đóng góp của phụ nữ bến tre trong kháng chiến chống mĩ cứu nước (1954 – 1975) - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phan Thị Thanh Minh
ĐÓNG GÓP CỦA PHỤ NỮ BẾN TRE TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


miền Nam là những người đã gánh chịu những mất mát, đau thương và hậu quả
nặng nề nhất của cuộc chiến. Thực tế ấy là một cuộc thử thách vô song cho ý chí
can trường của con người, cho sự chung thủy với non sông đất nước, cho sự trung
hậu, đảm đang của người phụ nữ.
2
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, kế thừa truyền thống của Bà Trưng, Bà
Triệu, phụ nữ miền Nam đã cùng với các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống đế
quốc Mĩ xâm lược kéo dài hơn 20 năm. Danh hiệu “anh hùng, bất khuất, trung hậu,
đảm đang” chính là sự ghi nhận công lao của Đảng và Nhà nước ta đối với các mẹ,
các cô, các chị em gái miền Nam.
Trong phong trào phụ nữ Nam Bộ, đóng góp của phụ nữ Bến Tre là một trong
những đóng góp tiêu biểu. Tại đây, lần đầu tiên trong Đồng Khởi năm 1960, đã xuất
hiện một lực lượng hùng hậu gồm hàng ngàn phụ nữ được tổ chức thành đội ngũ
hẳn hoi, tấn công trực diện vào kẻ thù, đã mở đường cho sự hình thành đội quân
chính trị khổng lồ, tức “đội quân tóc dài” ở khắp miền Nam trong những năm sau
đó, và hình ảnh trở thành biểu tượng của phong trào phụ nữ miền Nam được xem
như một “binh chủng” đặc biệt trong kháng chiến chống Mĩ. Cũng từ đây đã ra đời
chiến thuật “ba mũi giáp công” (đánh địch đồng thời bằng chính trị, quân sự và binh
vận) và được nhanh chóng phổ biến thành kinh nghiệm chiến đấu trên một phạm vi
rộng lớn.
Từ thực tế lịch sử chói ngời, sinh động và đặc biệt như thế, có nhiều vấn đề
được đặt ra, mà ý kiến của Giáo sư Phơrăng Đinh-man người Canađa là một điển
hình: “Tôi không hiểu tại sao ở Việt Nam lại có nhiều phụ nữ đánh giặc giỏi, bắn
máy bay Mĩ rất cừ, và ở miền Nam Việt Nam lại có vị Phó tổng tư lệnh là phụ
nữ…” [48, 16]. Thật thú vị khi vị Phó tổng tư lệnh quân đội ấy chính là Nguyễn Thị
Định, một người phụ nữ của Bến Tre. Nhưng đó chỉ là cá nhân một con người cụ
thể, đó có phải là một trong số rất nhiều người phụ nữ Bến Tre hay không ? Trên
thực tế phụ nữ Bến Tre đã làm được những gì để chung tay cùng các tầng lớp nhân
dân trong sự nghiệp chung, họ có đóng góp gì cho kháng chiến tại địa phương và
làm rạng danh phụ nữ miền Nam ? Và những người phụ nữ quê dừa ấy có thật sự

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề mà luận văn đề cập chỉ là một khía cạnh nhỏ trong mảng nghiên cứu về
lịch sử Bến Tre – đóng góp của phụ nữ trong giai đoạn 1954-1975. Cho nên đối
4
tượng khảo sát chủ yếu của đề tài là đông đảo quần chúng phụ nữ lao động bình
thường, những phụ nữ nhiều khi không để lại tên tuổi, nhưng là những người chiếm
số đông và có vai trò quyết định. Tuy nhiên, một bộ phận phụ nữ anh hùng sẽ được
nhắc tới như là một biểu hiện làm nổi bật những cái chung, họ là những người có
một vai trò và ảnh hưởng nhất định trong lịch sử.
Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 1954-1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng của
giai cấp công nhân, lịch sử chứng kiến sự vươn mình mạnh mẽ của họ trong bão táp
cách mạng liên tục trong vòng hơn 20 năm.
Nhưng giới hạn của các giá trị lý luận và thực tiễn của vấn đề không chỉ ngừng
lại quanh phạm trù phụ nữ. “Nói phụ nữ là nói nửa phần của xã hội” [48, 16, trích
lời Hồ Chủ Tịch, tháng 10-1959]. Cho nên giải đáp vấn đề phụ nữ Bến Tre cũng tức
là góp phần quan trọng giải đáp vấn đề xã hội, vấn đề dân tộc ở Bến Tre. Sự hiểu
biết về phụ nữ Bến Tre còn là một cơ sở, một mục đích đối với nhiều người đang có
những yêu cầu hiểu biết cấp bách về xã hội, về con người tại một tỉnh miền Tây
Nam Bộ.
Đề tài chỉ đề cập đến những người phụ nữ trong xã hội. Việc nghiên cứu tách
biệt một thành giới trong nhiều thành giới khác nhau của xã hội là việc cần thiết,
trong điều kiện nội dung đã được xác định của đề tài. Tuy nhiên, từ chỗ này cũng
làm nảy sinh một số khó khăn. Bởi vì, thường không có sự tồn tại và vận động riêng
biệt, độc lập của giới phụ nữ, cũng như của các giới khác trong xã hội.
Khi Hồ Chủ tịch nói “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, thanh niên Việt
Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng” (Lời Hồ chủ
tịch tháng 12.1965) [48, 22] thì Người cũng đã khẳng định vai trò và sự liên quan
chặt chẽ của nhiều thành giới khác nhau trong sự nghiệp chung của dân tộc. Cho
nên, trong khi khảo sát riêng giới phụ nữ, chúng tôi cố gắng đề cập đến trong chừng
mực nhất định những hoàn cảnh lịch sử chung có liên quan và làm cơ sở cho những

biến chuyển trong tình hình miền Nam và cả nước. 6
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay, đã có một số tác phẩm và công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả viết về phụ nữ Bến Tre ở những mức độ khác nhau.
Trước hết là một số tác phẩm viết về phụ nữ Việt Nam mang tính khái quát và
có liên quan đến đề tài:
Trong Phụ nữ miền Nam nước ta trong phong trào giải phóng dân tộc của
Nguyễn Thị Thập, bên cạnh chương trình và điều lệ của Hội Liên hiệp phụ nữ giải
phóng miền Nam, sau khi vạch rõ chính sách khủng bố và tội ác của Mĩ- ngụy đối
với phụ nữ miền Nam, tác giả đã khái quát sự cống hiến lớn lao của phụ nữ miền
Nam vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, và khẳng định phong trào đấu
tranh yêu nước của phụ nữ miền Nam hiện nay (thời điểm năm 1963) chính là kế
tục sự nghiệp đấu tranh của phụ nữ cả nước trong các thời kỳ cách mạng trước đây.
Mặc dù tác phẩm không viết riêng về phụ nữ Bến Tre, nhưng chúng ta hiểu đó là
một bộ phận khăng khít của phụ nữ Nam Bộ cho nên đây cũng là gợi ý có giá trị để
người viết thực hiện đề tài.
Ở một phạm vi rộng hơn, tác phẩm Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại (1973)
của Lê Thị Nhâm Tuyết cho chúng ta có cái nhìn về người phụ nữ Việt Nam bằng
những nét cơ bản nhất qua các thời kỳ, từ buổi đầu dựng nước đến năm 1973. Tác
giả dành chương V để khai thác mảng về người phụ nữ trong phong trào cách mạng
hiện đại. Không trình bày về phụ nữ tại một địa phương cụ thể nào, nhưng việc
khẳng định vai trò người phụ nữ trong công tác hậu phương và chiến đấu đã khơi
gợi cho tác giả luận văn suy nghĩ mở rộng vấn đề.
Tham luận tại Đại hội phụ nữ Việt Nam lần thứ IV năm 1974 có bài phát biểu
Phụ nữ miền Nam kiên cường bất khuất đuổi Mĩ lật thiệu, giải phóng miền Nam bảo
vệ miền Bắc. Sau khi điểm qua những chính sách mà Mĩ sử dụng đối với đồng bào
miền Nam cùng hậu quả của nó, tác giả khẳng định việc phụ nữ miền Nam vùng lên

quân tóc dài của Tổ sử phụ nữ Nam Bộ, Phụ nữ miền Nam Việt Nam bất khuất,
Phụ nữ Việt Nam những sự kiện đầu tiên và nhất của Trần Nam Tiến, Đội quân
“tóc dài” của Nhà xuất bản phổ thông (1967)…… Một số bài viết mang tính
8
chuyên đề được đăng trên các báo, tạp chí cũng đề cập đến vấn đề ở những góc độ,
mức độ khác nhau, tiêu biểu là Gặp tư lệnh đội quân tóc dài ở binh trạm Trường
Sơn (báo Sự kiện và nhân chứng), Đội quân tóc dài – sự tỏa sáng của những huyền
thoại (Sài Gòn giải phóng)….
Cùng với những công trình nghiên cứu chung, chúng tôi tìm thấy một số tác
phẩm viết riêng về Bến Tre có đề cập đến phong trào phụ nữ ở đây và một tác phẩm
nói về phụ nữ Bến Tre.
Trong tác phẩm viết chung về lịch sử Bến Tre từ năm 1960 đến tổng tiến công
và nổi dậy mùa xuân 1975 với tên gọi Đồng Khởi ở Bến Tre (viết năm 1985), tác
giả Quỳnh Cư có đề cập tới hoạt động của phụ nữ Bến Tre nhưng chủ yếu đi sâu về
đấu tranh cách mạng của nhân dân toàn tỉnh. Luận án phó tiến sĩ Lịch sử của Trần
Quỳnh Cư (1994) chính là sự bổ sung và phát triển nghiên cứu này nhưng phạm vi
được thu hẹp, chỉ tập trung vào đồng khởi năm 1960. Cả hai tác phẩm này đều là
những tư liệu cần thiết và cung cấp cho người viết một số luận điểm có tính chất gợi
ý cần đi sâu.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Bến Tre (1985) là công
trình tổng kết của Ban chỉ huy quân sự tỉnh. Trong đó, xen kẽ giữa nguồn tư liệu
phong phú về lịch sử đấu tranh của nhân dân tỉnh nhà là những trang viết ghi nhận
lại hoạt động của phụ nữ Bến Tre đóng góp cho phong trào đấu tranh tại địa
phương.
Dưới góc độ văn học, tập hồi ký Không còn con đường nào khác sau đó sữa
chữa lấy tên là Nữ chiến sĩ rừng dừa (1986) của đồng chí Nguyễn Thị Định là tiếng
nói của “người trong cuộc” phản ánh đôi nét về phong trào đấu tranh của nhân dân
Bến Tre giai đoạn 1954-1960, và cũng cho chúng ta hiểu phần nào tâm tư tình cảm
của người phụ nữ Bến Tre trong chiến tranh. Huyền thoại quê hương đồng khởi do
Tỉnh ủy Bến Tre biên soạn cũng thuộc dạng hồi ký, đáng kể là bài viết của tác giả

rạc, chưa thành hệ thống, chưa phản ánh một cách toàn diện khái quát vấn đề.
10
5. Nguồn sử liệu
Tài liệu sử dụng trong luận văn này được khai thác và tập hợp từ nhiều nguồn
khác nhau:
Về mặt lý luận, chúng tôi dựa vào những văn kiện của Đảng về kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của đồng chí Lê
Duẩn:
- Hồ Chí Minh, Về nhiệm vụ chống Mĩ cứu nước.
- Hồ Chí Minh, Tuyển tập.
- Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội
tiến lên giành những thắng lợi mới
- Lê Duẩn, Thư vào Nam
- Một số văn kiện của Đảng về chống Mĩ cứu nước
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng các tư liệu từ:
- Các luận văn và các công trình nghiên cứu đã được công bố về phong trào cách
mạng của phụ nữ ở miền Nam nói chung và Bến Tre nói riêng.
- Các báo cáo tổng kết của các ban, ngành của tỉnh Bến Tre như: Hội Liên hiệp
phụ nữ, Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Ban chỉ huy quân sự, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng, Ban
Tổng kết chiến tranh.
- Các tác phẩm văn học là những hồi ký của những người đã từng sống trong
những năm tháng lịch sử và những người đã từng tiếp xúc với họ.
Cuối cùng, kết hợp với những tư liệu thu thập được trong các chuyến điền dã: về
các xã Đồng khởi, các địa phương có phong trào phụ nữ mạnh, gặp gỡ những người
phụ nữ đã từng tham gia trong chiến tranh chống Mĩ để thực hiện đề tài.

6. Đóng góp mới của luận văn
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, thực hiện đề tài, luận văn đã được hoàn
thành với những đóng góp sau:
- Trình bày một cách có hệ thống về đóng góp của người phụ nữ trong hoàn


12
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BẾN TRE TRƯỚC NĂM 1954

1.1 Những nét chung về đất và người Bến Tre
1.1.1 Vài nét về địa lý lịch sử tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, ở phía Đông Nam,
cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km, được hợp thành bởi ba cù lao lớn: cù lao An
Hóa, cù lao Minh và cù lao Bảo do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền,
sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ qua nhiều thế kỉ.
“Nhìn trên bản đồ, tỉnh Bến Tre có hình rẽ quạt, mà đầu nhọn nằm ở thượng
nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xòe rộng ra ở phía Đông. Diện tích
tự nhiên của tỉnh có 2.315,01km
2
, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới
chung là sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh
giới chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65
km” [85, 23].
Bến Tre có 7 huyện và 1 thị xã ( Năm 2009 Bến Tre có 8 huyện và 1 thành phố
trực thuộc tỉnh) . Các huyện gồm: Châu Thành, Bình Đại, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ
Cày, Chợ Lách, Thạnh Phú, chia thành 115 xã, 811 ấp và một thị xã, 9 thị trấn.
Trong đó, Mỏ Cày là nơi có phong trào cách mạng sôi nổi nhất, các xã Định Thủy,
Phước Hiệp, Bình Khánh là nơi mở đầu của cao trào Đồng Khởi trong toàn tỉnh. Mỏ
Cày cũng là huyện có có nhiều nhất số Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 438 trong tổng
số 1.744 Mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh được công nhận (tính đến năm 1997).
Là tỉnh hẹp nhất so với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, Bến Tre có diện
tích tự nhiên là 2.224,75 km
2
. Đây là xứ đất bồi, địa hình bằng phẳng, rải rác có
những giồng cát xen lẫn với ruộng vườn. Bến Tre không có rừng lớn, rừng già, chỉ

- Sông Ba Lai chảy dọc phía Nam cù lao An Hóa và là ranh giới giữa cù lao
An Hóa và cù lao Bảo.
- Sông Hàm Luông chảy dọc theo phía Nam cù lao Bảo và là ranh giới giữa cù
lao Minh và cù lao Bảo.
- Sông Cổ Chiên chảy dọc theo phía Nam và Tây cù lao Minh cũng là ranh
giới phía Nam của tỉnh.
Ngoài ra còn có các sông, rạch phụ như: sông Bến Tre chảy qua thị xã Bến Tre,
sông Vàm Nước Trong chảy qua Mỏ Cày đổ ra sông Hàm Luông, sông Bang Tra
chảy dọc Tây Nam Mỏ Cày…Một số kinh rạch lớn như rạch Khâu Băng, rạch Cầu
Mống, rạch Vũng Luông, rạch Mĩ Lồng…
Về giao thông vận tải, Bến Tre có một hệ thống đường thủy gồm những con
sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm
14
Luông và cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận biên giới Campuchia
và một hệ thống kênh, rạch chằng chịt đan vào nhau như những mạch máu chảy
khắp ba dải cù lao, rất thuận tiện cho giao thông vận tải cũng như thủy lợi. Tàu bè
từ thành phố Hồ Chí Minh đi về miền Tây và ngược lại đều đi qua đất Bến Tre.
Cùng với hệ thống đường thủy, Bến Tre còn có hệ thống đường bộ:
- Đoạn quốc lộ 60 chạy từ phà Rạch Miễu qua thị xã Bến Tre, qua Phà Hàm
Luông, thị trấn Mỏ Cày, đến phà Cổ Chiên sang tỉnh Trà Vinh.
- Đoạn quốc lộ 57 từ thị trấn Mỏ Cày, qua thị trấn Chợ Lách sang tỉnh Vĩnh
Long.
- Tỉnh lộ 888 nối thị trấn Mỏ Cày – thị trấn Thạnh Phú.
- Tỉnh lộ 885 nối thị xã Bến Tre – thị trấn Giồng Trôm – thị trấn Ba Tri.
- Tỉnh lộ 884 từ ngã ba Tân Thành đến bến phà Tân Phú, tỉnh lộ 882, 883,
887… Chính từ những đặc điểm trên, Bến Tre có một vị trí đặc biệt trong
thời chiến cũng như trong thời bình.
Với hệ thống đường thủy, đường bộ đan chéo nhau chằng chịt như thế, trong
chiến tranh, Bến Tre là một chiến trường dễ bị địch chia cắt, phong tỏa. Nhưng mặt
khác, địa bàn Bến Tre khá thuận lợi cho sự cơ động của du kích trong chiến đấu và

Việt Nam đã được khởi đầu bởi những con người có trình độ uyên thâm như:
- Nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký - người làm báo đầu tiên ở Việt Nam, người
thông thạo 27 thứ tiếng nước ngoài (12 ngôn ngữ phương Tây, 15 ngôn ngữ
phương Đông). Trong khoảng thời gian 40 năm (1858 - 1898), Trương Vĩnh
Ký đã để lại cho đời 118 tác phẩm, bao gồm sách nghiên cứu, sưu tầm, dịch,
phiên âm trong đó có hàng chục quyển sách viết bằng Pháp văn.
- Sương Nguyệt Anh, người con gái tài ba của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu -
chủ bút tờ "Nữ Giới Chung" và Lê Hoằng Mưu - chủ bút tờ “Lục Tỉnh Tân
Văn”.
Mảnh đất này còn đóng góp những nghệ sĩ tài năng cho đất nước như:
16
- Nghệ sĩ Nhân dân Lê Long Vân (Ba Vân), người đã toàn tâm toàn ý dâng
trọn cuộc đời cho sân khấu cải lương.
- Nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Phi Hoành
- Họa sĩ Lê Văn Đệ
- Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát
- Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu, một gương mặt lớn của nền nghệ thuật tạo
hình Việt Nam và tên tuổi của ông đã được đã được giới thiệu trong Bách
khoa toàn thư của châu Âu.
Kế thừa truyền thống văn thơ yêu nước và cách mạng, những thành tựu trên các
lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của cha ông, nhân dân Bến Tre đã đẩy mạnh các hoạt
động thơ ca, văn nghệ, hội họa, mĩ thuật phục vụ cho kháng chiến chống Pháp và
chống Mĩ, chống lại có hiệu quả nền văn hóa nô dịch của bọn xâm lược.

1.1.2 Phụ nữ Bến Tre trong công cuộc khai phá, định cư
Thế kỉ XIII, Châu Đạt Quan, một sứ thần của nhà Nguyên (Trung Hoa) trong
chuyến kinh lý sang kinh đô Ăngco của Chân Lạp bằng đường thủy từ biển ngược
sông Cửu Long di qua vùng đất Nam Bộ ngày nay đã viết “Bắt đầu từ Chân Bồ
(vùng biển Vũng Tàu ngày nay), gần hết cả vùng đều là bụi rậm của rừng thấp,
những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm…Vào nửa đường trong

Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được điều kiện thuận lợi để
bám trụ nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới
đây bằng hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.
Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa
Hàm Luông vào định cư ở những vùng đất cao dọc các con sông lớn, hoặc chọn các
khu đất giồng để khai phá.
Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thế kỉ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là
cù lao An Hóa còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch. Nhóm
này (cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên) vốn là di thần nhà Minh bất phục nhà
Thanh chạy sang Việt Nam xin tị nạn. Khi đến định cư ở Mỹ Tho, có một bộ phận
18
đã vượt sông sang cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba
Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay.
Với việc chuyển cư diễn ra liên tục, dân cư Bến Tre ngày càng đông đúc. Năm
1779, chính quyền nhà Nguyễn đã đặt Bến Tre thành tổng Tân An (thuộc dinh Long
Hồ) gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh [85].
Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu sinh tìm cách sống,
mà trước hết là khai phá các vùng đất hoang. Sự nghiệp khai phá được ông bà ta
đúc kết trong câu thành ngữ “Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”. Đây là một công
việc cực nhọc, gian truân đầy nguy hiểm và chứa đựng không ít rủi may. “Phá sơn
lâm” có nghĩa là chặt cây, phá rừng, khai hoang, vỡ đất để làm ra lương thực nuôi
con người. “Đâm hà bá” là làm nghề hạ bạc trên sông nước như chài lưới, giăng
câu, đóng đáy giữa đêm hôm và cả những khi sóng gió. Tất nhiên cả hai công việc
diễn ra trong môi trường thiên nhiên còn rất hoang vu, xa lạ, bí ẩn, đầy thú dữ, rắn
rết đến nỗi “con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh” như người ta thường
nhắc.
Rõ ràng sự nghiệp khai hoang và định cư trên đất Nam Bộ nói chung hay Bến
Tre nói riêng là một công việc cực kỳ gian nan, đầy thử thách, nó đòi hỏi ý chí, lòng
gan dạ, mưu trí cộng với sức mạnh hợp quần của cả cộng đồng mới có thể vượt qua
để tồn tại và phát triển. Dân gian vẫn còn lưu truyền nhiều tấm gương giỏi giang,

của phụ nữ vừa nhằm đáp ứng nhu cầu sức lao động đồng thời để có người nối dõi,
kế thừa hương lửa cho gia đình. Hộ sinh – một nghề quan trọng là thế nhưng hầu
như không có ai qua trường lớp, mà chỉ qua kinh nghiệm mẹ truyền con nối hoặc bà
truyền cho cháu. Với tấm lòng và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng, có nhiều bà
mụ ngày xưa đã đỡ qua tay mình hàng trăm, hàng ngàn đứa trẻ, góp cho xã hội
những thế hệ kế tục sự nghiệp của cha ông, nhưng nghề mụ chỉ cốt mong sao cho
“mẹ tròn con vuông”, không cầu tiền bạc, không tính ơn nghĩa. Danh tiếng, đức độ
và tài năng của các bà mụ đã được nhân dân huyền thoại hóa qua câu chuyện bà mụ
đỡ đẻ cho con cọp cái và được cọp trả ơn ở Thạnh Phú. Ngày nay, tại thị xã Bến Tre
20
vẫn còn chiếc cầu mang tên cầu Bà Mụ cũng với ý nghĩa ca ngợi, nhớ ơn công lao
của các Bà Mụ.
Đầu thế kỉ XIX, dân số Bến Tre đạt khoảng 10 vạn người [86, 24]. Con số này
mang nhiều ý nghĩa không chỉ liên quan đến sức sản xuất mà cả với vấn đề phát
triển kinh tế, xã hội. Làng mạc lúc này đã nối nhau liền dải, giao thông phát triển,
chợ búa, đình chùa, nhà thờ được xây cất ở nhiều nơi; sản xuất nông nghiệp, ngư
nghiệp phát triển. Cùng với đó là các nghề thủ công mới ra đời. Có nhiều nghề thu
hút đông đảo phụ nữ tham gia hoặc họ có lợi thế nhất như nghề trồng dâu, nuôi tằm,
ươm tơ, dệt lụa. Bàn tay phụ nữ ở đây cũng đã tạo ra những đặc sản nổi tiếng của
xứ cù lao như chiếu Nhơn Thạnh, cau Xẻo Sâu, bánh tráng Mĩ Lồng, bánh phồng
Sơn Đốc…và hàng chục món ăn khác được chế biến với dừa, một loại cây đặc sản
của Bến Tre.
Trên lĩnh vực lưu thông phân phối, ngay từ thời đường bộ chưa phát triển mấy,
chưa có phương tiện vận tải cơ giới, thì việc gánh gồng bằng đôi vai trên những
dặm đường dài hàng chục cây số, hay chèo ghe bơi thuyền trên sông rạch để thu
mua, phân phối những nhu yếu phẩm, phần lớn đều do phụ nữ cáng đáng.
Buổi đầu khai phá, thiết lập làng xã, vai trò người phụ nữ còn thể hiện trong lĩnh
vực trồng người. Theo Chuyên khảo tỉnh Bến Tre, thời phong kiến, trước khi thực
dân Pháp xâm lược, phủ Hoằng Trị (gồm cù lao Minh và cù lao Bảo) lúc ấy có đến
70 trường dạy chữ nho [86, 26]. Điều thú vị là ở đất này không chỉ có ông đồ mà có

kháng chiến của quân triều đình thất bại, thành Gia Định bị chiếm, quân đội triều
đình phải rút ra vòng ngoài, đào hào, đắp lũy, tiếp tục cuộc kháng chiến.
Nhân dân Nam Kỳ lúc ấy, mà trực tiếp nhất là các tỉnh Biên Hòa, Định Tường,
Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) đã nô nức góp tiền, góp gạo giúp quân triều đình,
đồng thời tổ chức những nhóm nghĩa quân tham gia chống quân xâm lược, bảo vệ
quê hương.
Chị em phụ nữ cũng nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình cần gánh vác
để cho chồng yên tâm lên đường giết giặc:
Anh đi đánh giặc Lang Sa
22
Để thiếp ở nhà lo tần, lo tảo
Chén cơm, manh áo, nhà cửa ruộng vườn…
Trong thực tế, người phụ nữ không chỉ biết tần tảo, lo chén cơm manh áo, lo
chăm sóc mẹ già, con dại, vừa gánh vác việc nhà thay chồng, mà họ còn đồng thời
chung vai góp sức vào việc tải lương, tải đạn, đào hào, đắp lũy, xây dựng phòng
tuyến chống giặc, đi liên lạc, làm trinh sát…Tuy nhiên, những nhà viết sử thời ấy
thường chỉ ghi chép về hành động anh hùng của phái nam mà ít chú ý đến những
gương sáng, những gương oanh liệt của chị em phụ nữ. (Điều này cũng dễ hiểu, vì
xã hội bị những quan niệm phong kiến chi phối – theo quan niệm đó, vai trò và địa
vị của người phụ nữ không được đề cao). Nguyễn Thông – một người đã từng ghi
chép những truyện anh hùng cũng đã có lần tự trách: “Từ khi người Tây gây hấn ở
Lục tỉnh, sĩ phu và dân chúng đã liều mình đứng lên khẳng khái chịu chết, kể không
xiết được…còn như ở chốn làng xa, ngõ hẻm, những trinh phụ, liệt nữ trung nghĩa
không chịu ô nhục, chống giặc đến chết có mấy chục người. Tiếc rằng thời thế đổi
đời, đường sá cách trở, sự tích không sao biết rõ hết được” [95, 25].
Những người phụ nữ ấy chắc hẳn không mong mình được lưu danh sử sách, họ
hành động như một điều tất yếu phải làm. Có một điều dễ nhận thấy, đó là ngay
trong những ngày đầu, khi thực dân Pháp đặt gót giày xâm lược giày xéo quê
hương, người phụ nữ đã tích cực tham gia cùng với nam giới để bảo vệ từng tấc đất
quê hương, tinh thần yêu nước và đánh giặc giữ nước của người phụ nữ được biểu

11-1940, đảng bộ và nhân dân Bến Tre đã nổi dậy dưới lá cờ đỏ sao vàng. Cuộc
khởi nghĩa bị đàn áp khốc liệt. Ở Bến Tre có 400 người bị bắt, bị tra khảo, nhục
hình, nhiều đảng viên bị lưu đày, trong đó có nhiều đảng viên nữ [86, 41].
Đặc biệt, trong cách mạng tháng Tám 1945, phụ nữ tham gia tích cực trong Hội
phụ nữ cứu quốc cùng với các đoàn thể, tổ chức quần chúng và Việt Minh tiến hành
tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, mở ra một trang mới trong lịch
sử dân tộc. Đối với riêng giới nữ, cách mạng tháng Tám cũng là mốc đánh dấu thời
kỳ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới, tham gia vào mọi hoạt động, mọi tổ
24
chức xã hội, đem hết khả năng của mình phục vụ đất nước, trước hết là củng cố nền
độc lập mới giành được.
Có thể nhận thấy, trong suốt giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XIX cho đến cách mạng
tháng Tám 1945, qua các phong trào yêu nước chống ngoại xâm từ buổi đầu cho
đến các phong trào đấu tranh cho dân sinh, dân chủ và giải phóng dân tộc, phụ nữ
Bến Tre luôn có mặt, kề vai sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân trong những lúc
thuận lợi cũng như khó khăn, sớm có mặt trong hàng ngũ những người cộng sản và
đã tỏ ra kiên cường, bất khuất trước mọi sự khủng bố, đàn áp của kẻ thù. Tinh thần
ấy được các thế hệ phụ nữ tiếp tục gìn giữ và phát huy trong giai đoạn kháng chiến
chống Pháp sau này.

1.2.2 Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
Sau cách mạng tháng Tám, những ngày đầu xây dựng và củng cố chính quyền
cách mạng, chị em phụ nữ sôi nổi hưởng ứng “Tuần lễ vàng” và “Quỹ độc lập”.
Nhiều chị em đem cả các tư trang, vật kỉ niệm ngày cưới, của hồi môn đóng góp
vào quỹ kháng chiến. Những hành động cao quý ấy nói lên tấm lòng yêu nước nồng
nàn của người phụ nữ lúc bấy giờ.
Ngày 23-9-1945, Pháp bắt đầu nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Ở Bến Tre do địa
hình sông nước cách trở nên bị chiếm muộn hơn, nhưng khoảng thời gian được tự
do chỉ 135 ngày [86, 49]. Và như nhiều nơi khác ở Nam Bộ, nhân dân Bến Tre lại
bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ 2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status