Khóa luận tốt nghiệp văn học: Tìm hiểu tính lịch sự của lời mời trong ngôn ngữ Việt - Thái - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÙ THỊ XOAN

TÌM HIỂU TÍNH LỊCH SỰ CỦA LỜI MỜI
TRONG NGÔN NGỮ VIỆT - THÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Dũng – người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận.

Sơn La, tháng 5, năm 2013
Tác giả
Lù Thị Xoan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa 4
3.1. Mục đích 4
3.2. Nhiệm vụ 4
3.3. Ý nghĩa 4
3.3.1. Ý nghĩa lí luận 4
3.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 5
5.1. Phương pháp nghiên cứu 5
5.1.1. Phương pháp khảo sát, thống kê 5
5.1.2. Phương pháp miêu tả, phân tích 5
5.1.3. Phương pháp hệ thống 5
5.1.4. Phương pháp phân tích, quy nạp 5
5.1.5. Phương pháp so sánh, đối chiếu 5
5.1.6. Phương pháp phân tích diễn ngôn 5
5.2. Nguồn ngữ liệu 6
6. Cấu trúc khóa luận 6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.4.3. Điều kiện nhận diện lời mời 27
1.4.4. Tính lịch sự trong lời mời của một số ngôn ngữ Âu – Mĩ 28
CHƯƠNG 2. TÍNH LỊCH SỰ CỦA LỜI MỜI TRONG NGÔN NGỮ VIỆT
- THÁI 32
2.1. Lịch sự của lời mời trong tiếng Việt 32
2.1.1. Lịch sự của lời mời xét theo vai giao tiếp 32
2.1.2. Lịch sự trong hành vi mời thể hiện trong hành vi ở lời trực tiếp 34
2.1.3. Xưng hô một biểu hiện của lịch sự trong lời mời 35
2.1.3.1. Xưng hô trong gia đình 35
2.1.3.2. Xưng hô ngoài xã hội 36
2.1.4. Các thành phần bổ trợ - một trong những biểu hiện quan trọng của lịch
sự trong lời mời 37
2.1.4.1. Thành phần bổ trợ hô gọi 37
2.1.4.2. Thành phần chào hỏi 37
2.1.4.3. Thành phần nêu lí do mời 38
2.1.4.4. Thành phần thăm dò khả năng 38
2.1.4.5. Thành phần bộc lộ 38
2.1.4.6. Tỏ ra am hiểu về Sp2 39
2.1.4.7. Kết hợp một số biểu thức 39
2.2. Lịch sự của lời mời trong tiếng Thái 40
2.2.1. Lịch sự của lời mời xét theo vai giao tiếp 40
2.2.2. Lịch sự trong hành vi mời thể hiện qua hành vi ở lời trực tiếp 41
2.2.3. Xưng hô - một biểu hiện của lịch sự trong lời mời 41
2.2.3.1. Xưng hô trong gia đình 42
2.2.3.2. Xưng hô ngoài xã hội 42
2.2.4. Các thành phần bổ trợ - một trong những biểu hiện quan trọng của lịch
sự trong lời mời 43
2.2.4.1. Thành phần bổ trợ hô gọi 43
2.2.4.2. Thành phần chào hỏi 44
2.2.4.3. Thành phần nêu lí do mời 44

phương Đông lại hiểu khái niệm lịch sự ở phương diện khác. Lịch sự được biểu
hiện ở các hành vi có tính lễ độ, chịu sự chi phối của những quy tắc tương tác nhất
định. Hiểu theo nghĩa này, lịch sự được coi như những chuẩn mực xã hội. Bên cạnh
đó, có một số nhà nghiên cứu lại nhận định lịch sự là sự dung hợp giữa lịch sự
chuẩn mực và lịch sự chiến lược. Hay nói cách khác, đó là sự kết hợp hài hòa giữa
các cách ứng xử khéo léo, khiêm nhường, lễ phép và đúng mực.
Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, cùng với đó là giao tiếp cũng ngày
càng được mở rộng. Càng ngày, người ta càng muốn nâng cao hiệu quả giao tiếp
và lịch sự là một trong những nhân tố góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu
quả đó. Trong hội thoại, con người chúng ta ai cũng muốn được tôn trọng và giữ
thể diện. Do vậy, việc cân nhắc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ trong giao
tiếp của mỗi cá nhân để đạt được hiệu quả là điều không đơn giản. Dựa vào hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể, những người tham gia giao tiếp cần có những cách thức phù
hợp để tránh đe dọa đến thể diện của người đối thoại cũng như thể diện của mình.
Trong giao tiếp, lời mời là một trong những nghi thức lời nói rất quan
trọng. Vậy mời như thế nào để đảm bảo sự khéo léo, tế nhị, lịch sự? Điều đó đòi

2
hỏi ở người nói sự tính toán để đưa ra chiến lược giao tiếp phù hợp nhằm đảm
bảo được thể diện của mình, đồng thời làm hài lòng và nâng cao thể diện của
người nghe. Tùy thuộc vào ngữ cảnh và quan hệ liên nhân giữa các đối tượng
mà người nói có thể vận dụng các chiến lược giao tiếp một cách linh hoạt sao
cho đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.
Là hành vi ngôn ngữ, cũng như mọi hành vi khác của con người, hành vi
mời vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc ngữ, chịu sự chi phối sâu sắc
của văn hóa dân tộc. Việc tìm hiểu tính lịch sự trong lời mời ngôn ngữ Việt –
Thái sẽ góp phần bổ sung vào vốn hiểu biết của chúng ta những tri thức về văn
hóa của dân tộc Việt và dân tộc Thái. Đồng thời, việc tìm hiểu đó sẽ giúp chúng
ta khám phá ra những điểm tương đồng và khác biệt về tính lịch sự trong văn
hóa của hai dân tộc này thể hiện qua “lời mời”.

động tự thân có thể làm ảnh hưởng, phương hại đến thể diện (Thể diện là động
lực của lịch sự và lịch sự là phương tiện để bảo vệ thể diện). Brown và Levinson
cho rằng đa số các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn nguy cơ đe dọa thể diện và khi
giao tiếp, con người ta tìm cách hạn chế những nguy cơ đó. Những hành vi này
thuộc tính chiến lược lịch sự của cá nhân trong giao tiếp. Lịch sự ở đây được
hiểu là những toan tính cá nhân nhằm tránh áp đặt, tránh vi phạm thể diện để
mỗi cá nhân thành công trong tương tác xã hội.
Bên cạnh các quan điểm về lịch sự nêu trên, các nhà nghiên cứu về lịch sự
dựa trên các cứ liệu văn hóa phi phương Tây lại cho rằng lịch sự không đơn
thuần chỉ mang tính chiến lược cá nhân. Theo Gu và Matsumoto, lịch sự phải
gắn với những giá trị thuộc về giao tiếp cộng đồng xã hội hơn là những ý muốn
lựa chọn tự do của cá nhân trong giao tiếp. Có nghĩa là lịch sự phải tuân thủ các
quy tắc ứng xử của xã hội và nó được coi là lịch sự chuẩn mực. Mọi cá nhân
tham gia giao tiếp xã hội phải tuân thủ những chế định xã hội được mọi người
trong cộng đồng xã hội thừa nhận mới được coi là lịch sự.
Ngoài ra, một khuynh hướng nghiên cứu khác lại cho rằng lịch sự là sự kết
hợp giữa quan niệm lịch sự chiến lược và quan niệm lịch sự chuẩn mực. Hai tác
giả lớn tiêu biểu cho khuynh hướng này là Hill và Kasper.
Ở Việt Nam, vấn đề lịch sự cũng được nghiên cứu một cách cụ thể và đạt
được những thành tựu đáng quan tâm. Hai tác giả Vũ Thị Thanh Hương và Vũ
Tiến Dũng đã đưa ra những kết luận về nội dung của lịch sự theo quan niệm của
người Việt. Đó là, coi lịch sự vừa là chiến lược cá nhân, vừa là chuẩn mực xã
hội. Các tác giả đã xác định rõ tầm quan trọng của lịch sự trong giao tiếp. Các
công trình nghiên cứu đã đưa ra được những kết luận bước đầu về khái niệm lịch
sự trong tiếng Việt và đi sâu hơn nữa là tìm hiểu về lịch sự trong giới tính, trong
các hành động nói. Những công trình đó đã góp phần định hướng cho việc tìm
hiểu về lịch sự trong giao tiếp cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.
Bên cạnh đó, tính lịch sự của lời mời cũng đã được một số tác giả đề cập
đến. Chẳng hạn như tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ đã đề cập đến tính lịch sự của 5
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
5.1.1. Phương pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp khảo sát được sử dụng để tiến hành để khảo sát các tài liệu
liên quan đến đề tài và sau đó thống kê lại toàn bộ nội dung đã khảo sát. Phương
pháp này giúp chúng ta sử dụng được nhiều nguồn ngữ liệu một cách có hiệu
quả và giúp chúng ta biết được vấn đề nào đầy đủ hay còn thiếu sót để bổ sung
và hoàn chỉnh.
5.1.2. Phương pháp miêu tả, phân tích
Phương pháp này được sử dụng sau khi đã khảo sát và thống kê nguồn ngữ
liệu mà khoá luận quan tâm, nghiên cứu. Thao tác miêu tả, giúp nhận dạng đúng
đối tượng và và sau đó phân tích để hiểu rõ về đối tượng một cách đầy đủ, cụ thể
và chi tiết nhất.
5.1.3. Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống giúp ta kiểm tra toàn bộ những nội dung đã tiến
hành khảo sát, thống kê nhằm giúp kiểm soát được chính xác nội dung miêu tả,
phân tích đã đạt được và căn cứ vào đó để chỉnh sửa, bổ sung nếu cần, tránh
được những kết luận thiếu nhất quán.
5.1.4. Phương pháp phân tích, quy nạp
Phương pháp này giúp khoá luận tổng hợp tất cả những nội dung đã thực
hiện ở trên rồi khái quát lại giúp cho các kết luận của khoá luận có căn cứ khách
quan, khoa học.
5.1.5. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp so sánh đối chiếu được chúng tôi sử dụng để so sánh tính lịch
sự trong lời mời ngôn ngữ Việt và tính lịch sự trong lời mời ngôn ngữ Thái.
Trên cơ sở đó, chỉ ra những điểm tương đồng và những nét khác biệt về tính lịch

nẻo” hay “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa”… Như vậy,
có thể thấy theo nhận thức thông thường, người ta quan niệm “đi”, “đứng”, “ăn”,
“uống”… mới là hành động, còn “nói” thì không được xếp vào chuỗi hành động.
Tuy nhiên, thực tế đã xác nhận rằng “nói” cũng là một hành động (Act). Đó là
hành động dùng ngôn ngữ để biểu hiện, diễn tả một thông báo gì đó. Hoạt động
lời nói là một phần, một dạng trong đời sống của con người. Nghiên cứu về hành
vi ngôn ngữ cũng có nhiều công trình khác nhau và đã có những kết luận khoa
học quan trọng.
1.1.1. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ của Austin
J.L.Austin – một nhà triết học người Anh là người xây dựng và đặt nền
móng cho lí thuyết hành vi ngôn ngữ. Năm 1955, tại trường đại học tổng hợp
Harvard (Mĩ), ông đã trình bày 12 chuyên đề. Những chuyên đề này, năm 1962
(tức hai năm sau ngày ông mất) đã được tập hợp lại xuất bản thành sách với
nhan đề “How to do things with words” (có thể tạm dịch là: Hành động như thế
nào bằng lời nói). Vào năm 1970, cuốn sách này được dịch sang tiếng Pháp với
nhan đề “Quand dire c′est faire” (khi nói tức là làm).[5]
Austin đã phân biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi. Từ đó,
phát hiện ra bản chất của ngôn ngữ và gọi hành vi ngôn ngữ là hành vi nói năng.
Theo Austin, khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động; chúng ta thực
hiện một hành vi đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Theo ông, có ba loại
hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn là: Hành vi tạo lời (Locutionary act),
hành vi mượn lời (Perlocutionary act), hành vi ở lời (Illocutionary act).
1.1.1.1. Hành vi tạo lời (Locutionary act)
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: âm, từ, các

8
kiểu kết hợp từ thành câu,… để tạo ra một phát ngôn hoàn chỉnh về nội dung và
hình thức. Chẳng hạn, khi ta nói:
(1) Hôm nay, thời tiết đẹp quá!
thì ta sử dụng các từ: Hôm nay, thời tiết, đẹp, quá và các quy tắc đặt câu của


9
được (khó kiểm soát). Chúng không có tính quy ước (trừ những hành vi mượn
lời đích của hành vi ở lời). [5]
1.1.1.3. Hành vi ở lời (Illocutionary act)
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu
quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một
phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Có rất nhiều hành vi ở
lời như: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn,… [5] Chẳng hạn, khi chúng ta hỏi
ai về một điều gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ trả lời chúng ta, cho dù phải
trả lời rằng không biết. Nếu không trả lời hoặc không đáp lại câu hỏi, người
nghe sẽ bị xem là không lịch sự.
Một đặc điểm nổi bật của hành vi ở lời là nó làm thay đổi tư cách pháp nhân
của người đối thoại. Chúng đặt người nói, người nghe vào những nghĩa vụ và
quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó. [5]
Bên cạnh đó, hành vi ở lời còn có các đặc điểm như: có ý định (có đích tại
lời), có quy ước và thể chế. Mặc dù, quy ước và thể chế của chúng không hiển
ngôn mà quy tắc vận hành chúng được cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách
không tự giác. Có thể nói, nắm được ngôn ngữ không chỉ là nắm được ngữ
nghĩa, âm, từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó mà còn là nắm được các quy tắc điều
khiển hành vi ở lời trong ngôn ngữ đó sao cho đúng lúc, đúng chỗ, thích hợp với
ngữ cảnh, thích hợp với “phông văn hóa” của dân tộc đó. Chẳng hạn:
Trong một cuộc liên hoan giữa các bạn sinh viên quốc tế cùng một kí túc xá
tại Úc, một bạn nữ sinh người Việt mặc chiếc áo dài trắng, chiếc áo dài ôm gọn
lấy tấm thân thon lẳn của cô. Cô vừa bước vào phòng tiệc thì Paul – anh bạn
người Úc ở cùng tầng với cô, anh nhìn cô với đôi mắt mở to và thốt lên:
(3) Thu, you look really sexy to day!
(Thu, hôm nay trông cậu thật gợi tình quá!)
Thu trợn tròn mắt, mặt đỏ lự, cô lao vội về phòng mình và cảm thấy rất
xấu hổ. [13]

1.1.1.5. Động từ ngữ vi
Động từ ngữ vi là động từ mà khi phát âm ra cùng với biểu thức ngữ vi (có
khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là lời nói thực hiện ngay các hành vi ở
lời do chúng ta biểu thị. Trong trường hợp xin lỗi, mời, cảm ơn, chúng ta thực
hiện hành vi xin lỗi, mời, cảm ơn chỉ bằng động từ ngữ vi chứ không phải là
biểu thức ngữ vi.
Austin cho rằng, động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi (có
hiệu lực ngữ vi) khi trong phát ngôn, nó được dùng ở ngôi thứ nhất (người nói
Sp1), thời hiện tại, thể chủ động, thức thực thi.
Ví dụ: (5) Tôi cảm ơn anh.
trong phát ngôn này, Sp1 thực hiện ngay hành vi cảm ơn bằng động từ ngữ vi

11
cảm ơn, bởi người nói là tôi – ngôi thứ nhất số ít, động từ cảm ơn được dùng ở
thời hiện tại, thể chủ động, thức thực thi.
1.1.1.6. Phân loại các hành vi ngôn ngữ theo Austin
Austin là người thử nghiệm thực hiện việc phân loại hành vi ngôn ngữ và
đã xếp chúng vào 5 phạm trù: 1.Phán xử; 2.Hành xử; 3.Cam kết; 4.Trình bày;
5.Ứng xử.
1.1.2. Lí thuyết hành vi ngôn ngữ của Searle
Với công trình Speech acts (hành vi ngôn ngữ) (1969), Searle được công
nhận là người có vị trí đặc biệt trong sự phát triển lí thuyết hành vi ngôn ngữ.
1.1.2.1. Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời theo Searle
Trên cơ sở phân tích một hành vi ở lời (hành vi “hứa” trong tiếng Anh),
Searle điều chỉnh lại, bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin và gọi
chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn. Mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải
có một hệ thống những điều kiện gọi là những quy tắc (Rules) để cho việc thực
hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó. Mỗi điều kiện là một điều kiện cần và
toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ. Theo Searle, có tất cả bốn điều kiện sử dụng
hành vi ở lời. Đó là: a.Điều kiện nội dung mệnh đề; b.Điều kiện chuẩn bị; c.Điều

h. Nội dung mệnh đề
Sp2 thực hiện A (tức là một hành vi nào đó) là đặc trưng của nội dung
mệnh đề sai bảo, còn Sp1 thực hiện A là hứa hẹn.
i. Hứa hẹn chỉ có thể thực hiện bằng lời
Điều này khác với xin lỗi hoặc cảm ơn, có thể thực hiện bằng cả những
hành vi ngoài lời.
k. Đặt tên thánh và rút phép thông công
Đặt tên thánh và rút phép thông công đòi hỏi phải có thể chế xã hội mới có
hiệu lực, nhưng trần thuật thì không đòi hỏi như vậy.
m. Không phải tất cả các tác động từ gọi tên hành vi ở lời đều là động từ
ngữ vi.
Ví dụ: (12) Việc khoe và dọa không phải là động từ ngữ vi.
Ví dụ: (13) Công bố và thổ lộ khác nhau ở phong cách thực hiện.
Searle đã dùng bốn trong 12 tiêu chí trên để phân lập 5 loại hành vi ở lời.
Đó là, dựa vào các tiêu chí đích ở lời, tiêu chí khớp – ghép, trạng thái tâm lí và
tiêu chí nội dung mệnh đề, Searle phân lập 5 loại hành vi ở lời như: tái hiện,
điều khiển, biểu cảm, tuyên bố. 13
1.1.3. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
1.1.3.1. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Trong các hành vi ngôn ngữ chân thực (hành vi ở lời), ta thấy những hành
vi ngôn ngữ được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của
chúng. Đây là hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp hướng
phát ngôn tới một mục đích duy nhất.
Ví dụ: (14) Khi ta nói:
Mai đi họp lớp.
Như vậy, ta thực hiện một hành vi thông báo là mai đi họp lớp mà ta không
có mục đích gì khác ngoài đích thông báo nội dung trên.

Duyệt 1 (bạn trai)
- Thôi bọn này về nhé.
Hồng (cô gái khác trong phòng)
- Sao vội về thế, ngồi chơi đã.
Duyệt 2
- Thôi có người đuổi rồi, muốn ở cũng chẳng được.
Lan 2
- Đúng là trai khoa Văn. Sao tự ái thế !
Hoặc :
b. (Một cô bé có lệ hễ được 10 điểm là mẹ cho ăn kem)
Con 1 :
- Mẹ ơi, hôm nay con được điểm mười toán.
Mẹ :
- Nhưng trời lạnh thế này !
Con 2 :
Ứ, mẹ phải giữ đúng lời hứa chứ !
[5]
Ở ví dụ a, Lan đã dùng hành vi ở lời trực tiếp là hỏi để nhằm làm cho các
bạn trai nắm được hiệu lực ở lời gián tiếp là “mời họ ra về” hay là “đuổi
khéo”. Hiệu quả gián tiếp này đã đạt hiệu quả và được Duyệt “phiên dịch” rõ
ra “có người đuổi rồi”. Chúng ta nói hành vi ở lời “đuổi khéo” là hành vi ở
lời gián tiếp.
Ở ví dụ b, con 1 dùng hành vi ở lời trực tiếp là thông báo nhưng gián tiếp là
“đòi ” (mẹ mua kem cho mình). Lời đáp của mẹ trực tiếp là đánh giá nhưng
gián tiếp là hành vi ở lời “từ chối” (lời đòi hỏi của con) hoặc giả là “hoãn” việc
thực hiện điều mình đã cam kết với con.

15
Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính
mơ hồ về nghĩa trong lời nói. Tuy nhiên, không phải tùy tiện muốn dùng hành vi

và việc tôn trọng nguyên lí hội thoại. Đặc điểm ngoại tại được thể hiện qua số
lượng, quan hệ và chu cảnh. 16
1.2.3. Cấu trúc một cuộc thoại
Trong một cuộc nói chuyện, người ta có thể trao đổi hết vấn đề này sang
vấn đề khác, nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Chúng làm nên
ranh giới một cuộc thoại. Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn luôn do một
bên chủ động. Lúc kết thúc cũng do một bên chủ động đề ra, gọi là kết thoại
(closing). Giữa phần mở thoại và kết thoại là phần trung tâm cuộc thoại, gọi là
phần thân thoại. Như vậy, cấu trúc một cuộc thoại bao gồm : mở thoại – thân
thoại – kết thoại.
1.2.4. Các nguyên tắc hội thoại
Nghiên cứu về các nguyên tắc hội thoại, các nhà ngôn ngữ học đã thống
nhất ở ba nguyên tắc là : a.Luân phiên lượt lời ; b.Nguyên tắc cộng tác hội
thoại ; c.Nguyên tắc tôn trọng thể diện của những người tham gia hội thoại ;
nguyên tắc khiêm tốn.
1.3. Lí thuyết lịch sự
1.3.1. Khái niệm lịch sự
Lịch sự là có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm
và phép tắc xã giao của xã hội. [22]
Từ “lịch sự” được dùng trong nhiều ngôn ngữ từ xa xưa. Ở Việt Nam, lịch
sự bắt nguồn trong các chế định về “ lễ ” và được hiểu rất rộng. Lễ bao gồm mọi
cách xử sự trong một xã hội có tổ chức, nhất là xã hội phong kiến. Chịu ảnh
hưởng của phong kiến Trung Hoa, tại Việt Nam, lễ được chế định thành những
phương châm xử thế. Kẻ bề tôi phải trung thành với vua đến mức : Quân xử
thần tử, thần bất tử bất trung (vua khiến bề tôi chết, bề tôi không chết là không
trung thành với vua) và nếu bất trung thì có chế tài xử phạt. Người thuộc nữ giới
phải giữ ba điều theo (tam tòng) rất nghiệt ngã : Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng

nghiên cứu về phép lịch sự. [9]
Như vậy, lịch sự ngày nay đã trở thành mối quan tâm lớn và thường
xuyên của ngữ dụng học. Nhiều nhà nghiên cứu Âu – Mĩ đã xây dựng nên
những quan điểm tương đối về lịch sự, nâng những vấn đề thực tiễn trong
giao tiếp lịch sự lên thành “lí thuyết lịch sự” (theory of politeness) theo đúng
nghĩa của tên gọi này.
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi đưa ra những quan
điểm nghiên cứu về phép lịch sự trên thế giới như : Quan điểm của R. Lakoff,
quan điểm của G.N. Leech, quan điểm của P.Brown và S.Levinson và quan
điểm về lịch sự của một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam.
1.3.2. Một số quan điểm về lịch sự trên thế giới
1.3.2.1. Quan điểm về lịch sự của R. Lakoff
R.Lakoff nêu ra ba quy tắc lịch sự khác nhau để người nói có thể lựa chọn
và thể hiện lịch sự. Các quy tắc đó là :
- Quy tắc 1: Không áp đặt (Don’t impose)
- Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn (offer option)

18
- Quy tắc 3: Tăng cường tình cảm bằng hữu (Encourage feelings of ca maraderie)
Quy tắc 1 được dùng trong phép lịch sự quy thức (formal politeness). Quy
tắc này thích hợp với tình huống có sự khác nhau về quyền lực và địa vị giữa
những người tham gia tương tác như giữa một sinh viên và chủ nhiệm khoa,
giữa một công nhân nhà máy và vị phó giám đốc phụ trách nhân sự,… Không áp
đặt ở đây là không áp đặt đối với H (người nghe), có nghĩa là không ngăn cản H
hành động theo ý muốn của mình. Trái với không áp đặt là áp đặt đối với H, có
nghĩa là làm cho H không được hành động theo mong muốn của H. Người nói S
thực hiện lịch sự theo quy tắc không áp đặt sẽ tránh được hoặc làm giảm nhẹ sự
áp đặt bằng cách xin phép, xin lỗi H, khi buộc H làm một việc gì đó mà H không
muốn làm, tránh cả những hành động khiến H xao lãng việc H đang làm hoặc
điều H đang nghĩ tới. Khi S đang nói với H, S cũng sẽ lựa chọn những hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status