về nghị
luận văn học, những năm gần đây cùng với các kiểu bài như: nghị luận về một
nhà văn chứ không phải tìm ra tác phẩm nào hay hơn thành công hơn. Kiểu bài
này cũng góp phần hình thành kỹ năng lí giải nguyên nhân làm nên sự khác biệt
giữa các hiện tượng văn học.
Và "Phân tích đề", "lập dàn ý" là một trong những kỹ năng đưa các em đến với
thành công khi gặp các dạng đề nghị luận nói chung và dạng đề so sánh nói riêng.
1.3. Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý - Dạng đề so sánh
Kỹ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thành thục một hay
một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức và kinh nghiệm) nhằm tạo
ra kết quả mong đợi. Như vậy rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý chính là
3
giúp học sinh thực hiện thành thục hai bước quan trọng có tính chất “định
hướng” và “tạo khung” cho bài làm nhằm đạt được điểm cao trong các kì thi.
“Tìm hiểu đề” là bước đầu tiên khi tiến hành làm một bài văn. Đây là
bước có tính chất định hướng cho người viết, tránh lạc đề, nhầm kiểu loại - ảnh
hưởng xấu đến kết quả bài viết. Còn “lập dàn ý” là công việc lựa chọn và sắp
xếp những nội dung cơ bản dự định triển khai vào bố cục ba phần của văn
bản.Việc lập dàn ý có tác dụng giúp cho người viết bao quát được những nội
dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai, phạm vi và mức độ nghị
luận... nhờ đó mà tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý; tránh được việc
bỏ sót ý hoặc triển khai các ý không cân xứng. Hơn nữa, lập dàn ý người viết sẽ
phân phối thời gian làm bài một cách hợp lí, không rơi vào tình trạng “đầu voi
đuôi chuột”.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.1.Về phía giáo viên:
Do sức ép về thời gian và phân phối chương trình nên đa số giáo viên chủ
yếu coi trọng việc dạy tác phẩm văn học mà ít chú ý đến rèn luyện kỹ năng làm bài
văn nghị luận nói chung, kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý cho kiểu bài so sánh nói
riêng.
ra các dạng đề để các em thực hành.
3.2.1. Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề
a) Về lí thuyết
* Tầm quan trọng: Đây là bước đầu tiên trong quá trình làm văn nghị luận. Là
bước có tính chất định hướng.
* Cách thực hiện: Để thực hiện tốt, học sinh cần đọc kĩ đề, tìm và gạch chân
những từ ngữ quan trọng. Ở bước này học sinh cần xác định được các yêu cầu sau:
- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề cần nghị luận
- Yêu cầu về hình thức: Thuộc kiểu bài nào
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Có thể lấy dẫn chứng từ các tác phẩm văn học nào.
Với kiểu đề so sánh, đề bài thường dùng từ “cảm nhận” về hai nhân vật
hay hai chi tiết, hai đoạn thơ, hai đoạn văn hoặc “cảm nhận” về một nhân vật
nào đó rồi liên hệ với nhân vật khác hay có thể là từ một ý kiến về sự khác nhau
trong phong cách của các nhà văn và yêu cầu lấy dẫn chứng ở một số nhà văn
để chứng minh chứ không dùng từ “so sánh”… Vì vậy học sinh phải tinh ý để
phát hiện ra đây chính là kiểu bài so sánh.
b) Thực hành:
* Cách làm
- Tôi đưa ra một số kiểu đề thường gặp trong dạng đề so sánh và yêu cầu
học sinh thực hành bước tìm hiểu đề. Ở phần này, tôi đặc biệt chú trọng việc
chọn đề bài cho học sinh thực hành- mỗi đề là một kiểu mang tính“đại
diện”.Làm theo cách này học sinh sẽ nắm được các kiểu bài ở dạng chung nhất,
cơ bản nhất, khi đi thi các em sẽ không mất nhiều thời gian vào bước này mà
vẫn đảm bảo tính đúng đắn và chính xác.
- Tôi chia nhóm học sinh, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm, yêu cầu
các em thực hiện nhiệm vụ theo nhóm, sau đó cử đại diện nhóm trình bày, các
nhóm nhận xét chéo,cuối cùng tôi nhận xét và chốt lại.
*Các đề thực hành:
Ví dụ1:
Cảm nhận của anh (chị ) về hai đoạn thơ sau:
thể thay thế cho nhà văn kia. Cho nên mỗi nhà văn bằng tài năng và cá tính sáng
tạo của mình đều có thể trực tiếp đóng góp cho sự phong phú và đa dạng của
một nền văn học".
Anh chị hiểu gì về ý kiến trên? lấy dẫn chứng minh họa từ truyện ngắn của
Thạch Lam và Nam Cao
Với đề bài này, học sinh cần xác định được:
+ Kiểu bài: So sánh
+Vấn đề cần nghị luận: Sự tương đồng và khác biệt trong phong cách hai nhà văn
7
+ Phạm vi dẫn chứng: Truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao
3.2.2. Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý
a) Về lý thuyết
a.1. Khái niệm và tầm quan trọng của việc lập dàn ý
-
Khái niệm : Lập dàn ý là công việc lựa chọn và sắp xếp những nội dung cơ
bản dự định triển khai vào bố cục ba phần của văn bản
- Tầm quan trọng : Lập dàn ý là một khâu quan trọng trong làm văn nghị luận.
Dàn ý giúp người viết không bỏ sót những ý cơ bản, trọng tâm đồng thời loại bỏ
được những ý không cần thiết, phân bố thời gian một cách hợp lí.
a.2. Bố cục của bài văn và nhiệm vụ của từng phần trong bài:
* Mở bài : - Dẫn dắt ( có thể trực tiếp hoặc gián tiếp )
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
* Thân bài: ( còn gọi là giải quyết vấn đề )
Gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn là một luận điểm. Các luận điểm đều tập
trung làm nổi bật luận đề ở phần mở bài
* Kết bài: ( còn gọi là kết thúc vấn đề )
Nét khác biệt : + Nội dung
+ Nghệ thuật
(Ở bước này học sinh kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác
lập luận so sánh)
+ Luận điểm 4: Lí giải sự khác biệt .
Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện (bối cảnh xã hội, văn hóa mà
đối tượng từng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học...)
- Kết bài:
+ Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
+ Mở rộng, nâng cao vấn đề, liên hệ...
* Cách hai: Thực hiện so sánh trực tiếp hai đối tượng. Nghĩa là không đi phân
tích cụ thể từng đối tượng như cách một mà tiến hành so sánh ngay. Cách làm
này hay nhưng khó, yêu cầu người viết phải có khả năng tổng hợp kiến thức tốt,
tư duy sáng rõ, linh hoạt, thường phù hợp với học sinh khá, giỏi. Cách làm này
tránh được nhược điểm của cách làm thứ nhất.
Có thể hình dung cách lập dàn ý ở cách làm này như sau:
- Mở bài: + Dẫn dắt
+ Giới thiệu hai đối tượng cần so sánh
- Thân bài:
+ Luận điểm 1: Thực hiện so sánh hai đối tượng
. Tương đồng: Về nội dung và nghệ thuật
Lưu ý: Chỉ ra điểm tương đồng, người viết cần chú ý không sa đà vào phân tích
vì khi phân tích ra thì nó sẽ là điểm riêng trong từng đối tượng, thuộc phần khác
biệt. Phần này viết thật ngắn gọn, đơn giản chỉ là liệt kê những nét tương đồng.
Khác biệt: Về nội dung và nghệ thuật
+ Luận điểm 2: Lí giải nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và khác biệt
+ Luận điểm 3: Đánh giá
9
hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp ở người nông dân.
Kiểu tư duy, cách thể hiện có những nét tương đồng: Nghệ thuật miêu tả
âm thanh và diến tả tâm lí nhân vật.
+ Nguyên nhân của sự khác biệt:
Nam Cao là nhà văn hiện thực phê phán và tác phẩm Chí Phèo viết trước
cách mạng tháng Tám.
Tô Hoài là nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa và tác phẩm Vợ Nhặt viết
sau cách mạng tháng Tám.
* Kết bài:
11
- Khẳng định giá trị của hai chi tiết: Đắt giá - đánh thức khao khát và sức sống
của các nhân vật.
- Qua hai chi tiết ấy thấy được tình yêu thương con người của hai nhà văn- tấm
lòng nhân đạo.
Ví dụ 2: Cảm nhận về một nhân vật, rồi liên hệ với nhân vật khác để thấy được
điểm tương đồng trong cách cảm và thể hiện vấn đề của các nhà văn.
Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về khát vọng hạnh phúc của nhân vật Tràng
(Vợ Nhặt - Kim Lân, ngữ văn 12, tập1, NXB Giáo dục Việt Nam,2016). Từ đó
liên hệ với khao khát được sống lương thiện của nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo Nam Cao, ngữ văn 11, tập1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để nhận xét điểm
tương đồng và
khác biệt trong cách nhìn con người của hai nhà văn.
Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:
a ) Mở bài :
- Dẫn dắt
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Khát vọng hạnh phúc của nhân vật Tràng
và khao khát được sống lương thiện của nhân vật Chí Phèo.
b) Thân bài :
vào bản chất tốt đẹp của người nông dân và khao khát nhân bản của con người trong
hoàn cảnh khắc nghiệt. Đó là sự biểu hiện của tư tưởng nhân đạo ở hai cây bút lớn.
+ Với Nam Cao,ông phát hiện ra và tin tưởng mãnh liệt rằng: Ngay cả khi bị hoàn
cảnh đẩy vào sự tha hóa, con người vẫn không thôi khao khát được sống lương thiện.
+ Với Kim Lân ông phát hiện và khẳng định: Ngay cả khi bị cái đói đẩy đến bờ
vực thẳm, con người vẫn khát khao sống, khát khao hạnh phúc.
- Điểm khác biệt: Trong "Chí Phèo", Nam Cao trân trọng và khẳng định tính
người của con người nhưng không tìm được con đường giải thoát cho bi kịch
cuộc đời họ. Còn ở "Vợ Nhặt”, Kim Lân tìm thấy niềm hi vọng trong khát vọng
sống, mở ra con đường giải thoát cho nhân vật.
- Lí giải điểm khác biệt
+ Do yếu tố hoàn cảnh thời đại: Nam Cao sáng tác "Chí Phèo" trước cách mạng
tháng Tám. Sự bế tắc của nhà văn cũng là sự bế tắc của con người và xã hội Việt
Nam trước năm 1945. Kim Lân hoàn thiện "Vợ Nhặt" sau năm 1954, khi dân
tộc ta đã đi qua hai mốc lịch sử lớn là cách mạng tháng Tám và cuộc kháng
chiến chống Pháp. Ánh sáng cách mạng giúp nhà văn thấy được hướng vận
động của lịch sử và hướng giải thoát cho con người.
+ Do khuynh hướng văn học và phương pháp sáng tác: Nam Cao là cây bút của
khuynh hướng văn học hiện thực do đó ông có cái nhìn chân thực, khách quan
về hiện thực cuộc sống. Còn Kim Lân- khi hoàn thành " Vợ Nhặt" ông là một
nhà văn cách mạng. Thế giới quan ấy đã tác động đến cách nhìn hiện thực của
nhà văn- luôn nhìn cuộc sống và con người trong sự vận động và phát triển,
hướng tới sự sống và ánh sáng.
13
c) Kết bài:
- Khẳng định khao khát hạnh phúc và khát khao được sống lương thiện của con
người thể hiện chiều sau giá trị nhân đạo của hai tác phẩm.
- Cách nhìn nhân ái đó đã làm nên sức sống bền bỉ, bất diệt của tác phẩm.
- Con người có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng cộng sản.
- Người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp.
14
b3. So sánh
* Điểm tương đồng :
- Cả hai bài thơ đều tập trung khắc họa hình tượng người chiến sĩ cách mạng, những
người con ưu tú của lịch sử dân tộc, có tâm hồn cao đẹp, có lí tưởng sống cao đẹp.
- Chất thi sĩ và chiến sĩ hòa quyện trong tâm hồn, lí tưởng của họ.
* Điểm khác biệt
- “Chiều Tối" là vẻ đẹp của người chiến sĩ yêu thiên nhiên, gắn bó với cuộc
sống, một hồn thơ luôn hướng về sự sống và ánh sáng ở những thời điểm thử
thách gay go nhất trên hành trình cách mạng. Vẻ đẹp đó được thể hiện qua bút
pháp gợi tả với những hình ảnh đậm màu sắc cổ điển.
- "Từ Ấy", đó là người chiến sĩ có tình yêu mãnh liệt với với lí tưởng, có lẽ sống
cao đẹp, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến cuộc đời vì cuộc đấu tranh của dân tộc. Nhân
vật trừ tình được khắc họa trực tiếp bằng nhũng hình ảnh thơ tươi tắn trẻ, giọng thơ
sôi nổi.
c . Kết bài:
- Đánh giá khái quát vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ cách mạng qua hai bài thơ.
- Lưu cảm nghĩ của người viết...
3.3. Giáo án thực nghiệm: Để cụ thể hóa các bước rèn luyện kĩ năng tìm hiểu
đề, lập dàn ý cho bài nghị luận văn học - dạng đề so sánh, tôi thiết kế một giáo
án dạy thực nghệm.
A. Mục đích yêu cầu
1. Kiến thức
- Nắm vững cách làm bài nghị luận văn học ( đặc biệt phần tìm hiểu đề, lập dàn ý)
2. Kỹ năng:
Rèn luyện kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý đối với kiểu bài so sánh
- Phạm vi dẫn chứng.
- Các thao tác lập luận sẽ sử dụng.
2. Ví dụ: Đề bài trên
- Kiểu bài: So sánh
- Vấn đề cần nghị luận: Điểm tương đồng và khác biệt về nội dung và nghệ
thuật của hai đoạn thơ trên.
- Phạm vi dẫn chứng: Hai bài thơ
- Thao tác lập luận: Phân tích, chúng minh, bình luận,sosánh... chủ yếu là thao
tác so sánh
II. Lập dàn ý
1. Khái niệm: Lập dàn ý là công việc lựa chọn và sắp xếp các ý theo trình tự
hợp lí, khoa học và theo bố cục ba phần của bài văn.
2. Lập dàn ý cho đề bài trên
* Mở bài:
- Dẫn dắt
- Trích dẫn hai đoạn thơ
* Thân bài
- Luận điểm 1: Giới thiệu chung về hai tác giả và hai tác phẩm ( Khái quát )
+ Luận cứ 1: Hàn Mặc Tử là nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào
thơ mới. Thơ ông là một thế giới kì dị với sự đan xen của nhiều hình ảnh phức
tạp và bí ẩn nhưng đằng sau những hình ảnh ấy người ta vẫn cảm nhận được
tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc sống trần thế của nhà thơ. " Đây thôn Vĩ
Dạ" là bài thơ đặc sắc của thi sĩ được rút từ tập “ thơ điên", thi phẩm thể tình
yêu tha thiết đến đau đớn hướng về cuộc sống trần thế của ông.
17
+ Luận cứ 2: Nguyễn Bính là gương mặt nổi bật của phong trào thơ mới và cũng tiêu
biểu cho thơ ca sau cách mạng với hồn thơ "chân quê" và sở trường về thể thơ lục bát.
* Bước 3: Vận dụng và mở rộng vấn đề
- GV: Yêu cầu học sinh chọn một luận điểm trong dàn ý, triển khai thành đoạn văn.
18
* Bước 4: Dặn dò
- Nắm vững các bước và rèn luyện thói quen lập dàn ý trước khi viết bài.
4. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua việc áp dụng một số biện pháp rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề, lập
dàn ý - dạng đề so sánh . Tôi nhận thấy học sinh đã có tiến bộ, biết và nắm vững
kĩ năng làm bài văn nghị luận. Gặp đề so sánh các em không còn lúng túng về
kỹ năng làm bài đặc biệt là kỹ năng lập dàn ý. Đa số học sinh đã có ý thức lập
dàn ý trước khi viết bài, kết quả các bài luận có chất lượng cao hơn.
* Dưới đây là kết quả bài viết của học sinh một số lớp khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm:
- Bài viết số 3: Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
Lớp
Sĩ số
12a
11a
11a4
44
40
37
Điểm yếu
SL
%
1
2.2
1
2.5
2
5.5
Điểm khá
SL
%
20
45.5
17
42.5
19
51.4
Điểm giỏi
SL
%
4
9
4
11
8
21.6
- Bài viết số 5: Sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
27
19
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
" Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý- dạng đề so sánh văn học" là
rèn luyện khả năng tư duy logic khoa học, năng lực cảm thụ các tác phẩm văn
học. Công việc đó không thể làm trong ngày một, ngày hai mà là cả một quá
trình lâu dài đòi hỏi sự kiên trì và tâm huyết của giáo viên. Trên đây chỉ là một
vài kinh nghiệm về rèn luyện kỹ năng làm kiểu bài so sánh để giúp các em tự tin
hơn đối mặt với dạng đề này trong các kì thi.
2. Kiến nghị:
- Giáo viên cần chú trọng rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý bài văn nghị
luận cho học sinh.
- Để khơi gợi hứng thú đối với học sinh khi tiến hành ứng dụng đề tài này thì
giáo viên cần chú ý :
+ Phần lí thuyết trình bày thật ngắn gọn, dễ hiểu
+ Các kỹ năng cần được chia nhỏ để học sinh được rèn luyện một cách thành
thục.
+ Cần tìm những đề bài hay và đảm bảo tính vừa sức nhưng vẫn kích
thích sự sáng tạo, tạo cơ hội cho học sinh được phát biểu những suy nghĩ riêng,
được nói bằng tiếng nói của mình.
Nếu làm tốt tất cả những điều trên, tôi tin rằng việc học văn, làm văn nghị
luận- dạng đề so sánh văn học sẽ đạt được kết quả cao.
3. Lời cảm ơn:
Đề tài tôi nghiên cứu còn nhiều vấn đề hạn chế và bất cập rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học, bạn bè đồng nghiệp và phản
hồi từ học sinh để đề tài được hoàn thiện hơn.