PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong môn Ngữ Văn, văn nghị luận chiếm vị trí rất quan trọng. Nó
giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy, khả năng lập luận và thuyết
phục; giúp các em khi trưởng thành có tư duy lôgic và năng lực biểu đạt
những vấn đề của đời sống. Vì vậy, văn nghị luận được bố trí dạy ngay từ
lớp 7, tiếp tục rèn luyện và nâng cao ở lớp 8, lớp 9. Các tiết làm văn nghị
luận cũng chiếm một thời lượng không nhỏ ở lớp 9, giúp học sinh có kĩ
năng làm bài nghị luận hoàn chỉnh và tiếp tục nâng cao ở bậc trung học phổ
thông. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là kiểu bài thuộc nhóm nghị luận
văn học. Đây là kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân môn
Tập làm văn nói chung. Ở kiểu bài này, đòi hỏi học sinh phải có năng lực
phân tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về văn học và
đặc biệt là kĩ năng trình bày. Mặt khác, kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải
thề hiện được năng lực tiếp nhận, cảm thụ thơ của mình.
Thực tế, ngay từ tuổi mẫu giáo, các em đã làm quen với thao tác đọc
và cảm nhận thơ ở cấp độ đơn giản. Đến bậc Tiểu học, mức độ cảm thụ thơ
được nâng lên một bước mới: đọc diễn cảm, chỉ ra cái hay, cái đẹp trong
đoạn thơ, phát hiện những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài
thơ. Đến bậc Trung học cơ sở, cảm thụ thơ được nâng lên một bước để đáp
ứng yêu cầu cao hơn. Nhưng đối với học sinh lớp 9 thì kĩ năng viết văn của
các em ở kiểu bài này còn nhiều hạn chế. Các em chưa định hình được các
bước tạo lập văn bản nghị luận về một đoạn thơ, một bài thơ. Chính vì lẽ
đó, kiến thức tạo lập văn bản nghị luận về văn học lại trở thành vấn đề xa lạ
đối với các em. Vậy đối với giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 9,
ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về văn học, tôi
1
lượng bộ môn Ngữ văn. Các em sẽ có được kĩ năng từ viết đúng, dần dần
hướng tới viết hay, có ý tứ sâu xa, lời lẽ ngắn gọn, hàm súc, bài viết mạch
lạc, gợi cảm và có sức thuyết phục. Đề tài còn có thể đánh thức cảm xúc
của đồng nghiệp trong quá trình dạy học để họ nhận thấy sự cần thiết trong
việc dạy học sinh cảm thụ tác phẩm thơ và trình bày một cách khoa học,
thuyết phục người đọc.
3
PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI:
Năm học 2014 – 2015, tôi được Ban giám hiệu phân công giảng dạy
hai lớp 9 với 77 học sinh. Khi giảng dạy đến kiểu bài nghị luận về một
đoạn thơ, bài thơ, tôi nhận thấy các em còn gặp nhiều khó khăn ở bài viết
này. Kĩ năng viết văn của các em chưa thật thành thạo. Đa phần các em còn
lúng túng trong cách diễn đạt. Bài viết còn rời rạc, khô khan, dùng từ đặt
câu chưa chính xác, bố cục chưa rõ ràng, luận điểm, luận cứ và lập luận
cũng chưa có sức thuyết phục cao. Một số bài vốn từ rất nghèo nàn nên
diễn đạt lủng củng, dài dòng không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính tả. Ở bài
viết Tập làm văn số 7 (nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ), các em đạt
được kết quả như sau:
Năm
học
2014-
Lớp
06
09
20
19
11
08
2015
Qua bảng số liệu trên, tôi nhận thấy rằng số học sinh có điểm Yếu ở
bài viết số 7 trong năm học 2014-2015 ở 02 lớp chiếm khá cao: 19/77 học
sinh (tỷ lệ 24,7%). Còn số học sinh có điểm Trung bình chiếm: 39/77 học
sinh (tỷ lệ 50.6%). Bản thân tôi trăn trở và dành thời gian tìm hiểu lý do.
Theo tôi, là do các nguyên nhân sau:
- Thứ nhất: Các em chưa nắm sâu nội dung bài thơ, đoạn thơ. Kiểu bài nghị
luận về một đoạn thơ, bài thơ đòi hỏi học sinh phải có sự hiểu biết về nội
dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ thì mới phân tích được. Vốn kiến
thức đó, các em có được từ đâu? Tất nhiên là từ phần đọc- hiểu văn bản.
Thế nhưng do các em còn quá lười nên chưa nắm chắc kiến thức ở phần
đọc- hiểu văn bản. Điều đó khiến bài viết ở bài Tập làm văn của các em
còn đơn điệu, chưa phong phú, sắc sảo. Nội dung bài viết còn sơ sài. Vì
4
vậy, các em đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm ý để làm bài văn nghị
luận.
- Thứ hai: Học sinh không lập dàn bài trước khi viết. Vì thế, bài làm của
các em có bố cục chưa rõ ràng. Các em cứ nhớ gì viết nấy nên bài viết còn
- Để có luận điểm rõ ràng thì các em phải đọc kĩ yêu cầu đề bài, xác định
giới hạn phạm vi yêu cầu của đề và trả lời được câu hỏi: Điều nổi bật nhất
để làm rõ vấn đề là gì? Điều đó được biểu hiện qua những chi tiết nào?
Làm được điều này nghĩa là tôi đã giúp cho các em tìm hiểu đề và tìm ý.
- Lập dàn bài cho một bài văn nghị luận là bước không thể bỏ qua. Bởi vì
xây dựng dàn bài trước khi viết bài sẽ có rất nhiều ưu điểm. Bài viết sẽ liền
mạch, các ý được sắp xếp theo trình tự hợp lí hơn. Nhờ thế mà bài viết
tránh được tình trạng mất cân đối, đầu voi đuôi chuột.
- Bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần nêu được các nhận xét,
đánh giá và cảm thụ riêng của người viết. Những nhận xét, đánh giá ấy phải
gắn với sự phân tích, bình giảng ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, biện pháp tu
từ, nội dung cảm xúc của tác phẩm. Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn
thơ, bài thơ cần phân tích thẩm bình (cảm thụ) theo mạch cảm xúc của
đoạn thơ, bài thơ. Muốn đạt được yêu cầu trên khi viết bài, tôi luôn lưu ý
cho các em phải lựa chọn các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu mà phân tích; biết
lựa chọn từ ngữ phù hợp mà diễn đạt để nội dung bài viết chính xác, phong
phú hơn. Mặt khác, tôi còn hướng dẫn các em viết phần Mở bài - Thân bài
-Kết bài sao cho đạt được kết quả tốt.
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Để khắc phục tình trạng trên đây tôi đã tiến hành các giải pháp sau:
1. Tích hợp với giờ dạy văn bản
- Bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ hội tụ cả hai yếu tố: năng
lực cảm thụ văn chương và phương pháp làm bài nghị luận. Lời văn của bài
nghị luận phải chặt chẽ, thể hiện chính kiến của người viết lại vừa phải gợi
cảm, sinh động, thể hiện sự rung động với tác phẩm. Đây là điểm khác biệt
với các dạng văn khác. Trong thực tế, không phải học sinh nào cũng có khả
6
Không gian có sự hòa hợp của hương ổi dịu dàng, gió thu nhè nhẹ và sương
thu mơ màng tạo nên một ấn tượng mà ta khó lòng quên được. “Sương thu”
được nhân hóa, “chùng chình” là sự rung rinh lay động của làn sương hay
chính là tâm trạng bâng khuâng trong tâm hồn con người? Có lẽ là cả hai.
Vạn vật trong thời khắc chuyển mùa càng trở nên duyên dáng, nhịp nhàng.
Cảm quan tinh tế của nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng, rất duyên
dáng để rồi xao xuyến: “Hình như thu dã về”. Bước đi của mùa thu được
cảm nhận không chỉ bằng khứu giác, xúc giác, thị giác mà còn là tất cả sự
rung động của tâm hồn. Thu về trong sự cảm nhận tinh tế của một hồn thơ
đầy ắp tình yêu tha thiết với mùa thu quê hương.
- Ngoài việc giúp cho học sinh phát hiện và khắc sâu những điểm
sáng và chi tiết nghệ thuật trong đoạn thơ, bài thơ tôi cũng không quên
cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tác giả, hiểu rõ hoàn cảnh
sáng tác của tác phẩm. Bởi hoàn cảnh sáng tác của bài thơ có vai trò rất
quan trọng khi cần đánh giá, nhận xét một tác phẩm văn học. Đặt tác phẩm
vào hiện thực xã hội lúc đó, các em sẽ hiểu rõ và nhìn nhận đúng hơn về
tâm trạng, hành động suy nghĩ của nhân vật trong một tác phẩm hay tình
cảm, cảm xúc của nhân vật được thể hiện trong một bài thơ. Từ đó có thể
làm rõ vấn đề: Tại sao đối tượng lại có hành động, suy nghĩ như vậy? Hành
động suy nghĩ đó bộc lộ tâm trạng, cảm xúc như thế nào? Tâm trạng, cảm
xúc đó nói lên phẩm chất gì của đối tượng?
Ví dụ: Khi làm bài văn nghị luận với đề bài: “ Những đặc sắc trong bài thơ
Viếng lăng Bác của Viễn Phương”, tôi yêu cầu học sinh cần phải nắm rõ
hoàn cảnh sáng tác bài thơ là: Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống
Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước được thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc rồi vào lăng
viếng Bác. Bài thơ ấy được viết trong dịp đó và in trong tập “Như mây mùa
xuân” (1978). Hiểu được hoàn cảnh sáng tác, các em mới thấy được lòng
pháp tu từ, mạch cảm xúc, cảm hứng bao trùm…)
9
- Sau khi xác định đúng yêu cầu đề bài, tôi tiếp tục hướng dẫn học
sinh tìm ý để xây dựng hướng làm bài thật hoàn chỉnh. Nghĩa là tôi giúp
học sinh tái hiện lại những hiểu biết về tác giả, nhận ra hoàn cảnh ra đời,
nội dung tư tưởng và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
Ví dụ: Cho đề bài: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Đối với đề bài này, tôi yêu cầu học sinh cần tìm được các ý như sau:
* Về tác giả:
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình trí thức yêu
nước, có truyền thống đấu tranh kiên cường. Hoàn cảnh xã hội và giáo dục
gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ thời niên
thiếu.
+ Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, Người đã
quyết tâm ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước.
* Hoàn cảnh ra đời bài thơ:
Bài thơ được ra đời trong khoảng thời gian những năm đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp. Địa điểm là vùng chiến khu Việt Bắc. Lúc này
Chủ tịch Hồ Chí Minh đang trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống
Pháp đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của nhân dân ta.
* Nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ:
- Nội dung:
+ Vẻ đẹp núi rừng đêm trăng chiến khu Việt Bắc.
Đối với bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, khi tìm ý để lập dàn ý, tôi
yêu cầu học sinh phải biết đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi sao cho phù hợp
với từng đề bài cụ thể. Với dạng đề có chỉ định và dạng đề không có chỉ
định, tôi yêu cầu học sinh phải xác định được đâu là nội dung chính cần
tìm. Vấn đề là tôi luôn tổ chức, hướng dẫn các em phát hiện ra các luận
11
điểm mà đề yêu cầu. Có như vậy việc lập dàn bài, triển khai luận điểm mới
trở thành kĩ năng của các em. Nhờ vậy, các em tránh được tình trạng khi
viết bài lại trùng luận điểm với những ý lớn mà mình đã xác lập, không viết
lan man.
Ví dụ: Đề bài: Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.
* Với yêu cầu của đề bài này, tôi tổ chức cho các em lập dàn bài cho bài
văn. Trước hết cho các em đặt câu hỏi tìm ý cho phần Mở bài như sau:
- Em hiểu gì về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Chính Hữu? Đối với
em dấu ấn sâu sắc nhất về nhà thơ Chính Hữu là gì? (Chính Hữu là nhà thơ
quân đội, chủ yếu sáng tác về những người chiến sĩ quân đội – những
người đồng đội của ông trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ. Tập thơ “Đầu súng trăng treo” là tác phẩm chính của ông).
- Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh nào? (Bài thơ được ra đời vào năm
1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch
Việt Bắc thu đông năm 1947)
- Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của bào thơ là gì? (Với cách sử dụng
ngôn ngữ bình dị, thấm đượm chất dân gian; với bút pháp tả thực kết hợp
với lãng mạn một cách hài hòa, bài thơ ca ngợi tình cảm đồng chí cao đẹp
giữa những người chiến sĩ trong thời kì đầu kháng chiến chống thực dân
Pháp gian khổ)
* Sau đó, tôi tổ chức cho các em tìm luận điểm, luận cứ trong phần Thân
lăng. Chúng ta cần học tập và ghi nhớ công lao của người chiến sĩ cách
mạng.
4. Viết bài
Viết bài là quá trình chuyển dàn bài thành đoạn văn, bài văn. Đây
cũng là giai đoạn tương đối khó đối với học sinh. Bởi các em còn gặp khó
khăn trong cách diễn đạt. Vì vậy, tôi luôn hướng dẫn các em dựng thành
đoạn văn, viết bài hoàn chỉnh có bố cục ba phần rõ ràng. Tùy vào nội dung
của đoạn thơ, bài thơ mà triển khai các luận điểm. Ở bước lập dàn bài, các
13
em tìm được bao nhiêu ý lớn thì phần viết bài nhất thiết phải triển khai bấy
nhiêu đoạn văn. Mỗi đoạn văn tương ứng một ý lớn đã tìm được ở trên.
a. Lựa chọn các chi tiết hình ảnh tiêu biểu, từ ngữ phù hợp
* Đối với kiểu bài này, tôi lưu ý các em phải biết phân tích sự sáng
tạo độc đáo các chi tiết, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, biện pháp tu từ và
đặc biệt là các yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật từng luận điểm. Khi phân
tích chỉ phân tích một vài chi tiết chính, còn lại có thể phân tích lướt để
đảm bảo bài văn vừa có chỉnh thể, vừa có trọng tâm, có điểm sáng, gây
được ấn tượng.
Ví dụ: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ “Đồng
chí” của Chính Hữu.
- Từ đề bài trên, tôi đã hướng dẫn các em cảm nhận được đoạn kết của
bài thơ đã dựng lên bức tranh đẹp về tình đồng chí trong chiến đấu. Biểu
tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ là ba hình ảnh: người lính, khẩu súng
và vầng trăng trong cảnh rừng hoang sương muối, trong đêm phục kích đợi
giặc. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh đêm trăng mùa đông vô
cùng lạnh giá.
- Hình ảnh ẩn dụ “Đầu súng trăng treo” sáng tạo, đầy ấn tượng, cô
của văn bản, có vai trò định hướng cho toàn văn bản. Phần Mở bài chứa
đựng vấn đề cần giải quyết một cách khái quát và thông báo cho người đọc
phương thức giải quyết hoặc giới hạn của vấn đề. Nó có vai trò gây dựng
tình cảm thân thiện cho người đọc, người nghe. Vì thế khi viết Mở bài,
thực chất là trả lời câu hỏi: Anh (chị) định viết, định bàn bạc vấn đề gì? Để
học sinh làm được điều này, tôi đã hình thành cho các em một qui trình để
viết đoạn văn Mở bài như sau:
(1) Giới thiệu tác giả (2) Tên tác phẩm (3) Thời điểm, hoàn
cảnh sáng tác (4) Trích ở đâu (5) Nêu nhận xét, đánh giá sơ bộ về nội
dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
Các em có thể Mở bài theo trình tự trên. Tuy nhiên, tôi vẫn không
quên lưu ý cho các em cách trình bày này là không bắt buộc. Điều bắt buộc
15
về nội dung phải có là phần (2) và phần (5). Về giới thiệu tác giả, học sinh
phải thuộc ít nhất một câu đối với mỗi tác giả. Cách Mở bài này gọi là cách
Mở bài trực tiếp, có thể dành cho học sinh có học lực từ trung bình trở
xuống.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Với đề bài này,
tôi đã hướng dẫn học sinh có thể mở bài như sau:
Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài
thơ hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu. Bài thơ “Sang
thu” được Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên
trên báo Văn nghệ. Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của tác giả về sự
chuyển biến của đất trời từ hạ sang thu.
Đối với học sinh có học lực khá trở lên, tôi hướng dẫn thêm cho các
em cách Mở bài gián tiếp. Tức là dẫn ra một ý khác có liên quan, gần gũi,
sau đó nêu vấn đề sẽ bàn trong bài. Để bài viết có không khí tự nhiên và có
học sinh khá, giỏi thường dùng để mở rộng ý.
Ví dụ: Phân tích khổ thơ:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
(Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ)
Với yêu cầu này, tôi đã hướng học sinh có thể viết đoạn phân tích
như sau:
(1) Từ cảm nhận về mùa xuân của thiên nhiên, đất nước, nhà thơ đã
có ước nguyện:
(2)
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
17
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
(3) Nhà thơ muốn làm con chim hót để làm vui cho cuộc đời; muốn làm
một cành hoa để khoe sắc và tỏa ngát hương thơm làm đẹp cuộc đời; muốn
làm một nốt trầm trong bản hòa ca đẻ làm tăng ý nghĩa cuộc đời. (4) Nhà
thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của tự nhiên như bông hoa, con chim để
nói lên ước nguyện của mình. Những hình ảnh ấy được lặp lại, trở lại mang
một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến có ích cho
đời. Cũng trong thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Một khúc
xuân” những suy ngẫm tương tự:
“Nếu là con chim, chiếc lá
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là quê hương của một làng chài, cái
làng quê nghèo khó thuộc vùng duyên hải miền Trung “cách biển nửa ngày
sông” đã gắn bó với nghề cá từ bao đời nay. Với giọng điệu tâm tình, cách
nói dân dã vừa cụ thể vừa trừu tượng, tác giả đã thể hiện tình yêu quê
hương miền biển tha thiết, dịu ngọt của chàng thanh niên mười tám tuổi lần
đầu tiên xa quê cha đất mẹ.
Như vậy, đoạn văn trên đã viết đúng hình thức đoạn văn tổng phân
hợp, có sử dụng phép liên kết (phép thế: Đó là; phép lặp: quê hương; phép
nối: Với)
- Khi triển khai các ý trong phần Thân bài, tôi hướng dẫn các em dùng
cụm từ hoặc câu văn chuyển ý tạo cho bài văn liên kết chặt chẽ lô-gic.
Chẳng hạn, khi triển khai các luận điểm qua các khổ thơ thứ hai và ba
trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, tôi hướng
dẫn cho các em dùng câu văn chuyển ý bằng cách gợi cho các em về những
gian khổ mà người chiến sĩ lái xe phải chịu đựng.
19
Ví dụ: Nếu khổ thơ trên nói đến “gió” thì ở khổ thơ này nói đến
“bụi”. Gió, bụi tượng trưng cho gian khổ, thử thách ở đời. Chữ “ừ” vang
lên như một thách thức, một chấp nhận nhưng chủ động của người chiến sĩ
lái xe: “Không có kính, ừ thì có bụi…”
- Điều làm nên nét riêng biệt cho các em học sinh là khi nghị luận về
đoạn thơ, bài thơ thì các em phải có ý kiến bình luận của mình về nét đặc
sắc của đoạn thơ, bài thơ. Tôi gợi cho các em viết được những câu văn bình
luận, đánh giá về thơ. Chẳng hạn, khi phân tích khổ thơ thứ tư bài “Quê
hương” của Tế Hanh, các em có thể bình luận như sau:
“Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Bằng từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, nhà thơ thể hiện tình cảm
gia đình đầm ấm, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê
hương và dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp
tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó truyền thống
với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
Ví dụ 2 : Đối với bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, các em có
thể kết bài theo một cách khác như sau :
Đọc bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, một cảm xúc thanh cao, trong
sáng tự nhiên đang ngập hồn ta. Chúng ta chia sẻ niềm vui với nhà thơ
trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước lúc vào xuân. Mỗi chúng ta hãy làm
một tiếng chim, một cành hoa góp phần tô điểm cho cuộc đời thêm đẹp.
Hãy giữ cho tâm hồn mình mãi mãi thanh xuân.
5. Làm tốt khâu chấm- trả- sửa bài kiểm tra:
Theo tôi, đây là khâu quan trọng nhất trong các bước mà giáo viên áp
dụng nhằm nâng cao chất lượng viết phần văn nghị luận của học sinh về
một đoạn thơ, một bài thơ. Trong quá trình chấm bài kiểm tra của học sinh,
tôi đặc biệt chú ý đến các lỗi học sinh mắc phải. Tôi thường gạch dưới các
lỗi về: chính tả, diễn đạt, ngữ pháp... và tôi ghi rõ ưu khuyết của học sinh
21
vào khung lời phê. Có như thế, học sinh mới rút ra dược những kinh
nghiệm cần thiết. Không chỉ vậy, ở tiết trả bài kiểm tra, tôi thường đọc các
bài đạt điểm khá hoặc những đoạn học sinh viết hay có cảm xúc cho cả lớp
cùng nghe, cùng học tập và các đoạn, các câu viết chưa hay (không nêu
tên) để chỉ rõ học sinh cách khắc phục các sai sót đó. Bản thân tôi còn lập
một quyển sổ tay theo dõi riệng, ghi nhận những em chưa khắc phục những
sai sót ở từng bài kiểm tra Tập làm văn để trao đổi, hướng dẫn các em cố
gắng hơn trong các bài viết khác
số
Giỏi
Khá
bình
38
37
36
02
03
03
13
15
13
21
18
17
Điểm Yếu
02
01
03
- Giúp học sinh tích hợp với giờ dạy văn bản để có thêm vốn kiến
thức khi làm bài văn phân tích.
- Tìm hiểu đề và tìm ý cho bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
là một hoạt động không thể thiếu trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn cho
học sinh. Bởi ý có phong phú thì bài văn mới sinh động, hấp dẫn, thu hút
được người đọc và người nghe. Muốn làm tốt khâu này, tôi luôn hướng dẫn
các em xác định những từ ngữ quan trọng trong đề bài và luôn đặt câu hỏi
để tìm ý.
- Lập dàn ý là một thao tác tư duy rất quan trọng nhằm định hướng
cho hành động. Vì vậy, lập dàn ý trước khi làm bài tập làm văn là việc làm
cần thiết. Muốn lập được dàn ý, học sinh phải thành thục các kĩ năng tìm ý,
chọn ý, sắp xếp ý, phải nắm vững đặc trưng của kiểu bài để lập dàn ý cho
phù hợp. Hơn nữa, học sinh phải tự trang bị cho mình những kiến thức thì
mới tìm ra những ý cần thiết để lập một dàn ý đầy đủ, chính xác.
- Sau khi đã lập được dàn ý, học sinh vận dụng kĩ năng diễn đạt để
chuyển từ dàn ý thành bài văn hoàn chỉnh. Muốn vậy, tôi đã rèn luyện cho
các em kĩ năng lựa chọn các chi tiết tiêu biết, sử dụng từ ngữ phù hợp khi
24
viết bài văn hoàn chỉnh. Mặt khác, tôi cũng không quên rèn cho học sinh
cách viết phần mở bài, thân bài và kết bài.
- Cuối cùng là việc tôi chú trọng khâu chấm- trả- sửa bài kiểm tra
nhằm giúp học sinh thấy được ưu- khuyết trong bài viết của mình và dần
khắc phục các sai sót.
Trên đây là một vài biện pháp của bản thân tôi để rèn luyện kĩ năng
làm văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9. Tôi nghĩ đề
tài “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận về một
đoạn thơ, một bài thơ cho học sinh lớp 9” có thể được áp dụng cho tất cả