KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC TÌM HIỂU ĐỊA LÍ CHÂU ÂU ĐỂ DẠY HỌC CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5 - Pdf 22

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài. 2
2.1. Mục đích 2
2.2. Nhiệm vụ 2
2.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
4.1. Phương pháp thu thập thông tin 3
4.2. Phương pháp sử dụng bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh 3
4.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 4
4.4. Phương pháp thực nghiệm 4
5. Đóng góp của đề tài 4
6. Cấu trúc của đề tài 5
CHƢƠNG 1: TÌM HIỂU NHỮNG KIẾN THỨC ĐỊA LÍ CHÂU ÂU LIÊN
QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5 6
1.1. Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ 6
1.2. Đặc điểm tự nhiên 8
1.2.1. Đặc điểm địa hình 8
1.2.2. Đặc điểm khí hậu 9
1.2.3. Đặc điểm sông ngòi. 12
1.2.4. Các đới cảnh quan tự nhiên 14
1.2.5. Một số cảnh quan thiên nhiên nổi bật ở châu Âu 17
1.3. Đặc điểm dân cƣ 20
1.3.1. Dân cư và sự phân bố dân cư 20
1.3.2. Thành phần chủng tộc 21
1.4. Kinh tế châu Âu 22
1.4.1. Đặc điểm kinh tế châu Âu 22

2
3

4
Lƣợc đồ tự nhiên châu Âu
Lƣợc đồ khí hậu châu Âu
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của hai lớp thực nghiệm và
đối chứng
Biểu đồ so sánh kết quả học tập của hai lớp thực nghiệm và
đối chứng
8
12
50

52

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
STT
Số bảng
Tên bảng
Trang
1
2
3

4
5
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3

Bắt đầu từ năm 1996, các môn học về Tự nhiên và Xã hội đƣợc đƣa vào
giảng dạy chính thức trên phạm vi các trƣờng tiểu học trên toàn quốc. Trong
chƣơng trình năm 2000, môn học Tự nhiên và Xã hội đƣợc tách thành môn Tự
nhiên và Xã hội ở lớp 1,2,3. Ở lớp 4, lớp 5 phân môn này lại đƣợc tách thành
môn Khoa học và môn Lịch sử và Địa lí. Điều này đã góp phần làm rõ hơn đặc
trƣng của các môn học, đặc biệt là môn Địa lí. Môn Địa lí ở lớp 4, lớp 5 cung
cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự vật hiện tƣợng và
các mối quan hệ đơn giản ở Việt Nam và các châu lục, đại dƣơng trên thế giới.
Thông qua đó cũng rèn luyện và phát triển cho học sinh khả năng quan sát,
phân tích, so sánh, tổng hợp, thu thập thông tin… tạo cơ sở để các em học tốt
môn học này ở các lớp trên.
Chƣơng trình môn Địa lí lớp 5 có nội dung rất rộng, không chỉ cung cấp
cho học sinh những kiến thức về con ngƣời, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội
của Việt Nam mà còn của cả các châu lục và đại dƣơng trên thế giới. Trong khi
đó, thời lƣợng để học tập nghiên cứu của sinh viên ngành Tiểu học trong các
trƣờng Sƣ phạm về chủ đề Địa lí lớp 5, đặc biệt là phần địa lí châu Âu là tƣơng
đối ít, sinh viên chƣa có đầy đủ thời gian để tìm hiểu cụ thể, nghiên cứu sâu để
tích lũy kiến thức phục vụ cho việc giảng dạy sau này.

2
Nội dung kiến thức về châu Âu cung cấp trong sách giáo khoa Địa lí lớp 5
chỉ đƣợc giới thiệu trong hai bài, chỉ khái quát những nét cơ bản nhất trong khi
đó nội dung ở phần này khó, lƣợng kiến thức rộng. Vì vậy, nếu giáo viên không
tự trang bị cho bản thân kiến thức sâu rộng về nội dung này thì rất khó giảng
dạy tốt, nên việc tìm hiểu nghiên cứu là vô cùng cần thiết.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi xin lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“ Tìm hiểu địa lí châu Âu để dạy học chủ đề địa lí lớp 5 ”.
2. Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích
Đề tài tổng hợp những vấn đề cơ bản nhất về đặc điểm địa lí châu Âu có

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập thông tin
Hiện nay, có rất nhiều quyển sách viết về châu Âu ở nhiều mặt khác nhau.
Vì vậy, ngƣời nghiên cứu phải có một lƣợng kiến thức nhất định và có tƣ duy
lôgíc để lựa chọn đƣợc những tài liệu thực sự hữu ích phục vụ cho đề tài và
phục vụ cho việc giảng dạy sau này. Có thể thu thập thông tin ở các nguồn khác
nhau nhƣ: sách giáo khoa, sách chuyên ngành, báo chí, internet, qua các phƣơng
tiện thông tin đại chúng… những thông tin thu đƣợc sẽ là tƣ liệu để giúp ta hiểu
sâu sắc hơn về địa lí châu Âu.
Thu thập tài liệu, đọc và phân tích nội dung có liên quan một cách đầy đủ,
chi tiết để tổng hợp thành tài liệu tham khảo, sau đó tiến hành chọn lọc và tổng
hợp theo từng nội dung cụ thể.
Hệ thống hóa, sắp xếp các tài liệu, thông tin thu đƣợc có liên quan đến nội
dung nghiên cứu theo hệ thống cấu trúc khoa học. Các nguồn tài liệu, thông tin
thu đƣợc đƣợc chọn lọc theo từng nội dung, cung cấp kiến thức giúp ta hiểu hơn
về địa lí châu Âu.
4.2. Phương pháp sử dụng bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Bản đồ, lƣợc đồ, biểu đồ, tranh ảnh là nguồn tài liệu vô cùng phong phú và
quan trọng trong việc khai thác thông tin về địa lí thế giới và các vấn đề về địa
lí châu Âu nói riêng. Đây là nguồn tài liệu quan trọng đối với sinh viên sƣ
phạm, với giáo viên giảng dạy môn Địa lí và với những ai quan tâm đến vấn đề

4
địa lí. Thông qua bản đồ, lƣợc đồ, biểu đồ, tranh ảnh ta có thể rút ra đƣợc những
nội dung kiến thức cơ bản.
Các bản đồ nhƣ: bản đồ địa lí thế giới, bản đồ khí hậu thế giới, bản đồ dân
cƣ thế giới… Các lƣợc đồ nhƣ: lƣợc đồ tự nhiên, lƣợc đồ kinh tế, lƣợc đồ dân
cƣ… của châu Âu. Các tranh ảnh có liên quan nhƣ: tranh ảnh về con ngƣời,
cảnh quan thiên nhiên, hoạt động kinh tế…
Thông qua nghiên cứu bản đồ, lƣợc đồ, biểu đồ, tranh ảnh sẽ giúp ngƣời

giáo án vào dạy học chủ đề địa lí lớp 5;
Chƣơng 3: Thực nghiệm.
6
CHƢƠNG 1: TÌM HIỂU NHỮNG KIẾN THỨC ĐỊA LÍ CHÂU ÂU LIÊN
QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5


Về giới hạn, phần lớn châu Âu đƣợc bao bọc bởi các biển và đại dƣơng:
Phía bắc, châu Âu tiếp giáp với biển Baren, Bạch Hải (Biển Trắng), biển
Nauy, là những biển thuộc phạm vi phía tây Bắc Băng Dƣơng. Trong đó, biển
Nauy là một biển sâu trên 3000 m, hai biển còn lại nằm trên thềm lục địa với độ
sâu không quá 300 m. Các biển này đƣợc phân cách với nhau bởi hệ thống các
đảo và bán đảo nhƣ: Nôvaia Demlia, Đất Phran Iôxip, Xpitbecghen, bán đảo
Xcanđinavi, quần đảo Pharôê và đảo Aixơlen.

7
Phía tây, châu Âu tiếp giáp với Đại Tây Dƣơng, có các biển và vịnh biển
ven bờ: biển Bắc là một biển nông, nằm trên chỗ tiếp giáp giữa hai lƣu vực Đại
Tây Dƣơng và Bắc Băng Dƣơng, nằm giữa đảo Anh, bán đảo Xcanđinavi và
bán đảo Giutlen; biển Bantich cũng là một biển nông, ăn sâu vào đất liền nên
khá kín và chỉ thông với biển Bắc qua eo biển hẹp nằm giữa hai bán đảo
Giutlen và Xcanđinavi nhƣ các eo Xcagerăc, Cáttêgát… Độ sâu trung bình của
đáy biển thay đổi từ 60- 130 m. Độ mặn của biển rất thấp, thƣờng từ 11‰ ở
phía tây, đến 2-3‰ ở sâu phía đông bắc. Mùa đông biển bị đóng băng từ 3- 4
tháng. Biển Bantich có vai trò về giao thông rất quan trọng đối với các nƣớc
Bắc và Trung Âu, là cửa ngõ thông ra Đại Tây Dƣơng của nhiều nƣớc nhƣ:
Phần Lan, Thụy Điển, Liên Bang Nga, Extônia, Látvia, Lítva, BaLan, Liên
Bang Đức, Đan Mạch. Vì vậy, biển Bantích là biển không những đóng vai trò
về tự nhiên và cả về kinh tế chính trị và quân sự.
Phía nam, châu Âu tiếp giáp với Địa Trung Hải. Đây là biển khá lớn và
kín. Trƣớc kia, khi chƣa có kênh đào Xuyê, Địa Trung Hải chỉ thông với Đại
Tây Dƣơng qua eo biển Gibranta (nơi hẹp nhất chỉ 14 km và dài khoảng 65 km)
Tuy cũng là biển nội địa nhƣng Địa Trung Hải khác hẳn với biển Bantich ở chỗ:
Địa Trung Hải là biển sâu (độ sâu trung bình 1500m, trong đó có nhiều chỗ sâu
hơn 2000 m) đồng thời nƣớc biển rất mặn. Độ mặn trung bình từ 37-39‰.
Địa Trung Hải là một biển bị chia cắt phức tạp, có nhiều biển nhỏ và rất
kín ăn sâu vào đất liền. Nếu đi từ đông sang tây chúng ta sẽ lần lƣợt qua các

9
Các đồng bằng và dãy núi tập trung thành một dải nằm giữa các dãy núi Bắc Âu
và Nam Âu, tạo thành hành lang hƣớng đông tây. Hƣớng bắc nam hoặc gần
hƣớng bắc nam, trong đó có dãy Uran làm thành ranh giới tự nhiên phía đông
của châu lục. Ngoài ra còn có các dãy núi thấp trên đảo Anh, núi Apennin trên
bán đảo Italia và các dãy núi Pin và Đina trên bán đảo Bancăng.
Các núi trẻ và cao tập trung ở Nam Âu, trong đó đỉnh núi cao nhất châu lục
là Mông Blăng nằm trong dãy Anpơ, đạt tới 4807 m. Vùng núi cao Anpơ ở
Nam Âu là nơi có băng hà núi phát triển, đồng thời Nam Âu cũng là khu vực
thƣờng có động đất và núi lửa hoạt động.
Tóm lại, châu Âu có ba dạng địa hình chính: đồng bằng kéo dài từ tây sang
đông, núi thấp ở phía bắc và vùng trung tâm, núi trẻ ở phía nam
1.2.2. Đặc điểm khí hậu
Sự hình thành khí hậu châu Âu do tác động của các nhân tố: Vị trí địa lí,
hình dạng, kích thƣớc lãnh thổ. Châu Âu nằm chủ yếu trên các vĩ độ cận nhiệt
đới và ôn đới; nằm tiếp giáp với các biển và đại dƣơng ở phía bắc, phía tây,
phía nam và với châu Á ở phía đông; đƣờng bờ biển bị chia cắt mạnh, lãnh thổ
có nhiều bán đảo vƣơn xa ra biển, đồng thời có nhiều biển và vịnh biển ăn sâu
vào đất liền. Đây là những nhân tố đầu tiên có ảnh hƣởng to lớn đến sự hình
thành khí hậu ở châu Âu.
Cấu tạo địa hình của lãnh thổ càng làm tăng hiệu lực của gió tây. Dải đồng
bằng và núi đồi thấp nằm giữa các dãy núi cao ở Bắc và Nam Âu làm cho khối
khí ôn đới hải dƣơng dễ xâm nhập sâu vào nội địa cho đến tận giới hạn phía
đông của lãnh thổ. Các sƣờn núi theo hƣớng bắc nam hoặc gần bắc nam là
những nơi đón gió, tạo những vùng mƣa lớn trên châu lục. Trên các núi cao, khí
hậu thay đổi theo đai cao.
Các dòng biển ở châu Âu, đặc biệt là dòng Bắc Đại Tây Dƣơng chảy theo
hƣớng tây nam – đông bắc qua tây bắc châu Âu có tác dụng làm cho nƣớc và
không khí trên các biển ấm lên. Biển không bị đóng băng vào mùa đông nên
mùa đông châu Âu có thời tiết ấm và ẩm ƣớt.

quanh năm chịu ảnh hƣởng trực tiếp của dòng biển nóng và gió tây từ biển vào,
chế độ khí hậu rất điều hòa. Mùa đông, thời tiết ấm, dịu, không có băng giá nhƣng
thƣờng có mƣa to, gió mạnh và sƣơng mù dày đặc. Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ
1-6
o
C khi có tuyết rơi. Mùa hạ, mát mƣa nhiều và ít nóng nực. Nhiệt độ trung bình
tháng 7 thay đổi từ 12-18
o
C. Mƣa nhiều phân bố quanh năm với lƣợng mƣa trung
bình khoảng 800-1000 mm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sự nóng lên
của khí hậu toàn cầu, thời tiết trên thế giới nói chung cũng nhƣ kiểu khí hậu này
đã có những biểu hiện bất thƣờng, khác với quy luật thông thƣờng.
- Kiểu khí hậu ôn đới chuyển tiếp bao gồm phần còn lại của đới khí hậu ôn
đới châu Âu. Trong kiểu khí hậu này, do không khí hải dƣơng khi vào đất liền

11
bị biến tính, nên về mùa đông càng vào sâu nội địa càng lạnh, còn về mùa hạ
càng nóng, lƣợng mƣa hàng năm giảm và thời gian băng giá kéo dài. Nhiệt độ
trung bình tháng 1 thay đổi từ 0
o
C đến -15
o
C, còn tháng 7 từ +12
o
C đến +24
o
C
theo hƣớng từ tây sang đông. Lƣợng mƣa trung bình giảm theo hƣớng nói trên,
từ 700-300 mm, vì thế vùng tây nam đồng bằng Nga là nơi khô hạn nhất và mùa
hạ thƣờng xảy ra hạn hán.

- Sông ngòi rất phát triển và phân bố đều trên toàn lãnh thổ, tạo thành một
mạng lƣới sông ngòi dày đặc.
- Đa số các sông đều là sông ngắn và có diện tích lƣu vực nhỏ.
- Đƣờng phân thủy giữa các lƣu vực sông thấp nên dễ xây dựng các kênh
đào nối liền các sông với nhau. Hệ thống kênh đào ở châu Âu rất phát triển, nhờ
đó việc giao thông đƣờng sông rất phát triển.
- Vùng Bắc Âu và vùng đồng bằng Nga là những vùng chịu ảnh hƣởng của
băng hà Đệ Tứ, vì thế đây cũng là vùng có nhiều hồ có nguồn gốc băng hà, các
sông trẻ, có nhiều thác gềnh. Mặt khác các sông còn nối liền với các hồ tạo
thành một mạng lƣới sông, hồ phức tạp.
Theo thống kê, toàn châu Âu chỉ có 20 con sông dài hơn 1000 km, trong
đó có 4 sông dài trên 2000 km là các sông: Vonga, Đanuyp, Uran và Đniep.
Sông Vonga là con sông dài nhất và nhiều nƣớc nhất châu Âu. Con sông

13
dài 3700 km. Diện tích lƣu vực của sông là rộng 1,38 triệu km
2
. Sông bắt nguồn
từ đồi Vanđai thuộc miền đất cao Trung Nga và chảy vào biển Caxpi. Ở hạ lƣu,
sông bồi thành một đồng bằng châu thổ rộng 13000 km
2
. Nguồn cung cấp nƣớc
cho sông gồm nƣớc tuyết tan chiếm 60%, nƣớc ngầm chiếm 30% và 10% là
nƣớc mƣa. Về chế độ dòng chảy, sông có hai thời kì nƣớc lớn: một vào cuối
xuân đầu hạ do tuyết tan từ tháng 3 đến tháng 6 và một vào cuối thu từ tháng 10
đến tháng 11 do mƣa. Ngày nay, do xây dựng các đập thủy điện nên chế độ
sông điều hòa hơn. Lƣu lƣợng nƣớc trung bình tại thành phố Vongagrat là 8150
m
3
/s. Phía dƣới thành phố, càng đi về phía hạ lƣu, lƣu lƣợng càng giảm dần.

14
gia: Nga, Bêlarut, Ucraina. Sông Đniep là quan trọng đối với vận tải và kinh tế
của Ucraina. Con sông có thể cho tàu bè qua lại này nối liền với kênh đào
Đniep-Bug, là đƣờng liên kết với con sông ở Ba Lan là sông Tây Bug. Con
sông này nổi tiếng vì những đập ngăn nƣớc của mình, thông thƣờng đƣợc nhắc
đến nhƣ là những thành tựu của nền công nghiệp thời kỳ Xô viết. Một trong
những con đập nổi tiếng là nhà máy thủy điện Đniep, đƣợc xây dựng trong
những năm 1927-1932 với sông suất 558 MW. Nhà máy này đã bị phá hủy
hoàn toàn trong chiến tranh thế giới thứ hai và năm 1948 nó đƣợc xây dựng lại
và công suất của nó tăng lên tới 750 MW.
1.2.4. Các đới cảnh quan tự nhiên
Các cảnh quan tự nhiên của châu Âu có thể chia thành 6 đới chính sau đây:
* Đới đồng rêu (hay đài nguyên)
Ở châu Âu, đới này chỉ chiếm diện tích nhỏ hẹp và đƣợc hình thành trong
đới khí hậu cực và cận cực. Do điều kiện khí hậu lạnh và ẩm quanh năm, mùa
đông lớp tuyết phủ kéo dài nên các loài thực vật bậc cao không phát triển đƣợc
chỉ có rêu và địa y là chủ yếu. Còn phần phía bắc đồng bằng Nga, bán đảo
Xcanđinavi và phía nam đảo Aixơlen do điều kiện khí hậu ấm hơn nên phát
triển loài cây bụi nhƣ bạch dƣơng lùn, liễu lùn trên các đất cát, đá dăm với địa
hình dễ thoát nƣớc. Còn một số thung lũng kín gió ở phía nam Aixơlen còn có
các loại cỏ mọc khá cao và các loại cây bụi. Do phủ lớp thực vật nghèo nên giới
động vật cũng rất nghèo về thành phần loài. Ở đây thƣờng gặp chuột Lemmút,
nguồn thức ăn cho các loài chó sói, chồn, cú Bắc cực
* Đới rừng taiga hay rừng lá kim
Ở châu Âu, đới rừng này chiếm một dải rộng bao gồm phần lớn bán đảo
Xcanđinavi, phần đồng bằng Nga cho đến khoảng vĩ tuyến 56-57
o
B. Đây là khu
vực thuộc kiểu khí hậu ôn đới lạnh, về mùa đông có băng giá kéo dài và băng
kết vĩnh cửu còn phổ biến. Đới rừng taiga đƣợc hình thành sau thời kì băng hà

cho đến phía nam dãy Uran và tiếp giáp với đới bán hoang mạc ở miền tây bắc
Cacxpi. Ngoài ra cảnh quan thảo nguyên rừng và thảo nguyên còn phát triển
trên đồng bằng trung và hạ lƣu sông Đanuyp. Điều kiện khí hậu trong các đới
này mang tính lục địa khá rõ: mùa đông lạnh và kéo dài, mùa hạ tƣơng đối
nóng. Do ít mƣa nhƣng lƣợng bốc hơi lớn nên nƣớc trên mặt và nƣớc ngầm

16
kém, hiện tƣợng thiếu ẩm xuất hiện nên làm cho thực vật ƣa khô phát triển
thuận lợi, đồng cỏ dần dần thay thế rừng. Cảnh quan thảo nguyên rừng phân bố
chủ yếu ở phía bắc của đới. Ở đây các đồng cỏ mọc xen vào giữa các khu rừng,
còn xuống phía nam, do khí hậu nóng và khô hơn nên đồng cỏ chiếm toàn bộ
lãnh thổ của đới. Thực vật thân gỗ của đới thảo nguyên gồm có sồi, dẻ rừng,
phong và bạch dƣơng, còn thực vật cỏ phổ biến nhất là cỏ vũ mao, cỏ vũ mao
lông dài và cỏ mục dịch.
Giới động vật của hai đới này có sự khác nhau khá rõ: ở đới thảo nguyên
rừng có nhiều loài động vật nhƣ chồn, sóc, thỏ nâu và các loài chim nhỏ ăn sâu
bọ, hoa quả; ở đới thảo nguyên rừng có nhiều loại gặm nhấm và ăn cỏ nhƣ các
loài sơn dƣơng, nhiều loài chuột và dê và các loài động ăn thịt nhƣ chó sói,
chồn, đại bàng thảo nguyên…
Thổ nhƣỡng của đới thảo nguyên rừng là đất rừng xám và đất đen rửa trôi,
còn của đới thảo nguyên là đất đen và đất hạt dẻ. Đất tốt và đồng cỏ rộng là
điều kiện thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi phát triển.
* Đới bán hoang mạc và hoang mạc ôn đới
Ở châu Âu đới này chiếm diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở trên các vùng
đất thấp ở phía bắc và phía tây biển Cacxpi.
* Đới rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt hay đới Địa Trung Hải
Đới này phân bố chủ yếu ở các vùng ven bờ Địa Trung Hải. Điều kiện khí
hậu trong đới này có sự khác biệt rất rõ rệt giữa mùa đông và mùa hạ. Mùa
đông thời tiết ấm và ẩm, có mƣa nhiều nhƣng đến mùa hạ khô nóng và mƣa
không đáng kể. Để tồn tại trong điều kiện khô nóng, bốc hơi mạnh, thiếu ẩm

hình, dấu tích chính là các dải đồi băng tích dạng vòng cung, tâm hƣớng về bán
đảo Xcanđinavi, cách nhau bởi các thung lũng rộng và có nhiều hồ. Cấu tạo địa
chất của các dải đồi thƣờng có thành phần phức tạp: đá dăm, cuội, sỏi, cát, sét
thi thoảng có các tảng đá lớn không thuộc nguồn gốc địa phƣơng. Với nền địa
chất này, lớp đất hình thành trên mặt đất thƣờng là đất xấu, nghèo dinh dƣỡng.
Phần nam đồng bằng ở ngoại vi băng hà Đệ Tứ, cấu tạo địa hình và địa chất có
liên quan với vùng nền và quá trình xâm thực do nƣớc chảy.
Đồng bằng chủ yếu nằm trong đới khí hậu ôn đới chuyển tiếp nhƣng do
kích thƣớc rộng lớn nên có sự khác nhau giữa các vùng khá rõ. Nhìn chung,

18
càng về phía nam khí hậu càng ấm dần, càng về phía đông và đông nam tính lục
địa càng tăng, còn về phía tây tính hải dƣơng càng rõ. Vùng đông nam đồng
bằng, nhất là vùng đất thấp cận Caxpi là vùng có khí hậu lục địa khô hạn.
* Bán đảo Xcanđinavi
Bán đảo Xcađinavi là bán đảo lớn nhất ở Châu Âu. Chiều dài của bán đảo
là 1.900 km, chỗ rộng có nơi đến 800 km. Diện tích 800 nghìn km
2
. Bao bọc
bởi các biển Baren, Na Uy, Biển Bắc, Bantich. Bờ phía tây và phía bắc cao, dốc
và bị chia cắt mạnh mẽ bởi Phio, bờ nam và phía đông thấp, lởm chởm đá,
thuộc kiểu bờ vách dựng đứng. Phần lớn bán đảo là miền núi cùng tên, độ cao
trung bình 1.200 - 1.400 m, nhƣng trên mặt vẫn còn lại các bề mặt san bằng
rộng, ngƣời địa phƣơng gọi là fande, nằm trên các độ cao khác nhau. Sƣờn
đông của núi Xcanđinavi đổ dốc thoải xuống miền đồng bằng có mạng lƣới
sông hồ dày đặc, trên đồng bằng còn nhiều dạng địa hình nguồn gốc sông băng
nhƣ các dãy đồi băng tích, các khối đá trán cừu, các thung lũng sông băng cũ và
nhiều hồ. Ở phía bắc - đài nguyên và rừng lá kim; ở phía nam - rừng hỗn giao
và rừng lá rộng. Khoáng sản có nhiều loại nhƣ: sắt, đồng, chì, kẽm…
Bán đảo Xcanđinavi là bán đảo có xƣơng sống là dãy núi Xcanđinavi, kéo

cao. Đới thấp, cho đến độ cao 800 – 1000 m thuộc khí hậu ôn đới ấm và ẩm,
phát triển rừng lá rộng. Trong rừng có sồi, dẻ, dẻ gai và thông. Ngày nay, phần
lớn đất đai thuộc vành đai này đã đƣợc khai phá để trồng trọt. Lên cao hơn, từ
1000 – 1800 m, thuộc kiểu khí hậu ẩm và lạnh, rừng lá rộng đƣợc thay thế bởi
rừng hỗn hợp và sau đó là rừng lá kim. Trong vành đai này rừng đƣợc bảo vệ
khá tốt. Từ 1800 – 2300 m khí hậu trở nên giá buốt, phát triển cây bụi và đồng
cỏ núi cao. Đây là vùng đồng cỏ chăn thả súc vật về mùa hạ rất tốt, dân địa
phƣơng thƣờng gọi là “anpi”. Từ 2300 – 2500 m trở lên thuộc đới băng tuyết
vĩnh viễn. Các băng hà lớn có thể trƣờn xuống thấp tới độ cao từ 1500 – 1100 m
trên mực nƣớc biển.
Nhờ có mƣa và nguồn nƣớc tuyết và băng hà cung cấp, mạng lƣới sông
vùng núi Anpơ khá phát triển và có nhiều nƣớc. Các sông có nhiều thác ghềnh
nên có dự trữ thủy năng khá lớn. Đến nay, các nƣớc Pháp, Italia, Áo, Thụy Sỹ
và Đức đều đã xây dựng các trạm thủy điện ở vùng này. 20
* Đồng bằng Trung Âu
Vùng đồng bằng này bao gồm lãnh thổ của các nƣớc Đức, Ba Lan và Cộng
hòa Séc. Toàn miền đƣợc hình thành trên đới uốn nếp Cổ Sinh chịu quá trình
san bằng lâu dài nên có bề mặt tƣơng đối bằng phẳng. Đến cuối Tân Sinh, do
ảnh hƣởng của các tân kiến tạo, toàn miền bị nâng lên và bị đứt gãy làm cho địa
hình bị chia cắt mạnh, trong đó khu vực đƣợc nâng lên nhiều nhất tại thành các
núi trung bình và núi thấp là các dãy núi Quặng, núi Xuyđét ở biên giới Séc –
Ba Lan, rừng Bôhem ở tây nam Séc giáp với Đức.
Vùng đồng bằng Trung Âu có độ ẩm vừa phải nên rừng lá rộng chiếm ƣu
thế. Trƣớc đây, khi chƣa bị khai thác, rừng bao phủ hầu nhƣ khắp mọi nơi, nhất
là trên các vùng đồi núi. Bởi vậy, nhiều núi ở Trung Âu đều có tên là “rừng”
nhƣ: Rừng Bôhem, Rừng Đen, Rừng Tuyranh… Các đồng bằng ven biển, ngoài
rừng còn có các đồng cỏ rộng. Dƣới rừng và đồng cỏ hình thành đất rừng xám

2
, Đức 299
ngƣời/km
2
, là những nƣớc có mật độ dân số vào loại cao nhất châu Âu.
- Nam Âu có mật độ dân số trung bình là 117 ngƣời/km
2
, trong đó nơi có
mật độ dân số cao nhất là Manta 1262 ngƣời/km
2
.

21
Về trình độ đô thị hóa, châu Âu vào loại cao nhất thế giới. Phần lớn dân
cƣ sống trong các thành phố, đƣợc phân bố khá đều trên lãnh thổ châu Âu,
Nếu nhƣ tỉ lệ dân thành thị của thế giới là 52% (2012) thì ở châu Âu là 71%.
Trong đó, ở Bắc Âu là 77%, Đông Âu là 69%, Nam Âu 67% và Tây Âu 75%.
Nếu tính từng quốc gia thì Manta và Monaco là hai nƣớc có dân số sống ở
thành thị cao nhất đạt 100%, sau đó là Bỉ 99%.
Về sự gia tăng tự nhiên của dân cƣ, châu Âu có thể xếp vào loại thấp nhất
thế giới. Tỉ lệ gia tăng tự nhiên toàn thế giới là 1,2% (năm 2012) thì châu Âu
chỉ là 0,0%, song tỉ lệ gia tăng cũng không đều. Nƣớc có tỉ lệ gia tăng tự nhiên
cao nhất là Kôxôvô 1,2%. Nƣớc có tỉ lệ gia tăng thấp là Latvia và Bungari: -
0,5%. Sự gia tăng tự nhiên thấp nhƣng tuổi thọ trung bình cao (77 tuổi), nên tỉ
lệ ngƣời già cao, tỉ lệ số dân phụ thuộc lớn. Đó là những khó khăn đối với nhiều
nƣớc ở châu Âu hiện nay.
1.3.2. Thành phần chủng tộc
Thành phần chủng tộc của dân cƣ châu Âu nói chung tƣơng đối đơn giản.
Toàn bộ cƣ dân châu Âu đều thuộc đại chủng Ơrôpêôit hay ngƣời da trắng. Đặc
điểm chung của ngƣời da trắng là da màu sáng hoặc ngăm, tóc mềm, thẳng hoặc

EU nhằm làm cho châu Âu thay đổi mạnh mẽ trong những thập niên của thế kỷ
XXI với các biện pháp thúc đẩy phát triển theo chiều rộng và theo chiều sâu.
Tháng 4 năm 2004 EU kết nạp thêm 10 thành viên, mở rộng EU sang phía
đông. Việc mở rộng EU ngày càng lớn mạnh với thị trƣờng 545 triệu dân, sản
xuất 20% khối lƣợng hàng hóa và dịch vụ thế giới, EU tăng mạnh về tiềm lực
lãnh thổ và dân số, trở thành thị trƣờng lớn nhất thế giới và củng cố vị trí của
mình trong các tổ chức quốc tế.
Ngoài EU là hạt nhân chính của nền kinh tế châu Âu, châu Âu còn một liên
minh khác góp phần đáng kể là Nga – Bêlarut, liên minh này trong tƣơng lai sẽ
mở rộng thêm một số nƣớc thuộc Liên Xô (cũ) để hoạt động nhƣ EU.
Đa số các nƣớc châu Âu có trình độ phát triển kinh tế cao, sản xuất khối
lƣợng hàng hóa, dịch vụ lớn nhƣng không đều giữa các nƣớc. Các nƣớc Tây Âu
bƣớc vào con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa rất sớm đã có lịch sử phát triển kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status