Vai trò của hậu phương Miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ - Pdf 22

Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
MỞ ĐẦU
Trong chiến tranh, bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắng lợi. Muốn
có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người và một nhân tố có
vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của. Sự chi viện của hậu phương cho tiền
tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu
phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh về cả mặt chính trị, kinh tế,
quân sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh
thần cho tiền tuyến. Muốn đánh thắng địch ở tiền tuyến thì phải có hậu phương vững
mạnh. Việc xây dựng hậu phương là một vấn đề có tính chất chiến lược và quyết định
sống còn đối với thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến. Đó là qui luật của các loại chiến
tranh từ xưa đến nay.
Nắm vững qui luật đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tranh thủ mọi thời gian, điều
kiện vật chất để chuẩn bị hậu phương cho chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ
quốc. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa đánh giặc, vừa xây dựng chế độ mới, xây
dựng căn cứ địa hậu phương là một chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng,
phản ánh một trong những đặc trưng của cách mạng Việt Nam. Việc xây dựng, củng cố
hậu phương trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ luôn luôn được Đảng
nhìn nhận một cách đúng đắn và đặt lên hàng đầu. Đảng đã xây dựng, củng cố hậu
phương trong mọi tình huống của cuộc chiến, làm cho hậu phương có sức sống và phát
triển trong hoàn cảnh gay go, khó khăn nhất, trong khi chính nó cũng phải trực tiếp
chiến đấu quyết liệt với kẻ thù.
Dân tộc ta thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần bởi vì chúng ta có nhân
dân anh hùng, có sự lao động sáng tạo, tài năng và trí tuệ của Đảng, có hậu phương lớn
tập trung sức người, sức của, động viên tinh thần tuyến tuyến lớn đánh thắng kẻ thù. Do
vậy, việc nghiên cứu chủ trương xây dựng hậu phương của Đảng, để qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước hiện
nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi
cũng như khó khăn mới, sẽ góp phần đắc lực vào nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Mác và Ăngghen, Lê-nin, đều đã đánh giá cao nhân tố chính trị-tinh thần, đồng thời
2
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
cũng nhấn mạnh đến yếu tố trang bị vũ khí. Xtalin khi bàn đến sự thử thách khắc nghiệt
của chiến tranh đã nói: “lịch sử chiến tranh dạy rằng, chỉ có những nước nào mạnh hơn
đối phương của mình về mặt phát triển và tổ chức kinh tế, về kinh nghiệm, tài nghệ và
tinh thần chiến đấu của quân đội, về tinh thần kiên cường và đoàn kết của nhân dân
trong suốt cả quá trình chiến tranh thì mới chịu đựng được sự thử thách đó”
Một tiêu chuẩn quan trọng nữa quyết định sự vững mạnh của hậu phương, đó là
yếu tố kinh tế. Theo đồng chí Lê Duẩn, “một hậu phương vững mạnh là một hậu
phương có tiềm lực kinh tế và quốc phòng hùng hậu, có nguồn dự trữ dồi dào để cung
cấp lương thực, súng đạn, sức người, sức của đầy đủ cho tiền tuyến”. Đồng chí Trường
Chinh cũng coi một trong những nhân tố thường xuyên của thắng lợi trong một cuộc
chiến tranh nhân dân ở thời đại của chúng ta là “hậu phương chiến tranh nhân dân được
củng cố, nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho chiến tranh dồi dào, chỗ dựa của các lực
lượng vũ trang vững mạnh”
Nhìn chung, vai trò của hậu phương đều được các nhà chiến lược, các nhà quân
sự đánh giá cao và yêu cầu những người lãnh đạo quốc gia, những người cầm quân phải
quan tâm thường xuyên trong thời chiến cũng như thời bình. Bởi lẽ, chiến tranh là sự
thử thách toàn diện đối với mỗi bên tham chiến, trong đó hết thảy lực lượng đều bị thử
thách, bị tiêu hao, nên đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển, nhằm đè bẹp đối phương
để chiến thắng. Cơ sở vật chất của đất nước mạnh hay yếu, dồi dào hay thiếu thốn là
một điều kiện quan trọng, quyết định và có tác động rất lớn đến thắng hay bại của chiến
tranh. Tuy nhiên, sức mạnh của hậu phương không chỉ dựa trên những chỉ số kinh tế,
trên mức sống, trình độ hiểu biết khoa học kĩ thuật của con người, cũng như vũ khí và
trang bị kĩ thuật của quân đội, mà còn dựa trên nhiều yếu tố khác nhau nữa. Bởi vì, mặc
dù hậu phương có một vai trò quan trọng trong việc quyết định thắng lợi hay thất bại
của chiến tranh, song so sánh lực lượng hậu phương của hai bên, giải quyết vấn đề hậu
phương, xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương như thế nào, lại không phải là

dựng cơ sở trong dân - xây dựng cơ sở cách mạng trong cộng đồng những người Việt
Nam ở Pháp, Thái Lan, đặc biệt là ở Trung Quốc. Những cơ sở bước đầu này thực sự là
hậu phương của cách mạng, là chỗ dựa, sức mạnh giúp Đảng vượt qua khủng bố của kẻ
thù, đứng vững, phát triển và hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử của mình.
Đầu năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam đã bắt tay xây dựng Cao Bằng thành căn cứ địa của cách mạng Việt
Nam. Người nói: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta.
Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc
4
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống
nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái Nguyên,
với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thế tiến công, lúc
khó khăn có thể giữ”
Thực hiện theo tư tưởng đó của Hồ Chí Minh, căn cứ địa cách mạng được mở
rộng và phát triển thành khu giải phóng rộng lớn gồm 6 tỉnh thuộc Việt Bắc. Đây là nơi
Đảng và Quốc dân Đại hội quyết định những vấn đề chiến lược của cách mạng, mà
bước đi quan trọng, quyết định nhất là phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
trong cả nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám một phần lớn là nhờ có căn cứ địa
vững chắc, bao gồm: căn cứ Việt Bắc, các căn cứ ở các khu, các tỉnh, các cơ sở ở các
địa phương trong toàn quốc.
Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Việt Bắc lại trở thành căn cứ địa. Ngoài ra,
ta còn có một hậu phương rộng lớn, bao gồm các khu du kích, các vùng tự do ở khu III,
khu IV, khu V, Nam Bộ tạo thành thế liên hoàn, vừa bao vây kẻ thù, vừa cung cấp sức
người, sức của cho tuyền tuyến, động viên ý chí niềm tin cho những người lính trên
chiến trường.
Trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã có thể kế thừa những kinh nghiệm xây
dựng hậu phương trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Hơn bao
giờ hết, trong cuộc kháng chiến lần này, Đảng đã đặc biệt chú ý đến vai trò quan trọng

Hậu phương là một trong những điều kiện cơ bản quyết định thắng bại, được thua
của hai bên tham chiến. Chiến tranh phải dựa vào hậu phương hùng mạnh. Quân đội
nào tách khỏi hậu phương thì không thể giành thắng lợi trong chiến tranh, không thể tồn
tại được.
Hậu phương bổ sung và phát triển lực chiến đấu và đảm nhiệm nhiệm vụ xây dựng
các mặt kinh tế, chính trị, quân sự văn hóa-xã hội vững mạnh và phát triển. Đảm bảo chi
viện kịp nhanh chóng kịp thời cho tiền tuyến.
Hậu phương và tiền tuyến có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Hậu phương mạnh thì
tiền tuyến mạnh. Tiền tuyến đánh thắng sẽ bảo vệ được hậu phương, động viên và tạo
điều kiện thuận lợi để hậu phương cũng cố và xây dựng. Ngược lại, việc xây dựng hậu
phương vững mạnh có tác dụng quyết định đến thắng lợi ở tiền tuyến.
6
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
CHƯƠNG 2.VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1965-1975)
2.1 Cuộc đụng đầu lịch sử tất yếu khách quan của Việt Nam và Mỹ
Ngày 7-7-1954, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết 13 ngày, Mỹ đưa Ngô
Đình Diệm (dược Mỹ nuôi dưỡng từ lâu) về miền Nam Việt Nam làm Thủ tướng bù
nhìn, thay cho Bửu Lộc (tay sai của Pháp). Tháng 9-1954, Mỹ quyết định viện trợ trực
tiếp cho Ngô Đình Diệm, sau đó tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Côlin sang làm đại sứ ở
Sài Gòn và lập ra kế hoạch sáu điểm, nhằm nhanh chóng xâm lược miền Nam Việt
Nam. Nội dung của bản kế hoạch này:
- Hất cẳng Pháp và các lực lượng thân Pháp để độc chiếm miền Nam Việt Nam.
- Tiêu diệt lực lượng cách mạng, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, chia cắt Việt Nam.
- Giúp Diệm xây dựng chính quyền hợp pháp, hợp hiến đứng được trên thế ba
chân chính trị, kinh tế, quân sự.
- Giúp Diệm xây dựng quân đội quốc gia gồm cả về trang bị và huấn luyện.
- Thực hiện nhiều cải cách kinh tế, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thị
trường tiêu thụ hàng hóa của Mỹ.

Pháp, khôi phục và củng cố lại giai cấp địa chủ phong kiến.
Sau khi thiết lập được quyền kiểm soát ở miền Nam, năm 1955, dưới sự chỉ đạo của
Mỹ, tập đoàn Ngô Đình Diệm mở chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” trên toàn miền
Nam. Chúng tổ chức hàng loạt cuộc vây bắt tàn sát, những người kháng chiến cũ, những
người đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Với phương châm
“tiêu diệt cộng sản không thương tiếc”, “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, Mỹ-Diệm dùng
những hình thức giết người man rợ thời trung cổ như thiêu cháy hoặc thiêu sống, trả trôi
sông, mổ bụng moi gan, những người cộng sản và những người yêu nước, hòng làm
nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam. Tiêu biểu là vụ thảm sát đẫm máu ở
chợ Được (Quảng Nam) ngày 4-9-1954, làm chết 39 người và 37 người bị thương, vụ
trả thù những người kháng chiến cũ ở đập nước xã Vĩnh Trinh (huyện Duy Xuyên,
Quảng Nam) ngày 21-1-1955, chúng dìn chết 42 người ở Hướng Điền (Quảng Trị). Ở
Đại Lộc (Quảng Nam), chúng tra tấn, giết chết 500 đồng bào ta.
8
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Chỉ trong bốn năm (1955-1958) có tới 9/10 cán bộ, đảng viên miền Nam bị tổn
thất. Riêng ở Nam Bộ, chỉ còn khoảng 5000/60.000 đảng viên còn ở trước đó. Ở đồng
bằng liên khu V, có khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên và 70% chi ủy viên bị
địch bắt và giết hại, 12 huyện không còn cơ sở Đảng. Ở Quảng Trị còn 176/8.400 đảng
viên.
Những hành động tội ác của Mỹ-Diệm, làm cho nhân dân ta ở miền Nam không
cam chịu được, nhất tề đứng dậy đấu tranh.
Tình hình quốc tế trong nước cũng có nhiều thay đổi có lợi cho ta. Hệ thống xã hội
chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự khoa học – kỹ thuật, nhất là Liên Xô;
Các lực lượng cách mạng trên thế giới ở thế tiến công vào chủ nghĩa đế quốc. Cách
mạng trong nước đã có sự trưởng thành vượt bậc so với thời kỳ cách mạng tháng Tám
năm 1945. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, đang bước vào thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, từng bước xây dựng và củng cố về mọi mặt, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh
giải phóng miền Nam. Nhân dân miền Nam lại có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng

Việt Nam đã phải chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử có tính thời đại với đế quốc Mỹ.
2.2 Âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
(1965-1975)
Đầu năm 1965, cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ tiến hành chống lại nhân dân ta
ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Để
cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến
tranh vào miền Nam,, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược “chiến
tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, một trong
ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) được đề ra phù hợp với chiến lược
quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt”. “Chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ giữa năm 1965,
được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân của một số nước thân Mỹ
ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quân của chính quyền Sài Gòn, trong đó quân
Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị.
Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000 người, đến cuối năm
1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính của các nước thân Mỹ. Đó là chưa kể 70.000
lính hải quân và không quân trên các căn cứ của Mỹ ở Guam, Philippin, Thái Lan và
Hạm đội 7 luôn sẵn sàng tham chiến ở miền Nam.
10
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Sau khi đã đưa ra một đại đội máy bay F.105 vào Biên Hòa và một tiểu đoàn tên
lửa phòng không “Hốc” vào Đà Nẵng, ngày 8-3-1965, Mỹ cho hai tiểu đoàn thuộc Lữ
đoàn 9 lính thủy đánh bộ từ Ôkinaoa vào Đà Nẵng, mở đầu việc đưa quân chiến đấu Mỹ
vào miền Nam Việt Nam.
Ngày 26-6-1965, Oétmolen được chính phủ Mỹ cho phép đưa quân Mỹ ra trận “khi
nào thấy cần thiết”.
Ngày 17-7-1965, khi Giônxơn thông báo quyết định đưa 44 tiểu đoàn Mỹ vào
miền Nam Việt Nam và chấp nhận chiến lược “tìm diệt” của Oétmolen, một quyết định
đã “vượt qua ngưỡng cữa chiến tranh trên bộ ở châu Á”, thì cuộc chiến tranh xâm lược

cho cách mạng Việt Nam. Việc đế quốc Mỹ mở cuộc “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa
quân đội viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam đã làm
cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta.
2.3 Chủ trương mới của Đảng nhằm đánh bại âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ
Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, các hội
nghị của Bộ Chính trị đầu năm 1961 và đầu năm 1962 đã nêu chủ trương giữ vũng phát
triển thế tiến công mà ta đã giành được sau cuộc “đồng khởi” năm 1960, đưa cách mạng
miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng trên quy mô
toàn miền.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ chín (tháng 11-1963), ngoài việc xác định đúng
đắn quan điểm quốc tế, hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ, còn quyết định nhiều vấn đề quan trọng
về cách mạng miền Nam. Hội nghị tiếp tục khẳng định đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ
trang đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới
của đấu tranh vũ trang. Đối với miền Bắc, Hội nghị tiếp tục xác định trách nhiệm là căn
cứ địa , hậu phương đối với cách mạng miền Nam, đồng thời nâng cao cảnh giác, triển
khai mọi mặt, sẳn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của địch.
Trước hành động gây “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, tiến hành chiến tranh phá
hoại ra miền Bắc của đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 3-1965) và
lần thứ 12 (tháng 12-1965) đã tập trung đánh giá tình hình và đề ra đường lối kháng
chiến chống Mỹ trên cả nước.
Về nhận định tình hình và chủ trương chiến lược: Trung ương Đảng cho rằng, cuộc
“Chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam vẫn là cuộc chiến tranh xâm
lược thực dân mới, buộc phải thực thi trong thế thua, thế thất bại và bị động, cho nên nó
chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược. Từ sự phân tích và nhận định đó, Trung ương
Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong toàn quốc, coi
chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
Về quyết tâm và mục tiêu chiến lược: Nêu cao khẩu hiệu “Quyết tâm đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược”, “kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ
12

lúc này là “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
2.4 Quá trình chỉ đạo thực hiện
2.4.1 Giai đoạn 1969-1973
13
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Trước những thử thách nặng nề của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân,
hải quân Mỹ, nhân dân miền Bắc đã sát cánh cùng đồng bào miền Nam ruột thịt, lao
động và chiến đấu dũng cảm, góp phần quan trọng vào thắng lợi vẽ vang của cách mạng
đất nước, “làm nên sự nghiệp phi thường: giữ vững và tăng cường lực lượng nước Việt
nam Dân chủ Cộng hòa về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa,…”
Do bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam “chiều hướng của Mỹ là
phải xuống thang kết thúc chiến tranh Viêt Nam”. Ngày 1-11-1968 Giônxơn tuyên bố
xuống thang chiến tranh, chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động
khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân các
nước đồng Minh của Mỹ ra khỏi miền Nam. Tuy nhiên dù xuống thang chiến tranh, Mĩ
vẫn bảo vệ quyền lợi và địa vị của chính quyền Sài Gòn và giữ miền Nam Việt Nam
không nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ, vẫn là thuộc địa kiểu mới của chúng. Vì
vậy, miền Bắc phải được tiếp tục củng cố và tăng cường về mọi mặt, đủ sức làm tròn
nhiệm vụ của hậu phương lớn đối vớit tiền tuyến lớn. Ngày 26-12-1968, Bộ Chính trị ra
Nghị quyết “Về nhận định tình hình kinh tế hiện nay và nhiệm vụ kinh tế năm 1969”.
Nghị quyết nêu rõ: “Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã được bảo vệ và vững bước tiến lên
trên con đường xã hội chủ nghĩa, đang phát huy mạnh mẽ vai trò vai trò, tác dụng của
hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”. Nhưng bên cạnh những thắng lợi có ý nghĩa
chiến lược, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ miền Bắc cũng mắc phải những khuyết điểm về
công tác chỉ đạo quản lí kinh tế, quản lí Nhà nước, như về “tổ chức quản lí nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa của ta ở miền Bắc có nhiều chỗ yếu và chưa thật thích hợp; trình độ tổ
chức và quản lí tiến bộ quá chậm so với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng; lề lối làm
việc còn quan liêu, sự vụ, thủ công mang nặng tính sản xuất nhỏ. Công tác kế hoạch hóa
còn nhiều nhược điểm và khuyết điểm, lại chậm cải tiến và tăng cường theo đúng yêu

khẩn cấp sau:
“1. Tập trung đảm bảo đầy đủ và kịp thời yêu cầu tăng cường sức chiến đấu cho
tiền tuyến, thực hiện triệt để khẩu hiệu: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
2. Đẩy mạnh sản xuất và xây dựng, đảm bảo đời sống của nhân dân. Tập trung sức
đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, xây dựng kinh tế địa phương, ra sức tăng cường giao
thông vận tải và những ngành trọng yếu của công nghiệp do Trung ương quản lí, làm
cho lực lượng kinh tế miền Bắc thêm lớn mạnh.
3. Tích cực chuẩn bị cho những năm sau và cho việc khôi phục và phát triển kinh
tế sau chiến tranh.”
15
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Về chính trị, để hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề trên đây, điều mấu chốt là
phải chú trong nhận tố con người, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Đầu năm
1969, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việc bồi dưỡng và nêu gương người tốt
việc tốt. Chỉ thị nêu rõ “việc nêu gương và cỗ vũ người tốt không những chỉ có ý nghĩa
động viên mọi người hoàn thành tốt các nhiệm vụ cách mạng trước mắt mà còn là một
trong những biện pháp cơ bản để xây dựng Đảng và các lực lượng nòng cốt của cách
mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới”.
Để tăng cường sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng trong giai đoạn mới, nhân dịp kĩ
niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta phải
ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối,
chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người Đảng viên. Phải thực hành phê
bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần
chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của Chi bộ phải nghiêm
túc. Kỹ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.
Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Thủ đô Hà Nội, để lại cho nhân
dân ta bản Di chúc lịch sử, mà ở đó, một loạt vấn đề trọng đại liên quan đến cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước tới công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh, sự nghiệp

- Cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp lớp đảng viên Hồ Chí
Minh.
Trước đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra cho công tác xây dựng
Đảng là “cần khẩn trương giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh – quốc phòng và đối ngoại. Do tình hình miền
Bắc đang tập trung chống chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra, Nghị quyết của
Quốc Hội ngày 2-5-1968 quyết định kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội khóa III và giao
cho Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức bầu cử quốc hội khóa IV khi tình hình cho
phép. Đến ngày 11-4-1971, nhân dân miền Bắc đã tiến hành bầu cử quốc hội, khóa IV,
420 đại biểu đã trúng cử. Từ ngày 6 đến ngày 10-6-1971, Quốc hội khóa IV họp kì thứ
nhất. Quốc hội đã bầu Chủ tịch nước – Tôn Đức Thắng, Phó chủ tịch nước – Nguyễn
Lương Bằng, Chủ tịch Quốc Hội – Trường Trinh, Thủ tướng Chính phủ - Phạm Văn
Đồng. Tại kì họp này, Quốc hội cũng đã bầu Ủy ban thường vụ Quốc Hội và thông qua
danh sách Hội đồng Chính Phủ, Hội đồng Quốc Phòng. Các Bộ, ngành cũng được tổ
chức, sắp xếp lại cho phù hợp.
17
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương các cấp cũng được củng cố một
bước. Ngày 27-4-1969, toàn miền Bắc tiến hành bầu cử Hội đồng Nhân dân huyện, xã
và các cấp tươg đương Và đến 25-4-1971, miền Bắc bầu cử Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh
và thành phố trực thuộc Trung ơng. Ngày 21-10-1970, Ủy ban thường vụ Quốc hội
thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và pháp
lện trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân.
Nhìn chung, những năm sau chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, thông qua
các cuộc vận động và các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, vai trò lãnh đạo của Đảng và
chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên được tăng cường một bước; hiệu lực của
chính quyền các cấp,các ngành từ Trung ương đến địa phương củng cố vững chắc. Đó là
những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế,
phát triển văn hóa giáo dục thời kì này.

lương thực, phát triển chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thành ngành chính; xây dựng một số
ngành kinh tế mới, phát triển nghề rừng, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp; tăng
nhanh mức nông sản xuất khẩu.
Cùng với việc triển khai các cuộc vận động lớn do Trung ương phát động, giai cấp
nông dân tập thể miền Bắc vừa gấp rút ổn định tình hình mọi mặt, giành một số lượng
ngày công thích đáng cho việc san lấp hố bom, cải tạo đồng ruộng, vỡ hóa, khai hoang,
mở rộng diện tích canh tác, khôi phục các công trình thủy lợi bị bom đạn Mỹ tàn phá và
xây dựng mới nhiều công trình thủy lợi khác phục vụ cho nông nghiệp. Ngoài những
công trình thủy lợi bị bon đạn Mỹ tàn phá được khôi phục, cho đến năm 1972, đã có
hơn 1.000 công trình thủy nông lớn được xây dựng và đưa vào sử dụng. Số công trình
được xây dựng từ 1962 đến 1972 tăng gấp hai lần so với những năm 1965 đến 1968 và
ba lần so với những năm 1961 đến 1964. Cùng với phong trào làm thủy lợi, nhiều tiến
bộ khoa học – ki thuật mới tiếp tục được áp dụng trên đồng ruộng miền Bắc đã góp
phần quan trọng vào việc tăng năng suất cây trồng vật nuôi…
Cùng với sự nỗ lực của giai cấp nông nhân, Nhà nước đã ban hành và thực hiện
một số chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp (chính sách về ổn định nghĩa vụ
lương thực, thực phẩm và phân phối lương thực trong khu vực hợp tác xã, chính sách về
chăn nuôi, chính sách về thu mua sản phẩm cây công nghiệp, chính sách về cung cấp tư
liệu sản xuất cho nông nghiệp, chính sách về giá cả, chính sách về việc Nhà nước cho
nông dân vay vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp…). Ngoài ra, Nhà nước khuyến
khích các ngành công nghiệp tăng cường hỗ trợ cho nông nghiệp, trước hết là ngành
điện cơ khí phân bón.
19
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Nhờ vậy, nền sản xuất nông nghiệp hợp tác xã miền Bắc có những bước phát triển
cả về diện tích, năng suất, cơ cấu, cây trồng vật nuôi… Năm 1970, diện tích đất canh tác
trên toàn miền Bắc đạt tới con số 3.028.100 ha (trong đó 2.723.700 ha trồng cây lương
thực) tăng hơn sáu vạn ha so với năm 1969 và gần bằng tổng diện tích đất canh tác năm
1965. Năng suất lúa cũng từng bước tăng lên. Đến năm 1970, năng suất lúa cả năm trên

đạt tới 2.467 (trong đó, bậc cao là 1.289 và bậc thấp là 1.358).
Chỉ qua ba năm 1968 đến 1970, nhiều ngành sản xuất công nghiệp đã đạt hoặc
vượt mức trước chiến tranh phá hoại. So với năm 1965, đến năm 1971, tổng sản lượng
điện tăng 20%; máy điêden tăng 19%, động cơ điện các loại tăng 49%, phân bón hóa
học tăng 61% Mặc dù trận lụt năm 1971 gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế quốc
dân nói chung, bao gồm cả sản xuất công nghiệp, nhưng trong năm này, giá trị tổng sản
lượng công nghiệp và thủ công nghiệp vẫn đạt được mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra và tăng
14% so với năm 1970. So với năm 1970 thì năm 1971, điện tăng 34% (810 kw/h), than
tăng 22% (3,26 triệu tấn), xi măng tăng 38%, súppe lân tăng 21%, vải tăng 17%, giấy
tăng 22%
Cùng với nông nghiệp và công nghiệp, các ngành giao thông, bưu điện, vận tải, tài
chính, ngân hàng, thương nghiệp thời kỳ này cũng có nhiều nỗ lực to lớn và đạt những
kết quả quan trọng, góp phần xứng đáng vào nhiệm cụ khôi phục kinh tế, phát triển văn
hóa, xã hội và tăng cường sức mạnh quốc phòng của hậu phương lớn miền Bắc.
Trong những năm chiến tranh, hệ thống giao thông vận tải bị bom đạn Mỹ đánh
phá dữ dội, liên tục. Trong bốn năm (1965-1968), tính trung bình mỗi kilômét đường sắt
và đường bộ miền Bắc phải hứng chịu 19,3 quả bom, đạn, bị đánh phá 4,1 lần. Riêng
tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh, mỗi kilômét bị đánh phá tới 19,5 lần. Cho đến cuối năm
1968, toàn bộ hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt của miền Bắc bị
tổn thương nghiêm trọng, bị tàn phá năng nề. Khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất kết
thúc, công tác khôi phục giao thông được đặt lên hàng đầu. Nếu những năm từ 1955 đến
1957, chỉ số vốn đầu tư của Nhà nước cho giao thông vận tải trung bình hàng năm là
100 thì tới những năm 1966 đến 1971, con số tương ứng là 435,4. Đó là một tỉ lệ khá
lớn, đảm bảo cho việc khôi phục và tiếp tục phát triển toàn bộ hệ thống giao thông vận
tải sau những năm tháng bị bom đạn Mỹ đánh phá dữ dội, nhằm phục vụ có hiệu quả
cho nhu cầu kinh tế, văn hóa – xã hội và an ninh quốc phòng của hậu phương miền Bắc.
Nhờ sự nỗ lự của toàn dân, toàn quân, một thời gian ngay sau ngày Mỹ ngừng ném bom
miền Bắc, các tuyến giao thông quan trọng và hệ thống cầu phà từ Lạng Sơn đến Vĩnh
Linh được khôi phục; nhiều tuyến đường khác cũng được mở rộng hoặc nâng cấp. Do
vây, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt và vượt mức trước chiến tranh phá hoại. nếu

đoàn nghệ thuật cũng tăng nhanh. Năm 1965, hệ thống truyền thanh miền Bắc có
214.200 loa và 137.000 máy thu thanh; 66 đội nghệ thuật. Tới năm 1971, con số tương
ứng là 311.900 loa, 328.500 máy thu thanh và 79 đội nghệ thuật chuyên nghiệp.
22
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
Sự nghiệp y tế cũng có bước tiến rõ rệt. Số lượng cơ sở phòng, chữa bệnh tăng; đội
ngũ y, bác sĩ ngày càng đông đảo, chất lượng khám chữa bệnh không ngừng được cải
thiện… Đến năm 1971, số bệnh viện tăng từ 252 (1965) lên 431, số bệnh xá tăng từ 350
(1965) lên 587, chưa kể tới các cơ sở khác như viện điều dưỡng, trại phong, viện nghiên
cứu ý học, trạm vệ sinh phòng dịch, trạm bảo vệ bà mẹ, trẻ em đều tăng về số lượng.
Tương ứng với sự phát triển về cơ sở vật chất, đội ngũ y, bác sĩ ngày càng đông đảo.
Năm 1971, cứ 10.000 dân có 11 bác sĩ, nhiều hơn hai lần so với năm 1965.
Sau những tháng năm chiến tranh ác liệt, bị bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề, hậu
phương lớn miền Bắc từng bước được khôi phục và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội. Những kết quả đạt được của miền Bắc, xét trong
điều kiện hiện thực lúc đó, là rất đáng tự hào. Nó tạo thêm điều kiện thuận lợi để miền
Bắc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tăng sức chi viện cho
chiến trường, sẳn sang đập tan âm mưu hành động mở rộng chiến tranh của đế quốc
Mỹ.
Về chi viện cho tiền tuyến, nhằm đảm bảo chi viện kịp thời cho chiến trường miền
Nam, việc tổ chức và hoạt động của tuyến vận tải quân sự ở hậu phương miền Bắc giữ
một vị trí hết sức quan trọng. Sau cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, hầu
hết các tuyến đường sắt, đường thủy chạy qua miền đất lửa (khu IV) nhanh chóng được
khôi phục. Trong khi đó, hoạt động vận tải quân sự trên địa bàn Nam Quân khu IV được
chuyển từ trục 15 sang trục quốc lộ số 1. Toàn bộ hệ thống kho tàng quân sự, bồn chứa
xăng dầu được chấn chỉnh, kiên quyết bỏ những khu kho quá xa các trục giao thông.
Tháng 6-1970, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng Chi viện tiền tuyến
Trung ương, trực thuộc Hội đồng Chính phủ trực tiếp tổ chức nhằm huy động sức mạnh
tiềm tang của hậu phương miền Bắc và công cuộc kháng chiến, chi viện sức người, sức

này đoàn 559 đảm nhận nhiệm vụ chiến đấu và vận tải chi viện chiến trường trên một
khu vực rộng lớn từ Nam sông Gianh (Quảng Bình) đến miền Đông Nam Bộ, qua Đông
Bắc Campuchia và Hạ Lào, với tổng chiều dài toàn tuyến vận chuyển tới 6.000 km
ngang qua nhiều khu vực địa hình phức tạp. Để hoàn thành nhiệm vụ, Đoàn được tăng
cường một lực lượng lớn, nâng tổng số quân của Đoàn 559 lên tới 70.000 người; được
bổ sung hơn 3.500 xe ôtô, 200 khẩu pháo cao xạ và súng cối, 100 chiếc xe ủi, xe kĩ
thuật rà phá bom mìn, 700 máy vô tuyến điện. Toàn bộ lực lượng trên được tổ chức
thành các bộ phận cơ động và tại chỗ.
Bên cạnh vận tải đường bộ, trước đòi hỏi cấp bách của chiến trường, Quân ủy
Trung ương chỉ thị “phải tích cực tăng tỉ lệ vận chuyển đường song, đường ống, phải
24
Vai trò của hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-
1975)
nhanh chóng cải tạo các dòng song, khẩn trương đưa đường ống vào càng sớm càng
tốt”. Được sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực của Nhà nước, của chính quyền và nhân dân địa
phương khu vực đường ống đi qua, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên làm nhiệm vụ và xây
dựng tuyến đường ống qua cán bộ, chiến sĩ, nhân viên làm nhiệm vụ xây dựng tuyến
đường ống chiến lược nối từ hậu phương miền Bắc tới chiến trường miền Nam đã khắc
phục muôn vàn gian khổ, trụ bám kiên cường cả những nơi máy bay địch đêm ngày bắn
phá, tìm hiểu và nắm vững quy luật hoạt động của máy bay địch để tìm đối phó hiệu
quả, kiên quyết gia tăng tiến độ thi công. Nhờ đó, trong ba năm (1969 đến 1971), hệ
thống đường ống dài gần 1.000 km được lắp đặt và đi vào hoạt động.
Nhờ hệ thống đường ống, nguồn nhiên liệu được đảm bảo, Đoàn 559 và các chiến
trường có thêm điều kiện tăng cường hoạt động vận tải cơ giới và sử dụng các phương
tiện kĩ thuật hiện đại phục vụ chiến đấu, đặc biệt vào thời kì quân ta mở các chiến dịch
quân sự lớn trên chiến trường. Năm 1969. Khối lượng hàng vận tải vào chiến trường
thông qua tuyến đường 559 là 170.000 tấn, tăng 29% so với năm 1968, bao gồm hàng
chục vạn khẩu súng bộ binh sung B40, B41, ĐKZ và hàng trăm triệu viên đạn các loại,
hàng nghìn máy vô tuyến điện…Cũng trong năm này, hơn 80.000 quân từ miền Bắc
hành quân vượt Trường Sơn vào bổ sung cho các chiến trường miền Nam. Các năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status