BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐỖ THỊ KIỀU VAI TRÒ CỦA VIỆT KIỀU TẠI LÀO TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP GIAI ĐOẠN 1945 - 1954 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như trong thời
gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Đinh Ngọc Ruẫn đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt
nghiệp này.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Trong thời gian thực hiện khóa luận này, do thời gian có hạn và còn nhiều
bỡ ngỡ, nên không thể tránh khởi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý
kiến của thầy, cô giáo và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn.
Người thực hiện
Đỗ Thị Kiều
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do tài chọn đề 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.3. Đóng góp của đề tài 3
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1. Cơ sở tư liệu 3
4.2. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Cấu trúc của đề tài 4
NỘI DUNG
Chương 1. Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Lào 5
1.1. Lịch sử hình thành 5
Họ là những người đã làm ăn qua nhiều thế hệ, và chung sống chan hòa với
người Lào từ nhiều đời nay. Vì vậy, ngay khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược 3
nước Đông dương trong đó có Lào thì những người Việt sống trên đất nước Lào
đã lần lượt ra tiền tuyến chiến đấu chống xâm lược của thực dân Pháp coi nơi
đây là quê hương thứ hai thân thương của mình.
Chính phủ Lào đã ghi nhận công lao và đã có nhiều khen thưởng đối với tổ
chức hội Việt kiều này. Vì vậy nhân dân Lào đến nay vẫn thường gọi người Việt
là “người anh em”. Những người luôn kề vai sát cánh cùng với nhân dân Lào
chống các âm mưu chính sách phá hoại của thực dân Pháp. Do đó việc nghiên
cứu về vai trò của người Việt ở Lào có vai trò hết sức quan trọng. Xuất phát từ
lý do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Vai trò của Việt kiều tại Lào trong
kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945 – 1954”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vai trò của Việt kiều Lào trong kháng chiến chống Pháp là đề tài thu hút
được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, các học giả, giáo viên và sinh viên.
Chính vì vậy đã có rất nhiều công trình, bài báo viết về vấn đề này. Tuy nhiên, ở
mỗi góc độ khía cạnh khác nhau các nhà nghiên cứu lại có cách nhìn khác nhau.
Trong cuốn “Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới và phương
pháp dạy học lịch sử” do thầy Phạm Văn Lực làm chủ biên cũng đề cập đến liên
2
minh chiến đấu Lào – Việt để nói về sự giúp đỡ trong chiến đấu của hai nước
với nhau, nhưng do số lượng có hạn nên chưa đề cập nhiều đến vai trò của Việt
kiều Lào.
Hay trong cuốn “Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam
– Lào” do PGS.TS Phạm Đức Thành làm chủ biên, xb 2008 đã đề cập đến vai
trò của Việt kiều tại Lào nhưng mới chỉ trong toàn bộ các lĩnh vực chính trị, an
ninh, kinh tế mà chưa đi sâu vào tìm hiểu vai trò trong kháng chiến chống Pháp.
Trong cuốn “Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp tại Lào” của bộ quốc phòng viện lịch sử quân sự Việt
trong mối quan hệ chung với lịch sử dân tộc. Vì vậy,tôi quyết địnhlựa chọn vấn
đề “Vai trò của Việt kiều tại Lào trong kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945
– 1954” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tập trung vào việc tìm hiểu vai trò của Việt kiều ở Lào trong
khởi nghĩa giành chính quyền từ tháng Tám đến tháng Mười và trong những
năm đầu kháng chiến chống Pháp
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: tôi tập trung nghiên cứu để làm nổi bật lên vai trò của Việt
kiều tại Lào trong kháng chiến chống Pháp.
Về thời gian: Khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám và
trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
3.3. Đóng góp của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu được đề tài có những đóng góp bước đầu sau:
Thấy rõ được phần nào vai trò của cộng đồng người Việt tại Lào trong
kháng chiến chống Pháp
Góp phần làm phong phú hơn tư liệu về mối quan hệ giữa Việt Nam – Lào.
Phục vụ cho quá trình nghiên cứu, học tập và giảng dạy về lịch sử thế giới.
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tư liệu
Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Sách: Sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt tại Lào. Việt
Kiều Lào – Thái với quê hương, cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ
Việt Nam – Lào. Lịch sử thế giới hiện đại, quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào
Những bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố trên
các tạp chí nghiên cứu lịch sử. Trần Xuân Cầu “Cách mạng tháng Tám ở Lào
năm 1945, tạp chí nghiên cứu lịch sử số 165, 1975…
Ngoài ra còn có các bài báo cáo nghiên cứu của các anh chị và các bạn sinh
viên làm tài liệu tham khảo.
như Phôngsaly xuống đến Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Khăm Muội thậm chí tiến
sâu vào tận Luông Phabang, kéo dài đến vùng núi Thanh Hóa và Nghệ An của
Việt Nam. Điều kiện địa lý thuận lợi này chính là yếu tố quan trọng dẫn đến sự
hiện diện của cộng đồng người Việt trên đất nước Lào từ rất sớm. Tất nhiên sự
hiện diện của cộng đồng người Việt ở vùng biên giới nói trên vào thời kì đó diễn
ra một cách tự nhiên, đơn thuần là sự giao lưu qua lại giữa cư dân vùng biên
giới, hoàn toàn chưa có liên quan gì mối quan hệ bang giao giữa hai vương triều
phong kiến Việt Nam và Lào. Lực đẩy từ phía Việt Nam hay lực hút từ phía Lào
không phải là vấn đề đặt ra đối với họ, bởi lẽ đương thời các vùng như Sầm
Nưa, Xiêng Khoảng, Khăm Muội với Lai Châu, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ
An, nhân dân hai dân tộc thường xuyên đi lại làm ăn buôn bán, thậm chí định cư
tạm thời hoặc ở hẳn đất Lào, đất Việt là chuyện thường nhật. Họ tự coi mình vừa
là lưu dân vừa là người bản địa, khác nhau chỉ là tính tộc người: người Lào và
người keo. Mối quan hệ này cho đến nay vẫn còn lại những dấu tích qua hiện
tượng huyết thống họ hàng vẫn còn đọng lại trong vài gia đình ở các bản Mương
Qua (Nghệ An), bản Huội Chi ( huyện Tương Dương), bản Nặm Cắn (Kỳ Sơn),
bản Noongbua (Điện Biên, Lai Châu). Những nơi đây ngày nay bà con vẫn
thương xuyên qua lại hỏi thăm nhau.
Sau này khi Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp hình thành thì thân phận
của cộng đồng người Việt ở Lào mới có sự thay đổi và từ sau năm 1919 (sau
chiến tranh thế giới thứ nhất) những người Việt lúc đó sống trên đất Lào mới
thực sự trở thành kiều dân của vương quốc Lào.
Theo sử sách Việt Nam, những cư dân Việt Nam đầu tiên định cư ở Lào
được bắt đầu từ Vương triều Lê. Đầu thế kỉ XV. Những ngày đầu phất cờ khởi
nghĩa ở Lam Sơn, trong số nghĩa quân của Lê Lợi có một số tướng lĩnh thông
thạo tiếng Lào và các con đường sang Lào từ căn cứ Lam Sơn lại hết sức thuận
6
lợi nên Lê Lợi đã sai các viên tướng đó sang Lào mua voi và vũ khí chuẩn bị
cho cuộc khởi nghĩa. Vua Lào hết lòng Việt Nam còn ghi rõ những người Việt
Sau khi vua Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh ráo riết tìm mọi cách
chống lại nhà Tây Sơn. Vua Lào đã cho sứ giả đến Huế xin được đưa quân đội
từ thượng Lào xuống đanh Tây Sơn, nhưng Nguyễn Ánh không chấp nhận. Sau
khi dẹp được phong trào Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã đền ơn giúp đỡ của vua Lào
7
bằng cách cử người Việt đến Luông Phabang giúp vua Lào xây dựng hoàng
cung Lào. Sự kiện này không được ghi vào chính sử của nhà Nguyễn. Nhưng
hậu duệ của những người Việt đến Lào vào thời vua Gia Long, sinh sống ở
Luông Phabang đã kể cho con cháu của họ từ đời này sang đời khác.
Cuối vương triều Nguyễn, nhất là thời trị vì của vua Tự Đức, khi mà những
đại diện của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã có mặt ở nhiều nước Đông Nam
Á, trong đó có Việt Nam thì các tu sĩ dòng thiên chúa giáo đã đến truyền đạo tại
các vùng ven biển miền trung của Việt Nam.
Với chính sách “bế quan tỏa cảng”, triều đình nhà Nguyễn đã ra sức cấm
đoán người Việt đi theo tôn giáo của người phương Tây. Không chỉ cấm đoán,
Nhà Nguyễn còn đàn áp dã man những người theo công giáo với chính sách
“bình tây sát đạo”. Trước hành động tàn bạo của vua quan triều Nguyễn, nhiều
người theo đạo thiên chúa ở những vùng ven biển miền trung Việt Nam đã tìm
cách chạy trốn sang Lào. Số cư dân Việt sang Lào thời kì này gồm 5000 người
trong số đó có 1000 người là giáo dân chủ yếu ra đi từ vùng Thừa thiên Huế,
Quảng trị.
Ngay khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,
phong trào kháng Pháp đã lan rộng khắp Bắc, Trung, Nam. Đó là phong trào
Cần Vương của các sĩ phu yêu nước: phong trào Đông Du, do Phan Bội Châu
lãnh đạo: phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh lãnh đạo. Các phong trào
kháng Pháp đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Sau khi thất bại rất nhiều người
tham gia kháng chiến chống Pháp đã mang gia đình chạy sang Lào. Trong đợt di
dân sang Lào này chủ yếu là người từ các tỉnh miền trung như Nghệ An và Hà
Tĩnh, và một trong những điểm đến định cư của họ là bản Xiềng Vang, huyện
và đói nghèo. Lối thoát duy nhất lúc đó là phải cam phận là dân mộ phu cho các
ông chủ đồn điền, hoặc làm công nhân trong các công trình đường xá, hầm mở
của Pháp mà lúc đó đang ở trong giai đoạn khởi công khẩn trương nhất. Nhiều
người đã trở thành lớp công nhân lục lộ trong kế hoạch mở các con đường chiến
lược từ phía Nam sang Lào nhằm phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa
và những cuộc hành quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa đã không ngừng xảy ra
của cả người Lào và người Việt. Những tuyến đường lịch sử đấy đã hình thành
đồng thời với cuộc di cư của người Việt sang Lào. Đó là các tuyến đường: “Sài
Gòn – Pkratie – Pawcsse” “đường số 13”, “số 2 Đông Hà – Savanakhet”.
Hàng chục năm sau đó, do nhiều biến cố lịch sử, đã đưa đẩy những người
công nhân Việt trên những tuyến đường này tản ra làm ăn sinh sống và định cư
dân ở hầu hết các huyện lị và thị xã mới phát triển suốt dọc sông Mê Kông từ
Nam Lào lên tận thủ đô Viêng Chăn.
Cũng từ năm 1919 trở đi quá trình khai thác thuộc địa trên toàn cõi Đông
Dương, thực dân Pháp tiến hành khai thác các mỏ khoáng sản quý có trữ lượng
cao ở Lào như thiếc, chì, trong quá trình khai thác các mỏ thiếc ở Phongtu và
Bofneng, người Pháp đã cho xây dựng một số nhà máy với trang thiết bị thô sơ.
Tuy nhiên các cơ sở đó thu hút được một số lượng đáng kể người Việt sang Lào
làm việc. Những người công nhân đó đều do các ông chủ người Pháp tuyển mộ
9
từ Việt Nam sang. Người Pháp đánh giá tay nghề và sự cần cù của công nhân
người Việt cao hơn người Lào.
Đợt nhập cư lớn tiếp theo là vào những năm 1939 đến 1945 nhiều người
Việt đã chọn khu vực miền trung giữa Xavanakhet, Khăm Muội, và một số phần
nam cao nguyên Boloven làm nơi định cư chủ yếu với số lượng khoảng 39.500
người. Điều này thể hiện sức hấp dẫn của nước Lào vào thời kì khủng hoảng
kinh tế toàn cầu sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đồng thời đó còn là kết
quả chính sách di dời người Việt từ khu vực đồng Bằng Bắc Bộ Việt Nam sang
Lào trong chiến lược khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương.
nay dời nông thôn trở vè sống ở các thành thị, bắt đầu cuộc sống như đồng bào
họ trước đây. Hòa bình lập lại, từ năm 1955 đến những năm 60 của thế kỉ trước,
một số không nhiều Việt kiều, những người đã từng tản cư sang Thái Lan trước
đó, trở lại Lào làm ăn buôn bán và cũng có một số người Việt ở miền Nam Việt
Nam qua cửa khẩu Lao Bảo sang Lào kiếm sống. Do cuộc sống khá thuận lợi,
nhiều người đã ở lại Lào. Những người làm ăn khá giả trong số này do không
hiểu đường lối của chính phủ cách mạng Lào nên sau năm 1975, đã chạy sang
nước thứ ba định cư.
Một hiện tượng nữa cũng cần phải thấy là vào những năm sau giải phóng
(1975), cư dân Việt Nam sống dọc biên giới Việt – Lào gặp nhiều khó khăn
trong khi đó Thái Lan lại thi hành nhiều chính sách cởi mở, tung hàng hóa Thái
xâm nhập vào thị trường Lào nên lúc này đời sống của cư dân Lào lúc này dễ
chịu hơn Việt rất nhiều. Do lực hút đó mà làn sóng di dân Việt trong thời gian
này tăng lên khá mạnh, nhiều người muốn vượt biên sang Lào. Một số người đã
đi sâu vào trong lãnh thổ Lào tìm kiếm công việc làm ăn mà trong đó hấp dẫn
nhất là nghề làm thương nhân mua bán, mua bán vận chuyển hàng hóa Thái về
Việt Nam. Từ Việt Nam, quần bò, áo phông, hàng mĩ phẩm nhãn hiệu Thái Lan
lại được chuyển qua Liên Xô và Đông Âu để biến thành nồi hầm, quạt tai voi,
bàn là, nồi áp xuất… trong hoàn cảnh đó, một số người không ít đã định cư làm
ăn sinh sống lâu dài ở Lào.
Cư dân sống dọc biên giới hai nước thường xuyên hỗ trợ nhau và có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Vấn đề di dân tự do và kết hôn không dã thú đã tồn
tại nhiều năm do đặc điểm dân tộc, thân thuộc lâu đời giữa nhân dân hai biên
giới. có những vùng cư dân sinh sống không phân biệt đâu là Việt đâu là Lào,
thậm chí có những gia đình người Lào còn gửi con của mình sang bên Việt Nam
nhờ bà con người Việt nuôi hộ. Hiện nay, mặc dù hai bên Việt Nam và Lào đã
tích cực ngăn chặn số người nhập cư trái phép nhưng tình trạng đó không những
không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng. Tính đến năm 1994, số cư dân Việt
Nam sang Lào sinh sống dọc theo biên giới ngày càng nhiều. Năm 1997, phía
Lào thông báo cho Việt Nam có 104 hộ với 868 người Việt Nam di cư trái phép
do công ty cổ phần đầu tư và phát triển Việt – Lào đầu tư.
Thực hiện những dự án hợp tác đầu tư của Việt Nam tại Lào là hàng nghìn
công nhân Việt Nam đến sống và làm việc tại Lào. Chính họ là những người góp
phần không nhỏ vào việc tăng trưởng kinh tế của Lào. Nhiều người trong số họ
đã ở lại làm ăn sinh sống trên đất Lào, và những người công nhân đó là những
bộ phận hợp thành cộng đồng Việt tại Lào.
Như vậy vì lý do này hay lý do khác thì người Việt Nam từ xa xưa đã tìm
sang Lào làm ăn sinh sống ở đây, dần hình thành lên những cộng đồng người
Việt, góp phần vào sự phát triển của Lào và quá trình đánh đuổi thực dân Pháp
xâm lược ở Lào.
1.2. Vị thế của người Việt trong xã hội Lào
1.2.1. Bức tranh chung về cộng đồng người Việt ở Lào
12
a. Số lượng người Việt ở Lào
Căn cứ chung vào cộng đồng người Việt ở Lào, căn cứ vào thành phần hợp
thành của cộng đồng người Lào hiện nay, chúng ta có thể bước đầu đưa ra
những số liệu như sau:
Bộ phận Việt kiều (những người định cư lâu dài ở Lào nhưng chưa có quốc
tịch Lào). Theo số liệu của trung tâm Thống kê Quốc gia Lào, năm 2005, tổng
số Việt kiều là 8.795 người, chiếm 0,16% tổng dân số Lào. Theo thống kê từ 10
tỉnh hội cộng đồng người Việt ở Lào, số người việt ở 10 tỉnh là khoảng 15.210
người cộng với số Việt kiều ở 8 tỉnh chưa có tổ chức hội thì Việt kiều ở Lào là
khoảng 20.000 người [10,42].
Bộ phận người Lào gốc Việt. các tài liệu của Lào không nói đến các bộ
phận này vì họ đã là người Lào và nằm trong tổng dân số nước Lào. Căn cứ vào
người Việt đã nhập quốc tịch nào thể hiện qua phiếu điều tra của 3 tỉnh “40%”,
chúng tôi đã ước tính số lượng người Việt đã nhập quốc tịch Lào cũng có thể
tương đương với số Việt kiều ở Lào “khoảng 20.000 người Lào gốc Việt”
[10,43].
chiếm 5.8%; Hà Nội có 13 hộ gia đình chiếm 3.9%; Thái Bình có 12 hộ gia đình
chiếm 3,6% Hà Đông có 10 hộ gia đình chiếm 3%; Sơn Tây có 6 hộ gia đình
chiếm 1.8%; Quảng Trị có 9 hộ gia đình chiếm 2,7%; Hải Phòng có 9 hộ gia
đình chiếm 2,4%; các địa phương khác có một vài hộ gia đình. Như vậy qua số
liệu ta thấy người Việt ở Lào chủ yếu từ các tỉnh miền trung Việt Nam. Sở dĩ có
hiện tượng đó một phần vì các tỉnh miền trung đều nghèo, đói và còn vì vùng
này có nhiều đường giao thông thuận lợi giữa hai nước [10,48].
1.2.2. Vị thế của cộng đồng người Việt Nam trong xã hội Lào
a. Người Việt đã nhập quốc tịch Lào
Về cơ bản những người đã nhập quốc tịch Lào có quyền lợi và nghĩa vụ
đầy đủ như người Lào. Họ được làm tất cả mọi ngành nghề như người Lào,
được quyền mua bán bất động sản như nhà cửa, đất đai, xe cộ và có giấy phép
kinh doanh, con em họ được học hành như người Lào.
Nhận xét về vấn đề này học giả Lào, Sucsavang Simana đã viết như sau:
“Người Việt ở Lào hầu hết đã trở thành công dân nước Lào một cách tự nhiên,
nghĩa là đã nhập quốc tịch Lào, được hưởng mọi quyền hạn công dân như người
Lào, có quyền bầu cử, quyền học hành, quyền buôn bán nhà đất, quyền mở
trường học và dạy tiếng mẹ đẻ… có thể nói rằng, cộng đồng người Việt ở Lào
được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt của chính phủ Lào hơn hẳn cộng đồng
người Việt ở các nơi trên thế giới”.
Quả vậy, người Lào gốc Việt được khuyến khích làm các nghề thầy giáo,
bác sĩ, tham gia bộ máy chính quyền Lào ở cấp thấp và thậm chí còn được tham
gia vào lực lượng vũ trang Lào.
Theo quy định của pháp luật, người Lào gốc Việt có quyền lợi như người
Lào, nhưng trong thực tế cũng có một số vấn đề tế nhị. Thượng tá quân đội Lào,
14
Cù Văn Tống cho biết hiện nay quân đội Lào chỉ có còn 3 người có quân hàm
cấp tá. Đồng thời anh còn cho biết hiện nay những người Lào gốc Việt trong
quân đội Lào đều được xuất ngũ và không được tuyển vào quân đội như trước
được nhập quốc tịch Lào, nên họ bắt con em của họ phải học cho biết được tiếng
Lào và chữ Lào.
15
Ngày nay trong không khí của sự hợp tác toàn diện đoàn kết đặc biệt, quan
hệ Việt Nam – Lào ngày càng tốt đẹp, địa vị của người Việt Nam ở Lào ngày
càng được cải thiện hơn trước. Về phía người Việt trong cộng đồng nhìn nhau
không còn khắt khe, phân biệt như trước nữa.
c. Những người mới đến Lào từ sau năm 1975.
Đây là những người Việt mới đến Lào từ sau năm 1975 đặc biệt là từ 1980
đến nay, phần lớn họ đều chưa có cuộc sống ổn định ở Lào và thành phần thì hết
sức đa dạng. Những người mới nhập cư này khi vào Lào họ có giấy thông hành
hoặc hộ chiếu. theo quy định của hai nước giấy thông hành thường do các tỉnh
biên giới cấp. Theo quy định của hai nước các loại giấy thông hành này không
thể đi sâu vào nội địa Lào. Không những thế khi giấy thông hành hay hộ chiếu
hết hạn lưu trú họ không những không gia hạn mà còn tiếp tục ở lại Lào. Những
trường hợp kể trên là bất hợp pháp.
Để thoát khỏi tình trạng trên, những người này có cách thích ứng đặc biệt của
họ. Khi hết thời hạn cư trú họ quay lại cửa khẩu Việt Nam hay qua cầu Thà Đừa,
sang “du lịch” Thái Lan rồi quay lại Lào. Và như vậy họ lại được phép cư trú thêm
1 tháng trên đất Lào bởi Việt Nam và Lào chỉ kí thời hạn lưu trú cho người lao
động 1 tháng. Tuy nhiên những quy định mới đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho
người Việt Nam sang Lào.các công trình, dự án nếu quá hạn lưu trú mà không gia
hạn thì các chủ doanh nghiệp, chủ công trình hay dự án sẽ bị phạt nặng.
Đối với những người tự do sang Lào tìm kiếm việc làm, theo quy định họ
phải được chính quyền địa phương Lào cấp giấy phép cư trú và thẻ lao động.
Nếu công an địa phương kiểm tra phát hiện những người không có các loại giấy
tờ trên lập tức bị đưa trở lại Việt Nam.
Đối với những người sang Lào kinh doanh, buôn bán có hộ chiếu, họ phải
nộp tiền lưu trú cho chính quyền địa phương và thuế kinh doanh, buôn bán.
tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hội nghị nhất trí thông qua chính cương vắn
tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ tóm tắt của Đảng và sau đó bản lận cương chính trị
bổ sung, phát triển trở thành cương lĩnh của cách mạng Việt Nam.
“Cương lĩnh khẳng định cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân
quyền do giai cấp vô sản lãnh đạo, là cách mạng thổ địa đánh đổ các tàn dư
phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, làm cho Đông Dương hoàn toàn
độc lập, thẳng tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản
chủ nghĩa.
Phong trào của Việt Kiều Lào được các chiến sĩ của Việt Nam Quang Phục
Hội nhen nhóm, trỏ thành cơ sở vững chắc của hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên. Phong trào thống nhất cả về tổ chức và tư tưởng nên sau khi Đảng Cộng
Sản Việt Nam ra đời, Quốc tế Cộng Sản đã quyết định cho thành lập Đảng bộ
Cộng Sản Việt Kiều Lào – Thái.
Sự ra đời của Đản Cộng Sản Việt Nam mà sau này là Đảng Cộng Sản Đông
Dương là nhân tố cơ bản tạo nên bước ngoặt lịch sử Việt Nam, phong trào yêu
17
nước của Việt Kiều Lào từ đây cũng bước sang 1 giai đoạn mới, dưới sự lãnh
đạo trực tiếp của Đảng.
Từ sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam, phong trào cách mạng trong
nước phát triển mạnh mẽ đỉnh cao của nó là cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Trong
những năm 1930 – 1931 hòa nhịp với cao trào cách mạng bùng lên ở Việt Nam,
phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào cũng nổ ra ở rất nhiều nơi
Viêng Chăn, Boneng… Đặc biệt vào giữa năm 1931, công nhân Lào làm đường
Lắc Xao đấu tranh ủng hộ cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh của Việt Nam. Sau cao
trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, những năm 1932 – 1933, phong trào cách mạng Việt
Nam bị dìm trong bể máu là giai đoạn thoái trào của cách mạng Đông Dương,
nhiều chi bộ tan ra, cán bộ của Đảng bị bắt tù đầy, người bị sát hại. Cán bộ Đảng
viên ở Lào cũng nằm trong hoàn cảnh đó. Chỉ trong vòng hai năm 1934 – 1935
ba lần thành lập sứ uỷ Ai Lao Lâm thời và hoạt động được một vài tháng cán bộ
đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào gắn bó mật thiết với cách mạng Đông
Dương và cách mạng thế giới chuyển từ cuộc đấu tranh yêu nước sang cuộc đấu
tranh yêu nước – cách mạng với chất lượng hoàn toàn mới. Tháng 12 – 1935
công nhân nhà máy in, vận tải đình công, học sinh trương Bách Nghệ bãi khoá
đòi tăng học bổng. Đầu năm 1936 nổi lên cuộc đấu tranh của công nhân mở
thiếc Phông Tin và mở thiếc Boneng đòi tăng lương mở đầu cho phong trào đấu
tranh của nhân dân Lào giai đoạn mới. Tiếp đó, công nhân cầu đường, công
nhân điện và công nhân của xẻ gỗ đồ mộc ở Viêng Chăn đòi cải thiện đời sống.
Năm 1937 công nhân mở thiếc lại bãi công lần thứ 2 và đến năm 1938 công
nhân các đồn điền ở Xiêng Khoảng và nhân nhân Khăm Muội cùng Việt Kiều đã
đứng lên đấu tranh chống sưu cao thuế nặng.
Đầu những năm 40 của thế kỷ XX,Viêng Chăn đã có một chi hội Việt Kiều
cứu quốc, dưới chi hội là phân hội. Mối quan hệ giữa bà con Việt Kiều với nhân
dân Lào rất mật thiết, học sinh Lào – Việt cùng học chung một trường nên gắn
bó với nhau trong quan hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác.
Không chỉ ở Viêng Chăn, tại một số thành phố khác hoạt động cách mạng
của Việt Kiều Lào cũng diễn ra sôi nổi như ở Thà Khẹt. Thà Khẹt nằm ở khúc
giữa nước Lào thuộc tỉnh Khăm Muội, có đường số 8, 9, 12, 14 nối liền với Việt
Nam. Có đường bộ số 13 và đường thuỷ dọc sông Mê Kông chạy lên Viêng
Chăn xuống Xavanakhet. Vị trí địa lý của Thà Khẹt có đường giao thông từ Việt
Nam sang, phía tây bên kia sông Mê Kông là Nakhon Panom – Thái Lan có
phong trào Việt Kiều mạnh nên trỏ thành hành lang liên lạc đi về của các nhà
cách mạng từ Việt Nam sang, cũng vì thế thanh niên ở đây sớm tiếp thu được
những tư tưởng tiến bộ. Phong trào yêu nước của Việt Kiều Lào cũng xuất phát
từ thanh niên, học sinh, công chức, được các đồng chí cán bộ của tổng hội Việt
Kiều như Lê Mạnh Trinh, Lê Tiền Tiến và nhiều đồng chí khác tuyên truyền
giác ngộ sau này trở thành những cán bộ cốt cán hoạt động tích cực trong phong
trào Việt Kiều. Cán bộ cơ sở Việt Kiều Thà Khet vẫn thường xuyên liên lạc, xin
ý kiến chỉ thị của tổng hội Việt Kiều.
Thái Lan – Lào. Sau cuộc chiến tranh Xiêm – Việt Nam – Pháp, quan hệ hai bên
vẫn căng thẳng, biên giới Lào - Thái bị phong toả, thực dân Pháp tìm mọi cách
củng cố chế độ thống trị của mình. Chúng ra sức tuyên truyền chia rẽ Lào – Việt
và tiến hành nhiều đợt khủng bố ác liệt đối với phong trào cách mạng ở Lào và
các nước Đông Dương. Nhiều cán bộ lãnh đạo trong Xứ uỷ Ai Lao và Đảng
viên ở cơ sở bị bắt, bị trục xuất về Việt Nam, một số phải tạm lánh sang Thái
Lan, các tổ chức cơ sở phải rút vào bí mật. Phong trào cách mạng của Lào và
20
Việt Kiều yêu nước gặp khó khăn, một lần nữa tạm lắng xuống, nhưng số Đảng
viên còn lại vẫn tiếp tục hoạt động, giữ vững cơ sở cách mạng ở hai bên bờ sông
Mê Kông.
Trước sự khủng bố của chính quyền thực dân, một số trí thức và công chức
Lào có tinh thần dân tộc đã chạy sang Xiêm tìm đường liên lạc với Đồng minh
chống Nhật và thực dân Pháp. Họ cũng liên lạc với Việt Kiều cứu quốc ở Xiêm,
Và được “Đảng Thái Tự Do” giúp đỡ tổ chức “Hội Lào Tự Do” đấu tranh chống
Nhật xâm lược. Cũng thời gian này, một số binh lính khố xanh, khố đỏ người
Việt và người Lào có xu hướng tiến bộ do Quản Bỉnh cầm đầu đã chuẩn bị binh
biến ở Viêng Chăn, nhưng kế hoạch bị bại lộ phải chạy sang Xiêm. Được sự
giáo dục và chỉ đạo của tổ chức Việt Kiều yêu nước Quản Bỉnh và phần lớn anh
em binh sĩ đã tham gia phong trào cách mạng, góp phần xây dựng lực lượng,
chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa của Lào sau này.
Cuối năm 1944 “Đội Tiền Phong” một tổ chức tiền thân của Xứ uỷ Ai Lao
lần thứ tư được thành lập. Tháng 2 năm 1945, trên cơ sở phong trào yêu nước
của Việt Kiều Lào đã được phục hồi, cũng từ đây phong trào đấu tranh của Việt
Kiều ngày càng phát triển với quy mô rộng khắp.
Trong thời kì vận động tại Lào một trong những người có công lao to lớn
đối với sự chuẩn bị lực lượng thời kì này phải kể tời vai trò của vị lãnh đạo cách
mạng Lào Cayxơn Phomvihan người có công rất lớn đối với thắng lợi của cách
mạng Lào.
của chúng, để che dấu bộ mặt xâm lược, Nhật vẫn duy trì hệ thống cai trị của
chính quyền vương quốc do Pháp lập ra và cho nhà vua Lào ra tuyên bố: “Nước
Lào độc lập và tán thành hợp tác với Nhật trong mọi lĩnh vực. Trước tình hình
hết sức khẩn trương, chấp hành chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ưng Đảng
Cộng sản Đông Dương, ngày 28/3/1945, Ban lãnh đạo Đội Tiền Phong đã họp
với đại biểu các chi bộ Đảng ở Lào và Thái Lan tại một địa điểm ở hữu ngạn
sông Mê Kông đối diện với Viên Chăn.
Hội nghị đã nêu lên những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác vận động
cách mạng vừa qua và nhấn mạnh: cùng với việc vận động, tổ chức Việt kiều,
phải hết sức coi trọng công tác tuyên truyền vận động nhân dân bản địa, là lực
lượng chính chủ yếu của cuộc cách mạng.
Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, Hội nghị đã đề ra một
số công việc cấp bách trước mắt là: Thúc đẩy công tác tuyên truyền vận động
nhân dân Lào và Việt kiều ủng hộ và tham gia khởi nghĩa; xúc tiến việc lập
chiến khu, xây dựng lực lượng vũ trang, tỏ chức huấn luyện quân sự để chuẩn bị
khởi nghĩa. Cũng trong hội nghị đã bầu ra sứ ủy Ai Lao.
Ngày 11/5/1945, tại chiến khu Na Kè, đơn vị vũ trang đầu tiên của Tổng
hội Việt kiều chính thức được thành lập, lấy tên là “Việt Nam độc lập quân".
Cuối tháng 6 năm 1945, phát xít Nhật cho quân trinh sát, chuẩn bị mở cuộc càn
quét vào chiến khu Na Kè. Đề phòng quân Nhật tiến công bất ngờ, ta tạm thời
phân tán lực lượng vũ trang thành từng đơn vị nhỏ, chia súng và bố chí lực