BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ LỢI BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH ĐẦU HÀNG
CỦA TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN QUA NỘI DUNG
CÁC HIỆP ƯỚC ĐÃ KÝ KẾT VỚI THỰC DÂN PHÁP
TỪ 1862 - 1884 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
trong suốt thời gian em thực hiện khóa luận này.
Mặc dù em đã rất cố gắng xong khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các
bạn để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện
Đinh Thị Lợi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
5.1. Cơ sở tư liệu 3
5.2. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Đóng góp của khóa luận 4
7. Bố cục của khóa luận 4
CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ NƯỚC TA NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 5
1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới 5
1.2. Bối cảnh lịch sử trong nước 7
1.2.1. Về chính trị 7
1.2.2. về kinh tế 9
1.2.3. tình hình xã hội và các cuộc khởi nghĩa của nhân dân 11
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Qua gần 40 thế kỷ dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hiên
ngang cùng với các dân tộc khác luôn có mặt trên vũ đài chính trị. Nhưng từ
thế kỷ XIX, dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ thử thách vô cùng to lớn, đó
là sự khủng hoảng trong nước và nghiêm trọng hơn là sự xâm lược của thực
dân Pháp.
Trong khi toàn thể nhân dân ta kiên quyết một lòng đấu tranh chống thực
dân Pháp thì do xuất phát từ chỗ bảo vệ triệt để quyền thống trị, bóc lột nhân dân
của tập đoàn phong kiến, nhà Nguyễn đã chủ trương “lấy chủ đợi khách” và
chiến lược “thủ để hòa” rồi theo “lương tâm và hảo ý” của kẻ xâm lược, từng
bước ký kết các văn kiện đầu hàng dâng nước ta cho giặc. Các hiệp ước từ 1862
- 1884 đánh dấu quá trình đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn từ đầu hàng từng
bước đến đầu hàng toàn bộ và đã gây nên hậu quả to lớn cho vận mệnh dân tộc.
Thế nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập đến vấn đề này
một cách hoàn chỉnh. Vì thế việc lựa chọn khóa luận “Bước đầu tìm hiểu qúa
trình đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn qua nội dung các hiệp ước đã ký kết
với thực dân Pháp từ 1862 - 1884” để nghiên cứu có ý nghĩa về mặt khoa học
và thực tiễn như sau:
trước nạn ngoại xâm các vua lần lượt đầu hàng và ký kết các văn kiện bán nước
ta cho thực dân Pháp. Điều đó khẳng định trách nhiệm to lớn của nhà Nguyễn
trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp.
Các tác giả “Đại cương lịch sử Việt Nam” (Toàn tập) đã trình bày và phân
tích rất chi tiết, đầy đủ tình hình “Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XIX thời Nguyễn”
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục và đi đến những kết
luân rằng các vua triều Nguyễn cũng có những biện pháp tích cực để phát triển
đất nước. Song do chính sách bảo thủ, phản động nên “nhanh chóng cấu kết với
bọn cướp nước để làm tay sai cho chúng, đàn áp, bóc lột nhân dân cả nước”.
Trên cơ sở ấy, các tác giả đã phán xét công bằng: “Đó là tội lớn của phong kiến
nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử”.
Tác phẩm “Lịch sử 80 năm chống Pháp” của tác giả Trần Huy Liệu cũng
đã nói rất chi tiết, cụ thể về “Qúa trình xâm lược của thực dân Pháp và chính
sách hàng phục của vua quan Nam triều”.
Tác phẩm “Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới”, nhiều tác giả, nhà
xuất bản Đại học sư phạm năm 2005 cũng đề cập đến cái nhìn và đánh giá vai
trò của triều Nguyễn. Công và tội của triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc.
Ngoài ra còn rất nhiều những tác phẩm khác có liên quan đến nội dung của
khóa luận như cuốn “Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam”,
cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay” cùng một số tạp chí, sách báo. Đó là
3
những nguồn tư liệu cần thiết giúp tôi có cái nhìn tổng thể, sâu sắc về vấn đề
khóa luận đặt ra.
Khóa luận của tôi một mặt là sự kế thừa thành tựu của những học giả đi
trước, mặt khác là sự cố gắng giải quyết những gì còn bỏ ngỏ khi nói về quá
trình đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn qua các hiệp ước từ 1862 - 1884.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung đi sâu nghiên cứu về quá trình đầu hàng của triều đình
dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, sưu tầm và xử lý tư liệu.
- Cơ sở của phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu là: Dựa trên
những quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề chính trị - xã hội.
6. Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận góp phần khôi phục lại một cách hoàn chỉnh, hệ thống và chính
xác về tình hình nước ta giữa và cuối thế kỷ XIX. Đặc biệt khóa luận tái hiện lại
một cách đầy đủ về quá trình đầu hàng của triều Nguyễn qua các hiệp ước từ
1862 - 1884 theo trình tự thời gian cụ thể.
- Khóa luận nghiên cứu thành công sẽ giúp cho việc học tập, nghiên cứu về
triều Nguyễn, về sự xâm lược của thực dân Pháp và đặc biệt là quá trình đầu
hàng của triều Nguyễn qua việc ký kết các văn kiện từ 1862 - 1884 sẽ có tính
thống nhất, chiều sâu và đầy đủ hơn.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
cơ bản của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1. Bối cảnh lịch sử nước ta nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 2. Qúa trình đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn qua nội
dung các hiệp ước đã ký kết với thực dân Pháp từ 1862 - 1884
Chương 3. Một số lí giải về sự đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn qua
việc kí kết các hiệp ước với thực dân Pháp từ 1862 - 1884 5
riêng…
Đối với Xiêm sớm trở thành đối tượng xâm lược của Anh. Đến năm 1827,
Anh buộc Xiêm ký một hiệp ước buộc Xiêm phải cho người Anh đến buôn bán
tự do ở một số bang, 80 năm sau Anh đã chiếm được các bang còn lại của Xiêm
và sáp nhập vào Mã Lai.
6
Đối với Mã Lai, từ đầu thế kỷ XIX, công ty Đông – Ấn của Anh đã chiếm
những cứ điểm quan trọng trên bán đảo này nhằm giành ưu thế thương mại và quân
sự ở Viễn Đông. Năm 1819, công ty này chiếm đóng Singapore có vị trí quan trọng
trên con đường hàng hải từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
Đối với Singapore. Năm 1826, thực dân Anh gộp Singapore, Pesnang,
Welleslly thành một khối gọi là “đất thực dân eo biển” dưới quyền cai trị của
công ty Đông - Ấn đặt tại Kua-la-lăm-pua.
Thế kỷ XIV - XV một phần quần đảo Philippin lệ thuộc vào triều đình
Indonexia. Năm 1521, nhà hàng hải Bồ Đào Nha là Magienlan trong chuyến đi
vòng quanh thế giới đã đến đây và bị giết chết. Đến thế kỷ XVI Tây Ban Nha đã
chiếm được Philippin làm thuộc địa và xây dựng thành phố Manila tại đây.
Indonexia là nước đầu tiên ở Châu Á bị xâm chiếm. Bồ Đào Nha đã chiếm
eo Malacca năm 1511. Năm 1595, Hà Lan lập thương điếm đầu tiên và cạnh
tranh với người Bồ Đào Nha ở Indonexia. Đến giữa thế kỷ XVI, tuy mới làm
chủ một vùng đất không lớn lắm nhưng Hà Lan thực sự đã có ảnh hưởng mạnh
mẽ ở nước này đến khi Bồ Đào Nha phải rút bỏ.
Miến Điện đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một nước quân chủ mạnh trong khu
vực Đông Nam Á. Nhưng từ cuối thế kỷ XVIII, sau khi nắm được công ty Đông
- Ấn của Anh bành trướng sang vùng Bengale tiếp giáp Miến Điện. Đặt xong
một số thương điếm ở gần thủ đô Rangoun (Miến Điện) năm 1972 thực dân Anh
yêu cầu triều đình Miến Điện chấp nhận công ty Đông - Ấn hưởng đặc quyền
buôn bán và đặt cơ quan thường trú. Bị vua Miến Điện khước từ, thực dân Anh
thực hiện yêu sách trên bằng vũ lực vào đầu thế kỷ XIX.
vua đầu tiên của triều Nguyễn làm chủ toàn bộ Đàng Trong, Đàng Ngoài. Vào
giai đoạn đầu của nhà Nguyễn, nước ta vẫn là nước có chủ quyền và đã đạt được
những tiến bộ nhất định về kinh tế, chính trị, văn hóa… Tuy vậy, về cơ bản dưới
triều Nguyễn nước ta vẫn không phát triển lên theo xu thế chung của thế giới mà
ngày càng có những biểu hiện suy yếu và khủng hoảng thể hiện ở nhiều mặt.
1.2.1. Về chính trị
Về thể chế chính trị, bộ máy thống trị của triều Nguyễn ngay từ khi thành
lập đã là bộ máy chính trị mang nặng tính chất quan liêu, độc đoán chuyên
quyền và phản động. Mọi quyền hành đều tập trung trong tay người đứng đầu
nhà nước đó là ông vua chuyên chế. Vua được mệnh danh là “Thiên tử” (con
trời) “thay trời” trị dân; quyền hành của nhà vua được coi là thiêng liêng, vô
hạn, nắm tất cả mọi quyền hành, cả quyền hành pháp và lập pháp; quyết định cả
chiến tranh và hòa bình. Trong thực tế nhà vua cũng là đại địa chủ lớn nhất trong
nước có toàn quyền đối với đất đai và thần dân trong nước.
Từ Gia Long đến các vị vua tiếp theo của triều Nguyễn đều xây dựng, củng
cố nền thống trị trên nền tảng của ý thức hệ Nho giáo, xem trật tự phong kiến là
bất di bất dịch, mãi đến khi phương Tây nổ súng xâm lược nước ta thì mới bừng
tỉnh. Do xuất phát từ quyền lợi của giai cấp và dòng họ nên các ông vua nhà
nguyễn đã thi hành nhiều chính sách thiển cận, ngăn chặn và thui chột những tiến
8
bộ của nền sản xuất hàng hóa đã manh nha xuất hiện của thế kỉ XVIII. Không đưa
ra những chính sách phù hợp để tự cứu mình, cứu dân tộc trong bối cảnh thực dân
phương Tây đang ráo riết bành trướng sang phương Đông.
Hệ thống quan lại phần lớn là gian nịnh thần dốt nát và hủ bại, chính trị thì bảo
thủ cầu an, kinh tế thì tham lam luôn tìm cách đục khoét của nhân dân. Sự thối nát
đó đã được Nguyễn Trường Tộ thể hiện qua di thảo của ông: “Quan chế thời tự
Đức là một hệ thống quan liêu nặng nề đến mức mười con dê chín người chăn”,
“một con ngựa chín người giữ” [6, 131]. Hệ thống ấy vừa làm cho triều đình tốn
nhiều lương bổng, vừa tạo ra tình trạng quan dân xa cách, khiến cho trên dưới
cho trên dưới không đồng lòng, quan dân xa cách, vua quan chỉ là kẻ bất tài,
chuyên hạch sách, nhũng nhiễu nhân dân làm cho mâu thuẫn xã hội thêm gay
gắt. Do đó khi thực dân Pháp xâm lược nước ta triều đình đã không thể và không
biết xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để chống lại kẻ xâm lược mà chỉ biết
bảo vệ quyền lợi của chính mình.
1.2.2. Về kinh tế
Ngay sau khi thành lập, nhà Nguyễn đã thi hành chính sách kinh tế phản
động. Hầu hết những chính sách tiến bộ dưới thời Tây Sơn bị nhà Nguyễn xóa
sổ hoàn toàn, đẩy nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng suy thoái nhất là đến
giữa và cuối thế kỷ XIX.
* Về nông nghiệp
Nhà Nguyễn xóa bỏ chính sách ruộng đất và khuyến khích sản xuất thời
Tây Sơn. Thời Nguyễn, nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm
trọng, ruộng đất của nông dân vẫn tiếp tục bị địa chủ kỳ hào chấp chiếm ác
liệt hơn các triều đại trước. Ruộng đất công chỉ còn trên dưới 15% phần lớn là
đất “xương xẩu” cằn cỗi, hơn nữa nhân dân lại phải gánh chịu mọi nghĩa vụ
thuế khóa, phu phen tạp dịch Những mảnh đất màu mỡ thì nằm hết trong
tay địa chủ và quan lại cho nên nạn đói thường xuyên xảy ra, thiên tai, dịch
bệnh hoành hành, đời sống của nông dân vô cùng cực khổ. Hiện tượng nông
dân do dời sống cùng cực phải phiêu bạt đi khắp nơi trở nên phổ biến dưới
triều Nguyễn. Từ năm 1802 đến năm 1806, nông dân 370 thôn thuộc các trấn
lớn ngoài Bắc phiêu tán đi nơi khác. Đến năm 1826, lại có thêm 108 xã thôn
thuộc 13 huyện của trấn Hải Dương xiêu tán, cộng thêm vào đó là tô thuế rất
nặng nề. Cùng vời thảm cảnh đó, vỡ đê, lụt lội xảy ra thường xuyên. Tại
Hưng Yên, đê Văn Giang vỡ 18 năm liền làm cho cả vùng Khoái Châu màu
mỡ, phì nhiêu biến thành bãi đất hoang, đời sống nông dân đói khổ, hàng đoàn
người bồng bế nhau đi khắp nơi xin ăn, ruộng đất bỏ hoang ngày càng nhiều.
Năm 1857, số ruộng đất bỏ hoang trong cả nước là 395 488 mẫu [2, 374]. Đặc
biệt vào năm Tự Đức thứ 12 (1859) số người chết vì đói kém ôn dịch ở Nam
và Bắc có tới 60 vạn người [3, 15].
Phương thức sản xuất trong các mỏ vẫn là lao động thủ công, năng suất thấp. Bên
cạnh đó các nghành nghề thủ công dân gian cũng không có điều kiện phát triển.
Về thương nghiệp, nhà nước giữ độc quyền những nguyên liệu phục vụ cho
công nghiệp nặng như: đồng, chì, thiếc, lưu huỳnh… vì sợ nhân dân chế tạo vũ
khí mang bán cho thương nhân nước ngoài. Đối với những loại hương, lâm sản
quý hiếm như: sừng tê, gác hươu, cánh kiến, trầm hương… nhà nước phong kiến
kiểm soát và đánh thuế rất chặt chẽ. Nhà nước phong kiến còn cấm nhân dân
không được họp chợ vì lo sợ phong trào nông dân lan rộng. Thóc gạo, mặt hàng
thiết yếu nhất trong đời sống cũng bị đánh thuế cao. Gạo từ Gia Định trở ra Nghệ
An phải nộp thuế 9 lần. Dưới thời phong kiến việc lưu thông hàng hóa chủ yếu dựa
vào đường sông và đường biển. Nhưng nhà nước không bảo vệ đường biển để cho
giặc hoành hành, và thêm vào đó là việc trưng thu thuyền bè. Năm 1816 quy định
11
lại “thuyền đi buôn thì phải chịu thuế còn chở cho nhà nước thì được miễn”. Như
vậy đưới triều Nguyễn nội thương rất sa sút, giao lưu hàng hóa giữa các địa
phương rất yếu kém.
+ Ngoại thương
Việc trao đổi buôn bán với thương nhân nước ngoài cũng suy giảm do triều
đình thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” (đóng cửa). Mặc dù nước ta có vị
trí thuận lợi, bờ biển dài, có nhiều cửa biển tiện lợi cho hoạt động thông thương
buôn bán nhưng việc buôn bán với nước ngoài do triều đình độc quyền, thường
bị hạn chế đến mức tối đa đặc biệt dưới thời Tự Đức thì hầu như cấm hẳn, nhà
nước chỉ cho phép mở một vài cửa biển để thông thương với nước ngoài, nhập
những mặt hàng phục vụ cho sinh hoạt của hoàng tộc, còn các hoạt động buôn
bán khác đều bị kiểm soát chặt chẽ, tàu buôn nước ngoài không thể ra vào buôn
bán được. Chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn đã kìm hãm sự giao lưu
buôn bán với bên ngoài, số lượng tàu bè ra vào các cửa biển vắng vẻ, nguồn thu
thuế quan giảm sút. Năm 1851 nước ta chỉ còn 20 địa điểm buôn bán so với trước
thời điểm này là 60 địa điểm, một con số quá ít ỏi đối với sự phát triển của thương
tiêu biểu như: Khởi nghĩa Phan Bá Vành ở Nam Định (1821), Lê Duy Lương ở
Ninh Bình (1833), Lê Văn Khơi ở Gia Định (1833), Cao Bá Quát ở Bắc Ninh
(1854)… Các cuộc khởi nghĩa này thể hiện rõ rằng lúc thực dân Pháp xâm lược
nước ta thì lúc này mâu thuẫn giữa nông dân với phong kiến ở nước ta cũng
đang gay gắt. Về sau các phong trào này lập tức bị triều đình nhà Nguyễn dập
tắt. Cùng với các cuộc khởi nghĩa của nông dân, dân bỏ đi xiêu tán ngày một
nhiều dẫn tới sự bất ổn của xã hội. Lợi dụng tình hình này, giặc cướp nổi lên
hoành hành cướp bóc của cải của nhân dân. Mặt khác, dân ta phải đối phó với
nạn giặc khách từ Trung Quốc tràn sang cướp phá ở vùng Việt Bắc. Đặc biệt là
giặc Tam Đường (Quảng nghĩa đường, Lục thắng đường, Đức thắng đường) tràn
sang cướp phá nhân dân ta ở Thái Nguyên, Tuyên Quang.
Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, nạn cướp phá, cướp của, giết
người ngày càng nhiều. Triều đình nhiều lần cử người đi đánh dẹp nhưng không
dẹp được. Nhà Nguyễn bất lực phải cầu viện nhà Thanh càng tạo điều kiện cho
quân Thanh sang cướp phá, nhũng nhiễu nhân dân ta khiến cho đời sống nhân
dân ta ngày càng cơ cực, lầm than. Vì thế phong trào đấu tranh của nhân dân ta
vừa chống xâm lược, vừa chống phong kiến ngày càng mạnh mẽ.
1.2.4. Về quân đội
Trong khi nước ta đứng trước bờ vực của nguy cơ mất nước thì triều đình
nhà Nguyễn vẫn duy trì hệ thống quân đội cũ theo kiểu lạc hậu với ba bộ phận:
Thân binh (bộ vệ vu), cấm binh (phòng thủ hoàng thành), tinh binh hay biến
binh (ở kinh đô và các địa phương). Theo nhận định của người Pháp làm ở thời
Gia Long lúc đó có 115.000 bộ binh và 17.600 bộ binh, theo Đại Nam thực lục
thì năm 1820 số quân là hơn 204.220 người, năm 1840 là 212.290 người. Dưới
thời vua Tự Đức, quân đóng ở kinh thành khoảng 1 vạn người, ở các kinh thành
lớn có khoảng 4000 – 5000 quân, ở tỉnh nhỏ 1000 quân hoặc vài trăm quân. Tuy
nhiên binh lính không được luyện tập thường xuyên, tinh thần quân sĩ bạc
nhược, tình trạng đảo ngũ, bỏ trốn rất nhiều gây ra sự thiếu hụt lực lượng
13
nước cần chấn hưng, phát triển về mọi mặt. Do đó, cần phải đổi mới phương
pháp giáo dục, thi cử. Nhưng nhà Nguyễn vẫn bó gọn nội dung giáo dục, thi cử
trong mấy bộ “Tứ thư”, “Ngũ kinh”. Người học chỉ biết học thuộc lòng, làm thơ,
soạn nhạc theo khuôn sáo, không được học những kiến thức của khoa học tự
nhiên. Hình thức thi cử không được đổi mới vẫn mang nặng lối thi cử theo hình
thức học thuộc lòng, thiếu sáng tạo. Từ giáo dục, thi cử lạc hậu đã đào tạo ra
14
một hệ thống quan lại có đầu óc bảo thủ, ngu dốt, một bộ máy sâu mọt, quan
liêu nặng nề.
Bên cạnh đó, hệ tư tưởng nước ta thời kì này có những biến đổi lớn. Trong
khi hệ tư tưởng Nho giáo đang ngày càng suy đồi thì đạo Thiên Chúa phát triển
mạnh mẽ số lượng tín đố theo đạo ngày một đông. Trước tình hình đó, Tự Đức
đã ban hành nhiều chỉ dụ cấm đạo: Tháng 8 năm 1848, Tự Đức ban bố dụ cấm
đạo lần thứ nhất ra lệnh ban thưởng 30 nén bạc cho kẻ nào bắt được giáo sĩ.
Những giáo sĩ tội nặng thì bị xử theo hình phạt buộc đá vào cổ và vứt xuống
biển. Đối với giáo sĩ bản xứ nếu không bỏ đạo thì bị thích chữ vào mặt và bị đi
đày vùng nước độc. Tháng 9 năm 1851, Tự Đức ban bố dụ cấm đạo lần thứ hai
nhắc lại hình phạt của chỉ dụ lần thứ nhất. Tháng 9 năm 1855 ban bố dụ cấm đạo
lần thứ ba với hình phạt tàn khốc hơn. Tuy nhiên chính sách cấm đạo của vua
không ngăn cản được sự phát triển của đạo Thiên Chúa mà trái lại tạo nên sự
xung đột tôn giáo và tư tưởng gay gắt. Chính sách này cũng là cái cớ trực tiếp để
thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Đạo Phật và tín ngưỡng dân gian thời
kì này tiếp tục phát triển.
1.2.6. Về đối ngoại
Nhà Nguyễn thực hiện chính sách hai mặt: Đối với các nước phương Tây,
nhà Nguyễn vẫn duy trì chính sách bế quan tỏa cảng, tăng cường cấm đạo, giết
hại và đàn áp giáo dân. Đối với các nước láng giềng như Lào và Cao Miên, nhà
Nguyễn thực hiện chính sách quân sự cứng rắn. Đối với nhà Thanh, Nguyễn
Ánh cử người sang xin cầu phong, quốc hiệu và cống nạp. Trong bối cảnh lịch
2.1. Triều đình nhà Nguyễn đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của
thực dân Pháp (1858 - 1862)
2.1.1. Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
Bước sang thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây tiến dần lên trở thành
những nước đế quốc chủ nghĩa, càng ráo riết đẩy mạnh xâm lược trên phạm vi
thế giới nhất là ở các nước phương Đông trong đó có Việt Nam.
Âm mưu xâm lược Việt Nam của tư bản Pháp đã có từ rất sớm bắt đầu từ
cuối thế kỷ XVII (thông qua các giáo sĩ truyền đạo) và được xúc tiến mạnh mẽ
vào giữa thế kỷ XIX. Xâm lược Việt Nam tư bản Pháp có thuận lợi là được giáo
sĩ và thương nhân truyền đạo, buôn bán trước rất lâu lại được sự tiếp tay từ bên
trong đó là Nguyễn Ánh. Ngay từ đầu thế kỷ XVI, đã có những giáo sĩ đến
truyền đạo tại nước ta, trong thời kỳ đầu hoạt động truyền giáo thuần túy mang ý
nghĩa tôn giáo nên đã được nhà nước phong kiến Việt Nam tạo điều kiện thuận
lợi. Nhưng càng về sau, hoạt động của các giáo sĩ dần có sự biến tướng - nhuốm
màu chính trị, họ đã cấu kết với tư bản Pháp bằng cách: các quan chức thực dân
cung cấp phương tiện, tài chính cho các giáo sĩ, đổi lại họ sẽ nhận được thông
tin về Việt Nam thông qua các giáo sĩ. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX nhiều
quan chức thực dân đã đội lốt thầy tu, trực tiếp xâm nhập vào nước ta đến dò la
tình hình tiêu biểu như : Adran (Bá đa lộc) người làm trung gian cho Nguyễn
Ánh kí với chính phủ Pháp hòa ước Vecxai (1787) Từ đó mọi vấn đề nội trị,
ngoại giao của đất nước đã được các giáo sĩ ghi chép tỉ mỉ, nhất là tình hình
khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ.
Mặc dù biết được âm mưu đó của thực dân Pháp xong nhà Nguyễn lại
vướng mắc ở chỗ là nhờ có sự giúp đỡ của thực dân Pháp, năm 1802 Nguyễn
Ánh mới lật đổ được vương triều Tây Sơn và thiết lập nên nhà Nguyễn. Vì nhớ
đến công lao của Bá-Đa-Lộc, vua Gia Long đã không bức hại đạo và cũng
không nâng đỡ đạo, điều này đã tạo điều kiện cho các giáo sĩ mở rộng địa bàn
hoạt động khắp cả nước. Đó cũng chính là lí do tại sao về sau nhà Nguyễn đã
phải áp dụng chính sách cấm đạo. Thế nhưng, triều đình càng cấm đạo thì các
chiến lược đánh bất ngờ, kinh thành Huế nằm phía trong phá Tam Giang, muốn
vượt qua sẽ thiệt hại rất lớn. Đánh các vùng khác thì hiệu quả bắt phải đàm phán
không cao nên họ quyết định chọn đánh vị trí gần kinh thành và có giá trị kinh tế
nhất là khu vực Đà Nẵng. Hơn nữa, Đà Nẵng nằm giữa Huế và đồng bằng phía
Nam, có bãi biển rộng, tương đối sâu dễ cho hải quân đổ bộ và bắn phá, Đà
Nẵng còn có Hội An là thương cảng lớn nhất khu vực lúc đó, ở đây lại có nhiều
người theo đạo Thiên Chúa nên sẽ ủng hộ họ, nếu đánh thắng ở đây thì một
trong những nơi ảnh hưởng trực tiếp là kinh thành Huế, do đó Pháp và Tây Ban
Nha quyết định chọn Đà Nẵng là nơi tấn công đầu tiên. Tuy nhiên, vừa đổ bộ lên
bán đảo Sơn Trà, quân Pháp đã vấp phải sức kháng cự của quân đội triều đình
do Nguyễn Tri Phương chỉ huy.
18
Trên mặt trận Đằ Nẵng, ngay khi chiến sự xảy ra quan quân triều đình phối
hợp với nhiều đội quân nông dân đánh giặc. Tại đây, Nguyến Tri Phương đã thực
hiện lối đánh “phòng thủ”, đắp đồn lũy và chiến thuật “vườn không nhà trống”
nhằm cắt đứt con đường bóc lột lương thực, binh lực của địch. Kết quả, sau 5 tháng
bị giam chân tại chỗ, khó khăn ngày càng chồng chất, liên quân Pháp - Tây Ban
Nha phải rút phần lớn quân khỏi Đà Nẵng, đi vào nam mở mặt trận mới ở Gia Định
(2/1859). Kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch đã bị thất bại. Sáng ngày
10/02/1859 tàu chiến Pháp - Tây Ban Nha tập trung ở Vũng Tàu, bắn phá các pháo
đài phòng thủ của ta như Phúc Thắng, Lương Thiện, Phúc Mỹ… mở đường ngược
sông Cần giờ, vừa tiến vừa bắn phá các đồn hai bên bờ nhưng vấp phải sự chống cự
khá quyết liệt của quan quân triều đình và nhân dân. Sáng 17/2, quân địch mới
chiếm xong thành Gia Định. Tháng 3/1860, Nguyễn Tri Phương được điều động từ
Đà Nẵng vào chỉ huy mặt trận Gia Định. Ông huy động quân dân gấp rút xây dựng
hệ thống phòng ngự kiên cố, lấy đại đồn Chí Hòa làm đại bản doanh, tập trung
quân sĩ, vũ khí lương thực để phòng giặc đánh rộng ra.
Về phía Pháp. Cuối tháng 2/1861 sau khi cùng các nhà tư bản phương Tây
can thiệp vũ trang vào Trung Quốc, chúng dồn quân vào mặt trận Gia Định. Không
chiến tranh chống áp bức dân tộc.
Đứng trước hai trận tuyến đấu tranh đó, triều đình Tự Đức đã giải quyết
như sau:
Thứ nhất: Nhà Nguyễn vì quyền lợi giai cấp không kiên quyết đấu tranh
chống xâm lược mà lựa chọn con đường thỏa hiệp và từng bước đầu hàng giặc,
đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân. Cụ thể:
Ngay từ khi liên minh Pháp - Tây Ban Nha vừa mới xâm phạm Đà Nẵng, lòng
dân cả nước từ Bắc chí Nam đã sôi sục chí căm thù giặc. Nhưng trái lại, ngay từ
đầu tập đoàn phong kiến đã không muốn đi với dân trong cuộc đấu tranh này. Sau
khi thất bại ở Đà Nẵng, Gia Định, thực dân Pháp buộc phải chuyển sang kế
hoạch đánh lâu dài, trong khi đó nhà Nguyễn không có quyết tâm chống giặc
nên không thể tìm ra mưu kế gì đối phó lâu dài với giặc. Trước sức tấn công ồ ạt
của quân giặc, ngay từ đầu quan quân triều đình chỉ lo phòng thủ mà không tấn
công, dần tỏ ra bất lực, trong nội bộ đã sớm có sự phân hóa thành hai phái: chủ
chiến và chủ hòa với đa số theo phe chủ hòa. Điều đó khẳng định một thực tế là
ngay từ đầu, đại bộ phận thuộc hàng ngũ cầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất
bại, sợ giặc.
Khi Pháp tấn công Đà Nẵng, chúng chỉ có 2000 quân và 14 tàu chiến.
Trong khi triều đình Huế gồm 2000 quân đóng tại chỗ, 2000 quân ứng cứu và
lực lượng kháng chiến của ta rất đông đảo nhưng quan quân triều đình đều “án
binh bất động”. Tháng 2 năm 1859 khi đại bộ phận quân Pháp rút vào Gia Định,
chỉ để lại Đà Nẵng một lực lượng quân sự nhỏ bé nhưng triều đình chỉ lo phòng
thủ chứ không tấn công. Điều này đủ nói lên sự thiếu quyết tâm tiêu diệt địch
của triều đình phong kiến. Khi Pháp đánh chiếm Gia Định, chúng có 2.200 quân,
16 tàu chiến, ngược lại quân triều đình có 1000 quân với hàng nghìn quân tiếp
viện đủ khí giới và 5.800 quân ứng nghĩa của dân cùng với lương thực cho 1 vạn
20
quân đóng giữ trong 1 năm. Nhưng triều đình vẫn không chịu đánh giặc, giặc tấn
công thì chống cự yếu ớt, chạy dài, giặc chiếm Gia Định một cách dễ dàng,
sự lệ thuộc về ngoại giao của triều đình nhà Nguyễn vào quyền lợi tư bản Pháp
và thông qua đó, Pháp giành được quyền chủ động trong âm mưu biến Việt Nam
thành thuộc địa của mình. Điều khoản V xác định, tư bản Pháp có quyền tự do
buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên đồng thời nhà Nguyễn