QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DIỄN ĐÀN AN NINH KHU VỰC ARF, NHỮNG THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CÀ THỊ HOAN
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA DIỄN ĐÀN AN NINH KHU VỰC ARF,
NHỮNG THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài này.
Em xin trân trọng cảm ơn! Sơn La, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Cà Thị Hoan
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1. Cơ sở tài liệu 3
4.2. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ARF 5
1.1. Hoàn cảnh ra đời của ARF 5
1.1.1. Sự lo ngại của ASEAN về một “khoảng trống quyền lực” khi chiến tranh
lạnh kết thúc 5
1.1.2. Biển Đông là một vấn đề nổi cộm lôi kéo sự quan tâm của nhiều quốc gia 10
1.1.3. Mâu thuẫn trong nội bộ ASEAN 13
1.1.4. Thách thức của toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế 15
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của ARF 16
1.2.1. Quá trình hình thành của ARF 16
1.2.2 Quan điểm của ASEAN về an ninh khu vực 17
1.2.3 Sự phát triển của ARF 18

khu vực. Diễn đàn này bổ sung vào các cơ chế liên minh song phương và đối
thoại khác nhau hiện có ở châu Á, củng cố thêm triển vọng hợp tác an ninh ở
khu vực này. Hiện nay, sau hơn 19 năm tồn tại và phát triển, ARF đang chứng tỏ
được sức sống và giá trị thực tiễn của mình, được các thành viên cũng như dư
luận quốc tế đánh giá cao.
Đề tài “Quá trình hình thành và phát triển của diễn đàn an ninh khu vực
ARF, những thách thức và triển vọng” không chỉ liên quan đến sự hợp tác về an
ninh của các nước nội khối ASEAN mà còn là sự hợp tác giữa các nước ASEAN
với các nước lớn trên thế giới về việc đảm bảo an ninh ở khu vực châu Á – Thái
Bình Dương. Thông qua đó giúp ta hiểu rõ được vai trò, những thách thức và
triển vọng của ARF trong quá trình hợp tác, phát triển của các nước Đông Nam
Á với các nước trên thế giới.

2
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần bổ sung nguồn tư
liệu quý giá cho giáo viên trong việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông và
còn là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập.
Vì những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Quá trình hình thành và phát triển của
diễn đàn an ninh khu vực ARF, những thách thức và triển vọng” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình. Đây không phải là vấn đề mới, nó chỉ là một phần nhỏ
trong chuỗi dài của lịch sử ASEAN nhưng rất quan trọng bởi sự ổn định về an
ninh sẽ là tiền đề góp phần thúc đẩy các hoạt động hợp tác song phương và đa
phương về kinh tế, xã hội của khu vực.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các nước Đông Nam Á trải qua những
bước thăng trầm trong quan hệ giữa các nước, lúc căng thẳng, lúc hòa dịu, song
xu hướng chung vẫn là phát triển, hòa hợp và liên kết khu vực. Nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài khu vực quan tâm đến ASEAN và coi đó như là “hình
mẫu khu vực” cho các nước đang phát triển. Có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu
về ASEAN bao gồm các lĩnh vực như an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của diễn đàn
an ninh khu vực ARF cùng với những thách thức và triển vọng của diễn đàn này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: giới hạn chủ yếu từ năm 1994 đến năm 2012. Tuy nhiên, đề
tài cũng đề cập đến một số nội dung khác liên quan đến thời gian trước năm
1994 nhằm làm rõ hoàn cảnh ra đời của ARF
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, sự phát triển và
những thách thức, triển vọng của diễn đàn ARF.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tái hiện lại có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và hợp tác
trên lĩnh vực an ninh – chính trị của các nước ASEAN và các nước lớn tại khu
vực châu Á – Thái Bình Dương, những thách thức và triển vọng của quá trình
hợp tác này.
4. Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tài liệu
Cơ sở tài liệu: Giáo trình, tạp chí – chuyên khảo và tư liệu từ mạng Internet.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
logic. Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp phân
tích, phương pháp hệ thống để làm rõ nội dung nghiên cứu.
4
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu thành 2 chương
Chương 1. Quá trình hình thành và phát triển của ARF
Chương 2. ARF: Những thách thức và triển vọng


tư bản chủ nghĩa. Có thể nói, Mỹ đã “làm giàu trên sự đổ nát của châu Âu và thế
giới” [11, 285]. Sự vươn lên mạnh mẽ của Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự
đã giúp Mỹ vươn tầm ảnh hưởng của mình ra thế giới. Với ưu thế đó, Mỹ chủ
quan cho rằng: Sau chiến tranh sẽ là thời đại của Mỹ, thời đại Mỹ có thể dùng
sức mạnh để buộc các dân tộc khác phải phục tùng. Mỹ tự gán cho mình trách

6
nhiệm cầm đầu các nước tư bản để bảo vệ “thế giới tự do” chống lại sự “bành
trướng” của chủ nghĩa cộng sản.
Trên cơ sở đó, Mỹ đề ra “chiến lược toàn cầu” hòng đạt 3 mục tiêu:
1. Ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
2. Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ, hòa bình trên
thế giới.
3. Nô dịch các nước đồng minh tư bản, tập hợp các lực lượng phản động
quốc tế đặt dưới sự lãnh đạo của Mỹ.
Để đạt được 3 mục tiêu trên, Mỹ đã phát động chiến tranh lạnh nhằm vào
Liên xô, ráo riết các hoạt động chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí hạt nhân, lập
ra các khối quân sự và lôi kéo đồng minh tham gia các khối quân sự này.
Tại khu vực Đông Nam Á, Mỹ lôi kéo Thái Lan, Malaixia, Philippin tham
gia ký kết “Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á – SEATO” và đặt các căn
cứ quân sự tại những nước này. Thực chất, đây là một khối quân sự xâm lược do
Mỹ tổ chức và điều khiển nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các nước
Đông Nam Á, gây nên tình trạng căng thẳng và phức tạp trong khu vực. Tiếp đó,
Mỹ dần thay chân Pháp, nhảy vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương hòng
biến khu vực này thành căn cứ địa kiểu mới, thành bàn đạp để mở rộng xâm
lược ra các khu vực của châu Á. Tuy nhiên, tham vọng của Mỹ cũng bị ảnh
hưởng nhiều bởi thế lực đối trọng với Mỹ là Liên xô.
Sau khi kết thúc chiến tranh, vị thế quốc tế của Liên xô được đề cao hơn
bao giờ hết. Liên xô trở thành thành trì, chỗ dựa vững chắc cho phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế. Hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa đã ra đời. Phong

chủ nghĩa. Mỹ cho xây dựng các khối quân sự và căn cứ quân sự khắp nơi trên
thế giới điển hình là ở Đông Bắc Á, Mỹ kí với Nhật Bản hiệp ước an ninh Mỹ –
Nhật và xây dựng một loạt các căn cứ quân sự như Đông Nam Á (SEATO),
Nam Á (ANZUS), Tây Á (CENTO), châu Âu (NATO)… Mỹ và Phương Tây đã
đẩy Liên Xô vào cuộc chạy đua quân sự khổng lồ nhằm chuẩn bị chiến tranh
tổng lực để chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Phát động hàng chục
cuộc chiến tranh lớn nhỏ dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm chống lại phong
trào cách mạng thế giới (chiến tranh Đông Dương (1954 – 1975), chiến tranh
Triều Tiên (1950 – 1953). Bao vây kinh tế, cô lập chính trị, đảo chính, lật đổ
chống các nước xã hội chủ nghĩa. Để đối phó với cuộc chiến tranh lạnh của Mỹ
phát động thì Liên Xô đưa ra các biện pháp như Liên Xô và các nước Đông Âu
thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế, mục đích của khối này là nhằm hợp tác và
giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Thành lập tổ chức hiệp ước
Vacsava về mặt tính chất đây là một liên minh chính trị, quân sự mang tính chất
phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu. Từ đây cuộc chiến tranh
lạnh đã dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang, dẫn tới cuộc đối đầu giữa hai cực Xô –
Mỹ và hai khối Đông – Tây làm cho quan hệ quốc tế luôn căng thẳng.
Tuy nhiên, trải qua gần bốn mươi năm với gánh nặng chi tiêu quân sự và
chạy đua vũ trang đã làm cho hai nước tốn kém và suy giảm thế mạnh về nhiều
mặt so với các cường quốc khác. Cùng với đó là sự vươn lên thần kì của Tây Âu

8
và Nhật Bản trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ, còn Liên Xô thì chịu sự tác
động lớn của cuộc khủng hoảng năng lượng nên hai bên đã có cuộc gặp mặt
không chính thức tại Manta (1989) và tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh.
Năm 1991, chiến tranh lạnh kết thúc. Mặc dù cuộc đối đầu giữa các nước
lớn, các siêu cường quốc trên phạm vi toàn thế giới tạm thời lắng xuống, thời kì
hậu chiến tranh lạnh được mở ra. Nhưng môi trường an ninh nói chung và Đông
Nam Á nói riêng còn tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Sự cân bằng an ninh mà Mỹ và
Liên xô tạo ra trước đây trên quy mô thế giới nói chung và Đông Nam Á nói

– 1979) với Trung Quốc và sau này là vấn đề Campuchia, việc Trung Quốc có
những động thái nhất định giúp đỡ Pôn pốt – Iêng xari tiến công biên giới phía
Tây Nam Việt Nam năm 1977 là những minh chứng cho chính sách áp đặt ảnh
hưởng của Trung Quốc ở khu vực này. Người ta nghi ngờ, cảnh giác về “một giải
pháp đỏ” [6, 18] của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Campuchia là con
đường thực hiện bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Các nước này lo lắng
Trung Quốc thông qua lực lượng của họ, được hỗ trợ ở các nước Đông Nam Á có
thể gây áp lực đối với chính quyền các nước thành viên sáng lập của ASEAN.
Không rộng lớn như Trung Quốc song thực lực kinh tế lại vô cùng mạnh
mẽ, đó là Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, theo Hiến pháp mới, Nhật
tuyên bố cam kết không tái thiết vũ trang. Dưới ô bảo hộ của Mỹ, Nhật tập trung
phát triển kinh tế và trở thành siêu cường kinh tế đối chọi với Tây Âu và Mỹ.
Đội ngũ thương nhân người Nhật có mặt ở khắp nơi trên thế giới dưới hình thức
buôn bán đầu tư… Tại Đông Nam Á, Nhật có nhiều lợi thế hơn các nước khác
với yếu tố thuận lợi gần gũi về mặt địa lý và văn hóa. Nhật có một chính sách
đối ngoại năng động. Nhật nhận thấy rõ những nguồn lợi đã và sẽ mang lại cho
mình ở khu vực này. Vì vậy, Nhật cũng tăng cường mở rộng hợp tác. Tuy nhiên,
dưới con mắt của người Đông Nam Á, hình ảnh về một nước Nhật trong chiến
tranh thế giới thứ hai vẫn chưa hoàn toàn phai mờ và mối lo ngại về việc tăng
cường sức mạnh quân sự cho tương xứng với sức mạnh kinh tế của Nhật sẽ tăng
thêm một “vị khách không mời” nữa gây ảnh hưởng tại đây.
Thái độ và hành động của Trung Quốc, Nhật đều cho thấy mục đích của hai
quốc gia này đối với khu vực Đông Nam Á. Thêm vào đó là những đối sách của
Mỹ lúc này. Để bảo đảm vai trò tiếp theo của mình ở Đông Nam Á và để đối
phó lại những biến động trong môi trường an ninh chính trị toàn cầu việc thành
lập các tổ chức đa phương là một trong những giải pháp tính đến. Dĩ nhiên để có
được các tổ chức an ninh đa phương trong thời kì hậu chiến tranh lạnh là rất
khó, song trong hoàn cảnh đó Mỹ đưa ra học thuyết cảnh giác trong hợp tác có
nghĩa là Mỹ sẽ tìm “lối vào rộng hơn” để một lúc nào đó sẽ đưa lực lượng của
mình vào khắp khu vực. Khi đó Mỹ sẽ thực sự đóng quân ít hơn ở các căn cứ cố

năng quan trọng như dầu khí và khí ga tự nhiên.
Biển Đông giữ một vị trí chiến lược quan trọng vận tải hàng hóa quốc tế.
Phần lớn vận chuyển năng lượng và nguyên liệu thô qua eo biển Malacca đều
qua biển Đông tới Trung Quốc và Nhật Bản. Hải quân Giải phóng nhân dân
Trung Quốc (PLAN) đã nhận ra tầm quan trọng của biển Đông, và từng bước
củng cố năng lực hải quân của mình trong khu vực. Mỹ cũng có những lợi ích
trong việc bảo vệ những tuyến đường đi qua khu vực, Mỹ xem những lợi ích
hàng hải ổn định và không bị cản trở là điều thiết yếu đối với sự thịnh vượng và
thương mại quốc tế.
Trung Quốc, Việt Nam, Philippin đưa ra những yêu sách chủ quyền mạnh
mẽ và đáng chú ý nhất đối với biển Đông. Để củng cố những yêu sách của mình,
các quốc gia trong khu vực đã tranh nhau chiếm đóng càng nhiều thực thể trên
biển càng tốt. Điều này đã khiến Trung Quốc xung đột với Việt Nam vào năm
1974 và với Việt Nam thống nhất vào năm 1988, trong khi lực lượng của một

11
vài quốc gia thường quấy nhiễu và bắt giữ những tàu cá nước ngoài. Hiện tại,
Trung Quốc kiểm soát toàn bộ Hoàng sa và 15 bãi san hô và đá ngầm trong quần
đảo Trường sa. Những quan ngại của khu vực đã dẫn tới việc kí kết Tuyên bố về
Quy tắc Ứng xử của các bên liên quan tại biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và
10 quốc gia ASEAN vào năm 2002. Trong khi đây được coi là một bước tích
cực hướng tới sự ổn định thì mãi đến năm 2011 bản Hướng dẫn Thực hiện DOC
kèm theo mới được thông qua.
Tuy nhiên xung đột vẫn tồn tại vì một phần do bản tuyên bố không có ràng
buộc pháp lý và không đáp ứng được những tiến triển hứa hẹn giải quyết tranh
chấp. Trong những năm qua, số lượng những vụ va chạm giữa các lực lượng
biển gia tăng một cách đột ngột, bao gồm cả những bế tắc căng thẳng giữa
Trung Quốc và Philippin tại bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) vào tháng 4 –
2012. Điều này làm dấy lên quan ngại rằng Trung Quốc, Việt Nam, Philippin
đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp, gây nguy hại đến sự ổn

khu vực sở hữu thế mạnh của lực lượng tàu ngầm. Năm 2010, Bộ trưởng Quốc
phòng Việt Nam đã chính thức thăm Mỹ và Pháp, cùng thời điểm đó, Thủ tướng
Việt Nam cũng đã tới thăm Moscow. Việt Nam đã tiếp nhận tàu của Mỹ để sửa
chữa tại vịnh Cam Ranh, căn cứ hải quân vốn do Mỹ xây dựng trong chiến tranh
Việt Nam tại bờ biển Nam Trung Bộ. Ngày 24 – 6 – 2010, tại Hồng Kông, Trợ
lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Đông Nam Á – Thái Bình Dương Kurt
Campbell nhận định rằng: không một quốc gia nào tại Đông Nam Á muốn cải
thiện quan hệ với Mỹ, vốn là kẻ thù cũ của quốc gia này như Việt Nam.
Việt Nam đã và đang nỗ lực để quốc tế chú ý nhiều hơn tới tranh chấp tại
biển Đông. Trong tháng 11 – 2009, Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về biển Đông
tại Hà Nội. Hội nghị đã thu hút sự tham gia không chỉ có các học giả tại Trung
Quốc và các quốc gia đang có tranh chấp, mà còn có nhiều chuyên gia tới từ các
nước khác như Anh, Nga, Pháp, Inđônêxia. Việt Nam cũng muốn sử dụng quyền
chủ tịch ASEAN để đưa tranh chấp tại biển Đông đi xa hơn khu vực nhằm mục
đích xác định chủ quyền biển Đông của đất nước mình.
* Tranh chấp Philippin – Trung Quốc
Trung Quốc cho rằng, sở dĩ Philippin có đủ dũng khí để đối đầu trực diện
với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc là có hai lý do. Thứ nhất, Philippin
đang trông cậy vào sự giúp đỡ của Mỹ, cường quốc quân sự số một thế giới. Thứ
hai, Philippin tin rằng trong cuộc đối đầu ở biển Đông hiện nay, họ sẽ nhận được
sự ủng hộ của các nước đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.
Trong quá trình căng thẳng kéo dài gần 2 tháng (từ tháng 3 đến tháng 4 năm
2012) giữa Philippin và Trung Quốc xung quanh bãi cạn Scarborough, dư luận đang
chứng kiến một Trung Quốc ngày càng cứng rắn. Ngày 10 – 5 – 2012, tờ Nhật báo
quân đội Trung Quốc đã công bố một bài luận chiến với tiêu đề khó có thể khiêu
khích hơn: “Đừng cố lấy đi dù chỉ một tấc đất lãnh thổ của Trung Quốc”.
Thật ra, theo Tạp chí The Economist của Anh quốc, rất ít người ở Trung
Quốc nghi ngờ tính xác thực của các đòi hỏi của chính phủ nước họ về chủ
quyền trên bãi Scarborough, cũng như trên toàn bộ các hòn đảo nằm trong tấm


Quốc lại tăng lên. Liên Xô tiếp tục triển khai chiến lược Châu Á với ý đồ “kiềm
chế Trung Quốc, đối phó với cấu kết Trung – Mỹ, đưa ra những biện pháp an
ninh nhằm đảm bảo an ninh tập thể châu Á và cho hải quân vào hoạt động ở Ấn
Độ Dương” [16, 235]. Bước sang thời kỳ hậu chiến tranh lạnh khi mối đe dọa
trực tiếp về an ninh “đe dọa” từ phía cộng sản yếu hẳn đi, những tranh chấp về
lãnh thổ vùng biển tài nguyên thiên nhiên rất dễ bùng nổ bởi sự khác nhau về
quyền lợi dân tộc và lợi ích kinh tế quốc gia. Thêm vào đó là sự xung đột về

14
quyền lợi văn hóa giữa các sắc tộc, nhóm xã hội, giữa quốc gia dân tộc với địa
phương ngày càng gia tăng dưới tác động của toàn cầu hóa. Tất cả những vấn đề
nhạy cảm này có thể tạo ra sự bất ổn không những trong từng nước ASEAN mà
còn ở cả khu vực.
Những năm qua, vấn đề sắc tộc ở Đông Nam Á khá nổi cộm, một số khu
vực bị “giày vò” bởi xung đột sắc tộc không những đã kiềm chế cải cách và phát
triển đất nước, mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực cho toàn bộ kinh tế khu vực.
Ở bang Ra-khin miền tây Mianma, xung đột sắc tộc đã khiến hàng chục
nghìn dân thường phải lưu lạc không chốn nương thân; ở miền Nam Philippin,
phong trào li khai vẫn chưa chấm dứt, trong khi đó miền Nam Thái Lan, các vụ
đánh bom, tấn công xảy ra liên tiếp gần đây đã phá hoại nghiêm trọng cuộc sống
bình thường của người dân địa phương. Tuy có một số vụ việc do các phần tử cực
đoan gây nên, nhưng đằng sau nó đều có nhân tố bất hòa hoặc xung đột tôn giáo.
Vấn đề sắc tộc ở Đông Nam Á xuất hiện 3 đặc điểm nổi bật: Một là, vấn đề
dân tộc rất phức tạp, trong 11 nước Đông Nam Á với dân số hơn 500 triệu
người, có khoảng 300 dân tộc cùng chung sống; hai là, một số khu vực dân tộc
thiểu số khá nghèo đói, kinh tế lạc hậu; ba là, một số dân tộc thiểu số vẫn có
khuynh hướng độc lập mãnh liệt, thậm chí vẫn đang thực hiện các hoạt động bạo
lực có vũ trang.
Khác biệt văn hóa đồng hành với khác biệt dân tộc không được phép coi
nhẹ. Nếu không suy xét một cách nghiêm túc về vấn đề khoảng cách và bất đồng

1.1.4. Thách thức của toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế
Bên cạnh những vấn đề an ninh có tính chất truyền thống, an ninh của khu
vực Đông Nam Á còn đứng trước những thách thức lớn lao của sự gia tăng của
toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế. Bên cạnh mặt tích cực của toàn cầu hóa thì
mặt trái của nó cũng tạo nên những thách thức mới. Nó làm nảy sinh các vấn đề
an ninh mới, có tính chất phi truyền thống như an ninh kinh tế, chính trị, bản sắc
quốc gia, dân tộc.
Kinh tế lạc hậu sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, dẫn đến sự chênh lệch
giàu nghèo trong nước, và giữa các nước với nhau. Đây là miếng đất tốt cho sự
nảy sinh và phát triển của các loại chủ nghĩa dân tộc cực đoan núp dưới màu sắc
tôn giáo, sắc tộc.
Toàn cầu hóa cũng có thể làm suy giảm chủ quyền quốc gia. Nó không chỉ
tạo điều kiện cho các dòng chảy tự do của thương mại và đầu tư mà cùng với nó
là sự di cư bất hợp pháp việc vận chuyển vũ khí và buôn lậu hàng hóa, ma túy
vượt qua các đường biên giới quốc gia. Tình hình đó làm cho biên giới quốc gia bị
chọc thủng cả về phương diện an ninh lẫn kinh tế.
Ngoài những vấn đề đã nêu trên, bản thân một số nước ASEAN trước đây có
quan hệ mật thiết với Mỹ như Philippin, Thái Lan, Xingapo cũng vẫn muốn tiếp tục
duy trì quan hệ quân sự – an ninh truyền thống với Mỹ để làm đối trọng kiềm chế
tham vọng của một số cường quốc như Trung Quốc, Nhật Bản.
Từ những nhận thức trên diễn đàn khu vực ARF đã ra đời. Đây là diễn đàn
hợp tác an ninh đa phương để đối thoại và trao đổi các vấn đề về an ninh khu

16
vực châu Á – Thái Bình Dương. Từ chỗ có 18 thành viên đến nay ARF đã quy
tụ được sự tham gia đông đảo của các cường quốc, các đối tác quan trọng đối
với an ninh và phát triển toàn khu vực với 27 thành viên: Thái Lan, Malaixia,
Philippin, Xingapo, Inđônêxia, Brunei, Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma,
Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia, New Zealand,
Canada, Liên minh châu Âu, Papua New Guinea, Mông Cổ, CHDCND Triều

17
Âu – một khu vực có ảnh hưởng chiến lược và các điều kiện chính trị kinh tế xã
hội khác hẳn khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong khi châu Âu tương đối
thống nhất về tôn giáo, văn hóa cùng chia sẻ một nhận thức chung về an ninh
khu vực thì các nước châu Á – Thái Bình Dương lại quá khác biệt nhau về tôn
giáo, sắc tộc văn hóa, chế độ chính trị và trình độ phát triển. Chính vì vậy mà
phải kiếm một mô hình hợp tác an ninh khác phù hợp với nó.
Vấn đề an ninh khu vực lần đầu tiên được đưa vào chương trình nghị sự của
hội nghị Bộ trưởng ASEAN (AMM) lần thứ 25 ở Manila vào tháng 7 – 1992.
Trong đó bối cảnh diễn ra tranh chấp gay gắt về chủ quyền ở biển Đông là vấn
đề thảo luận chính ở AMM 25. Từ vấn đề này các nước ASEAN càng nhận thấy
sự cần thiết phải tìm ra một cơ chế hợp tác an ninh đa phương và xúc tiến các
hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu trung lập hóa Đông Nam Á.
Hội nghị Bộ trưởng ASEAN họp vào tháng 7 – 1993 tại Xingapo đã tập
trung thảo luận các vấn đề trên. Các ngoại trưởng Xingapo, Thái Lan, Inđônêxia
đều tập trung nhấn mạnh đến vấn đề an ninh của khu vực, các nước cần hợp tác
với nhau song sẽ không biến ASEAN thành một hiệp ước quân sự mà các nước
thành viên phải luôn gánh vác trách nhiệm chính đối với sự phòng thủ và an
ninh của mình. Những tham khảo sẽ giúp xây dựng một môi trường tin cậy. Nó
bổ sung vào ổn định khu vực.
Những ý kiến của các ngoại trưởng ASEAN tại AMM 26 quan tâm đến 2
vấn đề chính: Sự cần thiết phải hiện thực hóa khu vực hòa bình, tự do và trung
lập (ZOFPAN) và tìm kiếm một cơ chế hợp tác an ninh đa phương cho khu vực
do các viện nghiên cứu chiến lược đề nghị (ASEAN ISI).
Các nước lớn cũng tìm thấy được lợi ích của mình trong một cơ chế hợp tác
đa phương mới ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vì một nền hòa bình an
ninh và ổn định. Ngày 25 – 7 – 1994, ARF đã chính thức ra đời thông qua hội
nghị lần thứ nhất tại Băng cốc – Thái Lan.
1.2.2 Quan điểm của ASEAN về an ninh khu vực
Khi tham gia ARF, mỗi nước thành viên đều có mục đích của riêng mình.

1. Phải là những quốc gia có chủ quyền.
2. Phải hợp tác nhằm đạt được những mục tiêu chính của ARF.
3. Tuân thủ và tôn trọng những tuyên bố và quyết định của diễn đàn.
4. Tất cả những thành viên ASEAN đương nhiên là thành viên của ARF.
5. Phải là những nước có thể ảnh hưởng trực tiếp đối với hòa bình và an
ninh khu vực.
ARF kiểm soát ở mức độ thích hợp số lượng thành viên để bảo đảm tính hiệu
quả và sự gia nhập của thành viên mới phải được sự đồng thuận của các bộ trưởng.
* Các giai đoạn phát triển
ARF phát triển tiệm tiến qua 3 giai đoạn, đó là: Xây dựng lòng tin; ngoại
giao phòng ngừa và tiến tới giải quyết xung đột. Giai đoạn một là bước khởi đầu
quan trọng, giai đoạn hai là sự tiếp tục tất nhiên của các biện pháp xây dựng

19
lòng tin. Cần phải tiến hành một số biện pháp xây dựng lòng tin mà các bên
tham gia ARF có thể khai thác và thực hiện được.
Các biện pháp xây dựng lòng tin gồm có:
Nguyên tắc :
1. Thành lập một loạt các nguyên tắc cơ bản để bảo đảm sự hiểu biết chung và
tiến tới các mối liên hệ quốc gia trong khu vực.
2. Thông qua các cách thức toàn diện về an ninh.
Cụ thể là:
3. Đối thoại về các nhận thức an ninh, bao gồm cả các tuyên bố tự nguyện về
quan điểm chính sách quốc phòng.
4. Các chính phủ tuyên bố về các ấn phẩm quốc phòng như sách trắng quốc
phòng hoặc các tài liệu tương tự cần thiết.
5. Tham gia hiệp ước đăng kí vũ khí thông thường của Liên hiệp quốc.
6. Tăng cường các cuộc tiếp xúc, kể cả các cuộc thăm viếng cấp cao.
7. Trao đổi các đoàn của các học viên quân sự, các trường huấn luyện.
8. Cử các quan sát viên đến các cuộc tập trận trên cơ sở tự nguyện.

ngừa (PD); Giai đoạn ba – giải quyết các xung đột. Hiên nay, ARF đang trong
tiến trình thực hiện giai đoạn hai, tuy nhiên vẫn tập trung cho các biện pháp
CBMS và đan xen giữa CBMS và PD, nhất là tăng cường vai trò của chủ tịch
ARF, trong khi một số nước muốn nhanh chóng triển khai hoạt động giải quyết
xung đột.
Về xây dựng lòng tin, ngay từ những hội nghị đầu tiên (cụ thể là hội nghị
ARF – 2), các biện pháp xây dựng lòng tin đã được ghi nhận cụ thể; và đến nay,
hàng loạt đề nghị về các biện pháp xây dựng lòng tin đã được đưa ra, trong đó
có nhiều nội dung đã và đang được thực hiện. Các nội dung chủ yếu tập trung
vào các vấn đề an ninh tại Đông Nam Á, Đông Bắc Á, sau mở rộng ra cả những
vấn đề phi quân sự có tác động đến môi trường an ninh khu vực. Chẳng hạn như
các vấn đề về: tình hình chung trên bán đảo Triều Tiên, Trung Đông,
Afghanistan, vấn đề hạt nhân ở Iran, diễn biến chính trị trong việc thực hiện lộ
trình dân chủ ở Mianma với việc phục hồi nền dân chủ và pháp quyền; hay trao
đổi về an ninh phi truyền thống như an ninh năng lượng và lương thực, biến đổi
khí hậu, di cư trái phép, buôn bán người và ma túy… Không chỉ những vấn đề
trong khu vực mà cả trên bình diện quốc tế cũng được đưa ra bàn nghị sự các bộ
trưởng ngoại giao và làm nóng các diễn đàn từ trước đến nay.
Bên cạnh đó, đi sâu vào các biện pháp xây dựng lòng tin giữa các quốc gia
ARF cũng khó có thể tránh khỏi những nhạy cảm, nghi ngại. Chẳng hạn, một
trong những yêu cầu của ARF là các thành viên phải công bố sách trắng quốc
phòng, trong đó nêu rõ quân số, chỉ tiêu quốc phòng, cơ cấu lực lượng vũ
trang… đã đặt một số nước, đặc biệt những nước có quốc phòng yếu trước nhiều

21
khó khăn. Mà nếu không công bố thì vi phạm tiêu chí của ARF, còn nếu công bố
thì họ sợ rằng sẽ có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Về ngoại giao phòng ngừa, sau sự kiện khủng bố ở Mỹ ngày 11 – 9 – 2001,
hợp tác chống khủng bố trở thành một trong những nội dung ưu tiên của ARF,
thúc đẩy ARF tiến nhanh sang giai đoạn hai. Tại hội nghị ARF làn thứ 10

cho các vấn đề đưa ra hội nghị hơn là các cơ chế giải quyết riêng rẽ của mỗi
quốc gia. Không những thế, một khi ARF không phát huy được tầm nhìn của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status