CUỘC KHỞI NGHĨA XIPAY VÀ SỰ THAY ĐỔI TRONG CHÍNH SÁCTHỰC DÂN ANH TẠI ẤN ĐỘH CAI TRỊ CỦA THỰC DÂN ANH TẠI ẤN ĐỘ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÙI VĂN TƯỞNG

CUỘC KHỞI NGHĨA XIPAY VÀ SỰ THAY ĐỔI
TRONG CHÍNH SÁCH CAI TRỊ CỦA THỰC DÂN ANH
TẠI ẤN ĐỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI VĂN TƯỞNG

Người thực hiện

Bùi Văn Tưởng

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cơ sở tư liệu 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5. Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 1. CUỘC KHỞI NGHĨA XIPAY (1857 - 1859) 5
1.1 Tình hình Ấn Độ trước khi cuộc khởi nghĩa Xipay bùng nổ 5

nước thuộc địa. Trong quá trình ấy, thực dân Anh với tiềm lực kinh tế, chính trị
mạnh hơn đã từng bước loại dần các đối thủ và độc chiếm Ấn Độ. Với bản chất
là sự xâm lược và thống trị thuộc địa, từ khi độc chiếm được Ấn Độ thực dân
Anh đã thi hành một loạt các chính sách cai trị khác nhau trên tất cả các lĩnh
vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội đã gây nên những hậu quả to
lớn đối với lịch sử Ấn Độ. Nó làm cho những mâu thuẫn trong lòng xã hội Ấn
Độ trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là sự mâu thuẫn, xung đột không thể dung hòa
giữa toàn thể nhân dân Ấn Độ đối với thực dân Anh, dẫn đến hàng loạt các
phong trào đấu tranh của nhân dân nổi lên gây ra rất nhiều khó khăn, thiệt hại
cho quá trình xâm lược và thống trị của Anh.
Trong xu thế đấu tranh của toàn thể dân tộc Ấn Độ thì nổi lên cao trào đấu
tranh của những người lính Xipay trong hàng ngũ quân đội Anh trong những
năm 1857- 1859. Từ phong trào này, đánh dấu bước chuyển mình trong nhận
thức của người lính Xipay cũng như toàn thể dân tộc Ấn, trong quá trình đấu
tranh giải phóng dân tộc. Đồng thời, cũng đánh dấu một dấu mốc quan trọng
trong sự thay đổi chính sách cai trị của thực dân Anh tại Ấn Độ.
Qua đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Cuộc khởi nghĩa Xipay và sự thay
đổi trong chính sách cai trị của thực dân Anh tại Ấn Độ” để làm rõ hơn những
nguyên nhân cơ bản dẫn tới cuộc khởi nghĩa, cũng như diễn biến, kết quả, ý
nghĩa của nó đối với lịch sử Ấn Độ. Mặt khác, cũng nhằm khắc họa cụ thể hơn
những thay đổi trong chính sách cai trị của thực dân Anh tại Ấn Độ khi cuộc
khởi nghĩa diễn ra.

2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm qua, có khá nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến cuộc
khởi nghĩa Xipay 1857 – 1859 ở Ấn Độ, cũng những chính sách của thực dân
Anh sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa trên. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu,
mỗi tác phẩm lại hướng tới những nội dung khía cạnh khác nhau. Chính vì thế,
cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chi

+ Cuốn “Con đường cứu nước trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số
nước châu Á” của Đỗ Thanh Bình, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1999. Tác
phẩm đã trình bày những nét khái quát nhất về chính sách cai trị của thực dân
Anh cũng như phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Ấn Độ.
Như vậy, thông qua tất cả các tài liệu trên, các nhà nghiên cứu mới chỉ
dừng lại ở một góc độ khía cạnh nào đó, chưa có một công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện, hệ thống, khoa học. Vì thế, tôi lựa chọn đề tài: “Cuộc khởi
nghĩa Xipay và sự thay đổi trong chính sách cai trị của thực dân Anh tại Ấn Độ”
nhằm tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa
Xipay, cũng như những thay đổi trong chính sách cai trị của thực dân Anh sau
khi đàn áp cao trào đấu tranh của người lính Xipay và nhân dân Ấn Độ những
năm 1857 - 1859.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Như tên gọi của đề tài, tôi chỉ tập trung vào việc tìm hiểu,
nghiên cứu những nét cơ bản nhất về cuộc khởi nghĩa Xipay và sự thay đổi trong
chính sách cai trị của thực dân Anh tại Ấn Độ những năm 1857 - 1859.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu chính của đề tài là Ấn Độ
+ Đề tài nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Xipay, cùng những chính sách cai trị
của thực dân Anh những năm 1857 - 1859.
3.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài này nhằm khắc họa những nét cơ bản nhất về cuộc khởi
nghĩa Xipay: nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa. Mặt khác, cũng để làm
rõ hơn những thay đổi trong chính sách cai trị của thực dân Anh sau khi dập tắt
được cuộc khởi nghĩa.
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở tư liệu
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã sử dụng những nguồn tài liệu chính là
các giáo trình lịch sử thế giới, các công trình nghiên cứu đã được công bố và các 5
CHƯƠNG 1. CUỘC KHỞI NGHĨA XIPAY (1857 - 1859)

1.1 Tình hình Ấn Độ trước khi cuộc khởi nghĩa Xipay bùng nổ
Sau hơn hai thế kỷ, thực dân Anh đã hoàn thành giai đoạn xâm lược Ấn Độ
và biến xứ sở này thành thuộc địa để vơ vét, bóc lột và tiêu thụ hàng hoá. Ấn Độ
cũng sẽ là nơi gánh chịu mọi hậu quả, mọi thiệt hại mà chính quốc Anh phải đối
mặt. Hậu quả tất yếu là tình trạng bần cùng và chết đói của quần chúng nhân
dân, cơ sở ruộng đất công làng xã nông thôn bị phá vỡ, nền thủ công nghiệp bị
suy sụp, nền văn minh lâu đời bị phá hoại. Do vậy, đã gây nên những mối mâu
thuẫn chồng chéo, phức tạp trong lòng xã hội Ấn Độ, làm bùng lên các phong
trào đấu tranh của quần chúng nhân dân.
Đến giữa thế kỷ XIX, nền kinh tế Ấn Độ rơi vào tình trạng suy thoái
nghiêm trọng.
Trong nông nghiệp: Kinh tế tự nhiên của nông dân bị lôi cuốn vào quỹ đạo
sản xuất hàng hoá của chủ nghĩa tư bản Anh. Hầu hết đồng ruộng phải đưa vào
phục vụ cho việc sản xuất nguyên liệu: bông, đay, thuốc phiện nên diện tích
gieo trồng cây lương thực bị giảm xuống. Lương thực thu hoạch được cũng phải
đưa sang Anh trong khi hàng triệu người dân phải chết đói hoặc chịu đói. Năm
1849, giá trị ngũ cốc xuất khẩu là 858.000 livơro, đến năm 1858 tăng lên 3,7
triệu, trong khi đó số người chết đói trong khoảng từ năm 1850 - 1875 là 5 triệu
người [6;243]. Càng về sau con số người chết càng tăng lên. Đối với các nước
thuộc địa, việc sản xuất, xuất khẩu hàng hoá sang các nước chính quốc thực chất
là sự vơ vét tàn bạo của bọn thực dân đế quốc đối với tài nguyên của thuộc địa.
Vì vậy, hậu quả tất yếu của hành động đó là làm cho đời sống nhân dân, đặc biệt
là người nông dân bị ảnh hưởng và gánh chịu hậu quả nặng nề nhất, đời sống

cháy mạnh mẽ và lan tỏa sâu rộng hơn. Có thể khẳng định rằng, các phong trào
nổ ra để giải quyết mối mâu thuẫn trên là tất yếu và không một sức mạnh nào có
thể ngăn cản được.
Trong thủ công nghiệp: Dưới ách cai trị của Anh thì hàng loạt các cơ sở thủ
công nghiệp bị phá sản, trong khi chưa có các cơ sở công nghiệp hiện đại thay
thế. Đến năm 1854, mới khánh thành một nhà máy gai ở Cancutta và hai năm
sau một nhà máy dệt ở Bombay cũng mới được xây dựng, tình trạng đó làm cho
sức sản xuất bị thu hẹp. Hàng hoá thiếu phải trông chờ phụ thuộc hàng hoá
của Anh, do vậy giá cả hàng tiêu dùng trở nên đắt đỏ, đời sống người lao
động càng trở nên bần cùng hơn. Trở ngại lớn nhất lớn nhất ảnh hưởng tới sự
phát triển của nền sản xuất là do ách thống trị kìm kẹp của thực dân Anh gây
nên ngoài ra do quan hệ sản xuất mất cân đối, hạn chế sự phát triển còn dẫn
tới nạn thất nghiệp trong quần chúng nhân dân lao động. Chính điều đó đã tạo
nên mâu thuẫn giữa toàn thể người lao động cùng đông đảo các tầng lớp nhân
dân Ấn Độ với thực dân Anh trở nên sâu sắc. Trong thủ công nghiệp nghề dệt
vải bị phá sản và không cạnh tranh được nổi với hàng công nghiệp Anh ngày
càng tràn ngập Ấn Độ. Trong những năm 1840 - 1850 của thế kỷ XIX, trung
bình mỗi năm hàng công nghiệp Anh, đặc biệt là hàng dệt nhập vào Ấn Độ trị
giá 8 triệu livơrơ trong những năm 1854 - 1859 tăng lên 18 triệu livơrơ [9;64].
Sự bất công đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới cao trào đấu tranh
1857 - 1859.

7
Một vấn đề khá quan trọng trong đới sống xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ là tình
trạng phức tạp về dân tộc, tôn giáo và đẳng cấp.
Trong khoảng 100 triệu dân Ấn Độ lúc đó có rất nhiều dân tộc với trình độ
phát triển khác nhau, trên lãnh thổ rộng lớn đó bên cạnh những bộ phận đang ở
thời kỳ phong kiến trong những vương quốc độc lập thì vẫn còn không ít bộ lạc
sống rải rác khắp vùng biên giới phía Bắc trong tình trạng rất lạc hậu, bộ phận
còn lại không khá gì hơn cũng nằm dưới ách áp bức bóc lột của thực dân Anh.

8
Độ lúc bấy giờ, mâu thuẫn giữa các giai cấp cũ và giai tầng mới trở nên sâu sắc.
Có thể khẳng định rằng, sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo và đẳng cấp cùng với
những thành kiến sâu sắc, những lễ nghi phức tạp, những tập tục lạc hậu… cản
trở sự thống nhất và phát triển của Ấn Độ. Đây cũng là điều kiện, cơ sở để thực
dân Anh khai thác, lợi dụng triệt để các mối mâu thuẫn để có thể phân tán phong
trào đấu tranh của nhân dân Ấn, làm suy yếu phong trào đấu tranh của dân tộc
Ấn Độ. Tuy nhiên, dưới sự cai trị hà khắc của thực dân Anh và giai cấp phong
kiến Ấn Độ thì quần chúng nhân dân vẫn đoàn kết lại cùng đấu tranh để giải
phóng khỏi ách áp bức dân tộc và giai cấp, mà mũi nhọn của các cao trào đấu
tranh là chống lại thực dân Anh xâm lược.
Những mâu thuẫn trên được phản ánh rõ nét trong cao trào đấu tranh 1857 -
1859 mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của binh lính Xipay. Tuy nhiên, trước đó
cũng đã diễn ra các cuộc đấu tranh lẻ tẻ trên khắp lãnh thổ của quần chúng nhân
dân Ấn Độ. Trước tình cảnh đất nước đất nước đang từng bước rơi vào vòng
kiểm soát của thực dân Anh ngay từ đầu thế kỷ XIX, ở khắp nơi trên lãnh thổ
Ấn Độ đều chứng kiến các hoạt động của nông dân, các bộ lạc và tầng lớp
phong kiến thất thế đứng lên chống lại quân Anh.
Năm 1807, một cuộc khởi nghĩa của nông dân lan rộng khắp tỉnh Đêli,
nhưng sau đó do không có sự thống nhất trong hướng chỉ đạo, mâu thuẫn trong
nội bộ phong trào, rồi trang bị vũ khí thô sơ nên thực dân Anh đã sử dụng lực
lượng mạnh và đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa. Năm 1817 - 1818, nông dân ở
Oritxa dưới sự lãnh đạo của phong kiến địa phương đứng dậy chống lại việc thu
thuế phục vụ chiến tranh. Trong những năm 1826 - 1829, thực dân Anh phải
điều động quân đến công quốc Maixo để đàn áp cuộc nổi dậy chống thuế của
nông dân. Ngoài ra, còn có thể kể thêm các cuộc khởi nghĩa của Cácnan (1846 -
1847), phong trào đấu tranh ở công quốc thống nhất Bombay (1844)
Cùng thời gian này, có không ít cuộc nổi dậy chống thực dân của các bộ lạc
khiến cho thực dân Anh phải tiến hành nhiều cuộc tiểu "chiến tranh" để đàn áp.
Các cuộc nổi dậy chống thực dân trên đây cho thấy tinh thần chống xâm lược đã

thành thị đang đứng lên mưu cầu đánh đuổi thực dân Anh. Giai cấp tư sản dân tộc
Ấn vừa mới ra đời chưa tham gia vào cuộc khởi nghĩa nhân dân 1857 - 1859. Mặc
dù tất cả các phong trào trên đều dẫn tới sự thất bại nhưng sự thất bại đó lại là tiền
đề, là cơ sở cho một cao trào đấu tranh mới bùng nổ, sẽ mạnh mẽ và thực sự quyết
liệt, với quy mô rộng lớn hơn. Trong những năm 50 của thế kỷ XIX, hàng loạt các
sự kiện lịch sử đã diễn ra chứng minh điều đó: cuộc khởi nghĩa Xipay 1857 - 1859
bùng nổ, đánh dấu một bước ngoặt, bước phát triển mới trong cao trào đấu tranh
chống thực dân Anh của nhân dân Ấn Độ.
1.2 Cuộc khởi nghĩa Xipay 1857 - 1859
1.2.1 Nguyên nhân
Quá trình xâm lược và thống trị Ấn Độ của thực nhân Anh đã làm cho cả
dân tộc Ấn sống trong sự phẫn nộ, bất bình. Mọi quyền lợi chính đáng và cơ bản
nhất mà trước đó họ được hưởng đã bị người Anh tước đoạt hết; mất độc lập dân
tộc, mất tự do, toàn bộ những di sản văn hóa thiêng liêng mà cả dân tộc xây
dựng trong hàng ngàn năm lịch sử bị trà đạp, chiếm đoạt, phá huỷ một cách

10
không thương tiếc. Qua đó, gây nên mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Ấn Độ với
thực dân Anh ngày một mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn và đến lúc không thể điều
hoà được.
Mâu thuẫn của cả dân tộc Ấn được phản ánh rõ nét nhất trong cuộc khởi
nghĩa Xipay (từ “Xipay” có nghĩa là người lính, người chiến sĩ). Nhưng đơn vị
Xipay - là những đội quân người Ấn đánh thuê cho thực dân Anh, họ là những
người nghèo khổ phải đi lính để kiếm sống, thuộc quyền của thực dân Anh. Đội
quân Xipay là một trong những công cụ xâm lược và thống trị của thực dân Anh,
từ khi bắt đầu xâm lược Ấn Độ người Anh đã rất tin cậy đội quân bản xứ này.
Đây là một đội quân phức tạp, thuộc nhiều đẳng cấp, tầng lớp xã hội và tôn giáo
khác nhau. Chúng nghĩ rằng với thành phần phức tạp như vậy, những người lính
Xipay khó lòng có thể xóa bỏ được những sự cách biệt, sự hận thù cố hữu để
đoàn kết với nhau được. Chúng dùng lính Xipay đàn áp những cuộc khởi nghĩa

Mặt khác thực dân Anh cũng không đánh giá đúng tinh thần yêu nước của
những người lính Xipay và ý chí căm thù của họ nên càng ra sức bóc lột đối xử
tàn tệ. Những người lính Xipay đại đa số là nông dân công xã, thợ thủ công bị
phá sản vì sự thống trị của Anh nên mới trở thành người lính đánh thuê. Tuy
phải cầm vũ khí để bắn giết đồng bào mình nhưng họ cũng nhận thức được rằng
chỉ có con đường cầm vũ khí đánh đuổi bọn thực dân Anh thì dân tộc mới thoát
khỏi cảnh nô lệ, không phải chịu bao nhiêu thuế má, lao dịch nặng nề, mới có
ruộng đất cày cấy,tự do làm nghề thủ công… Chính vì thế, họ luôn nuôi hi vọng
chờ thời cơ để nổi dậy. Nhũng người lính Xipay giờ cũng không thể ngồi yên
được nữa họ đã tập hợp nhau lại đứng lên chống lại sự áp bực của thực dân Anh,
cuộc khởi nghĩa Xipay bùng nổ, đến những năm 50 của thế kỷ XIX những tiền
đề cho một cuộc khởi nghĩa đã chín muồi…
1.2.2 Diễn biến và kết quả
1.2.2.1 Diễn biến
Cơn giông tố cách mạng đang kéo đến và cuộc đấu tranh của binh lính
Xipay ở Mirut vào tháng 5 năm 1857, đã mở đầu cho cao trào đấu tranh của binh
lính Xipay những năm 1857 - 1859. Tiến trình của cuộc cách mạng diễn ra rất
phức tạp, về cơ bản có thể chia ra thành ba giai đoạn cơ bản sau.
* Cuộc khởi nghĩa bùng nổ và phát triển rộng khắp
Cuộc khởi nghĩa bùng nổ chính thức và diễn ra với quy mô rộng lớn vào
tháng 5/1857, nhưng trước đó đã có lẻ tẻ những đơn vị Xipay đứng lên chống lại
quân Anh. Ngày 22/01/1857, những trại lính đóng gần Cancutta bị đốt cháy.
Ngày 25/02, bùng nổ cuộc khởi nghĩa ở trung đoàn bản xứ số 19 tại Bec-ham-
pua, họ đứng lên chống lại việc phân phát các loại đạn dược, quân Anh ra sức
đàn áp đến ngày 31/3 trung đoàn này bị giải tán. Cuối tháng ba, binh lính trung
đoàn Xipay số 34 đóng ở Ba-rắc-pua đã để cho một trong những chiến hữu của
mình cầm súng đã lên đạn tiến lên trước hàng quân đang đứng trên bãi tập, và
anh ta đã kêu gọi các binh lính Xipay đứng lên khởi nghĩa, sau đó giết chết viên
sĩ quan phụ tá và tên trung đoàn trưởng cả trung đoàn trở nên hỗn loạn. Tuy
nhiên, sau đó tình hình được khống chế và trung đoàn này cũng bị giải thể.

chúng ta” [6;67]. Nhưng cũng ngay từ đầu, bọn phong kiến trong nước đã nắm
được quyền lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, chúng muốn giới hạn cuộc khởi nghĩa
trong việc khôi phục địa vị và quyền lợi cũ của mình, chứ không nghĩ đến việc
giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân Anh.
Trong các đội quân gửi đến tiếp viện cho Mirut nơi mà trật tự đã được phục
hồi trở lại, binh sỹ thuộc đại đội công binh và binh lính đánh mìn người bản xứ
đến đấy ngày 15/5 đã giết chết thiếu tá chỉ huy của mình là Phrây-de-rơ và lập
tức rời bỏ thành phố, họ bị pháo binh ngựa kéo và một số đại đội kỵ binh thuộc
trung đoàn kỵ vệ binh số 6 truy nã. Khoảng 15,16 nghĩa binh bị giết chết, số còn
lại đã tới được Đêli. Ở Phi-rô-dơ-pua thuộc Pen-giáp những trung đoàn bộ binh
người bản xứ số 57 và 45 nổi dậy, nhưng những cuộc nổi dậy này đều bị đàn áp.

13
Đến giai đoạn này thực sự phong trào khởi nghĩa đã diễn ra một cách rầm rộ và
rộng khắp, trở thành cao trào đấu tranh của cả dân tộc Ấn.
Noi gương tinh thần chiến đấu của Mirut và Đêli, phong trào đã nổi lên ở
khắp các địa phương khác thuộc miền Bắc và Trung Ấn. Nhiều thành phố được
giải phóng: Aliga (21/5), Bareli và Lăcnao (31/5), Can-pua (4/6) Alahabat (6/6).
Tại các nơi đó chính quyền mới đã được thành lập.
Tại Can-pua, dưới sự lãnh đạo của Hoàng thân Nan Xahip (con nuôi cựu
hoàng đế Marata bị người Anh phế truất), lính Xipay và nhân dân nổi dậy chiếm
ngân hàng, kho vũ khí, giải phóng nhà tù. Ngày 4-6-1857, hai trung đoàn Xipay
ở Con-pua đánh chiếm kho vũ khí và nhà tù giải thoát nhiều người lính bị giam,
sau đó hai trung đoàn Xipay khác cũng đứng dậy hưởng ứng. Ngay từ đầu, đông
đảo quần chúng nhân dân đã cùng chiến đấu bên cạnh lực lượng Xipay. Nhiều
đội nghĩa binh bao gồm Xipay, nông dân và thợ thủ công được thành lập. Các
đồn binh của quân Anh ở Can-pua bị bao vây và đến cuối tháng 6-1857, quân
Anh ở đây phải đầu hàng. Sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Nan Xahip tự xưng
là quốc vương cai quản một vùng đất đai rộng lớn và nhận làm chư hầu của
hoàng đế Đêli.

thành phố và bằng những ưu thế của cuộc tấn công khiến người Anh có thể chọn
các vị trí để tấn công bằng những lực lượng chủ yếu, trong khi đó nghĩa quân
phải rải lực lượng không đủ của mình ra để bảo vệ các cứ điểm của vùng bao
quanh đang bị uy hiếp.
Số lượng nghĩa quân bị giảm sút còn do cả những đoàn người rời khỏi
thành và cũng vì những bất hoà nội bộ mà bỏ đi với mức độ lớn hơn nhiều so
với những tổn thất nặng nề của nghĩa quân trong những đợt đột kích liên miên
trong vòng độ 10 ngày. Còn chưa kể đến sự hiềm khích giữa những nhà phong
kiến dưới triều Môgôn, những con người đó cảm thấy ách thống trị nặng nề của
quân Xipay không kém gì những thương nhân Đêli, là những người đã bị quân
Xipay tước đoạt tất cả tiền bạc, của cải. Những bất đồng tôn giáo giữa người
Xipay theo Hồi giáo với những người Xipay theo Ấn Độ giáo, rồi những hiềm
khích giữa quân đồn trú cũ với viện binh mới tới cũng đủ làm tan rã cái tổ chức
ọp ẹp của nghĩa quân và có thể khiến họ thất bại. Đồng thời, cũng phải lưu ý
rằng quân khởi nghĩa có thể chịu đựng được 84 giờ pháo kích rồi những trận đại
bác liên tục trong 6 ngày mặc dù thử thách khốc liệt nhưng họ vẫn bình tĩnh
vượt sông Gam-na qua cầu phao, qua đây ta phải thừa nhận rằng rốt cuộc nghĩa
quân với những lực lượng nòng cốt của mình có thể làm nên mọi chuyện.
Sau những trận đánh thăm dò, thực dân Anh đã tăng cường lực lượng để
vừa tấn công vừa có thể đủ sức mạnh chống lại sự tấn công của quân khởi nghĩa,
người Anh cũng phải lo sợ trước sự phức tạp của thành Đêli và họ ví nơi đây
như “một pháo đài thực sự”. Thành đá cao 16 fút, dày 12 fút, bên trên có một cái
luỹ dày 3 fút và cao 8 fút, không kể luỹ, có 6 fút nền đá không che chắn bằng ụ
đất, lúc công kích quân tấn công có thể nhắm thẳng vào thành mà nã pháo.
Tường công sự hẹp đến nỗi chỉ có thể đặt súng trong các pháo đài và trong các
ngọn tháp Mac-ten-lo. Những ngọn tháp này, hoàn toàn không đủ yểm hộ mạn
sườn cho thành và vì chọc thủng luỹ đá dày 3 fút bằng pháo công hãm không
khó gì, cho nên việc buộc pháo binh của quân thủ thành và nhất là buộc đại bác

15

Tháng 7/1857, quân Anh lại điều thêm viện binh từ các nơi về Đêli và tiếp
tục tấn công. Để đối phó với tình hình, đại biểu các đơn vị Xipay khởi nghĩa ở
Đêli và nhiều nơi khác quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa để tập trung mọi
lực lượng bảo vệ thủ đô. Tuy vẫn thừa nhận và duy trì ví trị của hoàng đế
Mogon nhưng ủy ban này về thực chất sẽ đảm nhiệm mọi công việc của một
chính phủ lâm thời theo phương châm: “con người thuộc về trời, đất nước là của

16
hoàng đế, nhưng chính quyền phải trong tay quân đội” [9;69]. Nhân dân và các
đơn vị Xipay hoan nghênh và ủng hộ Uỷ ban, được xem như là người đại diện
chân chính của mình, một số phần tử phong kiến được tham gia ủy ban khởi
nghĩa nhưng thế lực và ảnh hưởng của họ rất yếu.
Uỷ ban khởi nghĩa đã thực hiện một số chính sách và biện pháp tiến bộ
nhằm đáp ứng yêu cầu và quyền lợi nhân dân như bãi bỏ thuế muối và thuế
đường, nghiêm trị việc đầu cơ và tích trữ lương thực, cấp ruộng đất và miễn thuế
cho các gia đình liệt sỹ, bắt nhà buôn và những nhà giàu có phải đóng góp nhiều
cho nghĩa quân, vũ trang cho nhân dân thành thị. Những biện pháp này làm cho
nhân dân vô cùng vấn khởi, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc chiến đấu. Tuy nhiên,
cũng vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của bọn phong kiến, thương nhân và bọn
cho vay nặng lãi.
Đến đây, cuộc chiến đấu bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt; bên ngoài thì
quân Anh tấn công mạnh mẽ bên trong thì bọn phản bội phá hoại, trong khi đó ủy
ban khởi nghĩa lại thiếu kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân
dân. Trước hết, nghĩa quân không nhân đà thắng lợi lúc đầu mà tấn công dồn dập,
đánh bại kẻ thù ít ỏi và đang hoang mang dao động, mà lại rút quân vào thế phong
ngự tiêu cực làm cho chúng có thời gian củng cố, chuẩn bị lực lượng phản công
về sau. Uỷ ban lãnh đạo chưa kịp thời thống nhất nên các cuộc khởi nghĩa của
nông dân vẫn diễn ra lẻ tẻ ở vùng phụ cận Đêli, ngay ở Đêli ủy ban cũng không
nắm được quân đội của mình. Những viên chỉ huy do chính phủ cử ra chủ yếu là
quý tộc không được Xipay tin phục những người này hay hành hạ, đánh đập binh

rộng để tấn công ngay lập tức. Sau đó quân Anh đã đồng loạt tấn công. Quân
Xipay đã bố trí một hào cản ở chân thành giữa hai pháo đào bị uy hiếp, và đào
chỗ nấp để thủ và tấn công quân Anh. Ngoài ra, từ vị trí sau cổng thành Cabun
quân khởi nghĩa vận động lên tấn công mạn sườn quân Anh, song nhưng mưu
toan phòng ngự tích cực này được thực hiện một cách không có kế hoạch chung,
không liên lạc với nhau và không có khí thế cho nên chẳng đi đến kết quả gì
[6;417,418].
Rạng sáng ngày 14/9, năm toán quân Anh mở cuộc tấn công. Một toán ở
sườn phải, có nhiệm vụ giao chiến với toán Xipay ở cổng thành Cabun và nếu
như thắng lợi thì tấn công thành Laho. Đánh vào một đột phá khẩu là một toán,
một toán có nhiệm vụ đánh vào cổng thành Casơmia để phá cổng, một toán nữa
được làm quân dự bị. Hoạt động của tất cả các toán quân ấy trừ toán thứ nhất
đều thu được thắng lợi. Các đột phá khẩu được bảo vệ tương đối yếu nhưng
càng đi sâu vào quân khởi nghĩa chiến đấu càng ngoan cường. Trong đợt tấn
công vào cổng thành Casơmia nhờ có sự dũng cảm của một sĩ quan Anh và ba
trung sĩ công binh nên đã phá tung được cổng thành do đó quân Anh đã tràn
được vào thành phố. Đến chiều, toàn bộ khu vực phía Bắc đã nằm trong tay
quân Anh. Theo chỉ huy của tướng Uyn-xơn (quân Anh) đã ngừng tiến công ở
đây, những cuộc tấn công lộn xộn được đình chỉ, các toán quân, các khẩu đại
bác được bố trí lại và bắt đầu nã liên tục vào các cứ điểm mạnh trong thành phố.
Đến đây, quân khởi nghĩa chống cự yếu ớt và lũ lượt rời bỏ thành phố trong tình
trạng hoang mang khủng hoảng về tinh thần. Tuy nhiên quân Anh cũng phải rất
thận trọng khi tiến vào thành phố. Sau ngày 17/9, hầu như quân Anh không gặp

18
phải sự kháng cự nào và hoàn toàn chiếm lĩnh thành phố vào ngày 20 [6;418].
Sau khi chiếm được thành phố, quân Anh ra sức tàn sát quân khởi nghĩa và quần
chúng nhân dân còn lại trong thành. Cuộc chiến đấu của nhân dân Đêli rất dũng
cảm, như K.Mac đã viết: “ Phải thừa nhận rằng, cuối cùng quân khởi nghĩa với
lực lượng chủ yếu của mình đã làm tất cả những gì có thể làm được trong tình

phong kiến đã dao động, muốn thỏa hiệp và đầu hàng. Bọn chúng chống lại kịch

19
liệt. Cuối cùng, cuộc xung đột vũ trang giữa quân đội của Acmet và phái phong
kiến nổ ra vào tháng 1/1858, quân đội Acmet bị thua, ông bị bắt. Mâu thuẫn,
chém giết lẫn nhau làm suy yếu hẳn lực lượng kháng chiến. Ngày 23/2/1858,
quân Anh từ Cancutta kéo đến tấn công và tiến sát Lắc-nao. Tình thế rất nguy
ngập, bọn sĩ quan phong kiến tỏ ra hoàn toàn bất lực. Nhân dân và quân Xipay
đấu tranh đòi thả Acmet. Ra khỏi tù, Acmet trở lại vị trí lãnh đạo không cứu vãn
được tình thế vì quân khởi nghĩa ở Lắc-nao đã quá suy yếu. Số lượng nghĩa quân
còn rất đông (khoảng 30.000 quân Xipay và khoảng 60.000 quân tình nguyện
gồm nông dân và thợ thủ công) nhưng trang bị kém tổ chức rời rạc nên không
thể tấn công được [9;72].
Vào đầu tháng 3/1858, quân Anh với một lực lượng binh lực hùng mạnh
“chưa hề thấy từ trước tới nay ở Ấn Độ” như Ănghen nhận xét (70.000 quân) đã
tiến đánh Lắc-nao. Trong suốt hai tuần lễ chúng đã ra sức bắn giết, cướp bóc,
nhân dân rất man rợ nhưng không đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân rút
khỏi Lắc-nao tiến hành cuộc chiến tranh du kích do Acmet lãnh đạo. Chẳng bao
lâu sau Acmet, bị bọn phong kiến phản bội giết hại, nghĩa quân mất một vị chỉ
huy tài giỏi nên nhanh chống tan rã. Đến giữa năm 1858, sau khi dùng một lực
lượng lớn có kỵ binh yểm hộ và sự giúp sức của bọn phong kiến phản bội, quân
đội Anh đã đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa ở Au-đơ.
* Những cuộc chiến đấu cuối cùng
Sau khi Lắc-nao bị chiếm, cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ chuyển
thành cuộc chiến tranh du kích, phát triển mạnh mẽ ở vùng Au-đơ và miền
Trung Ấn, quân du kích bao gồm tàn quân của Nan Xahip ở Can-pua, các lực
lượng ở Đêli kéo về hoạt động dưới sự lãnh đạo chung của một vị chỉ huy có tài
là Tan-chi-a Tô-pi.
Trong giai đoạn cuối của cuộc khởi nghĩa, Gian-xi trở thành trung tâm
kháng chiến của miền Trung Ấn Độ. Látmi bai một phụ nữ trẻ can đảm có tài

mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của thực dân Anh, gây tổn thất nặng nề về cả
người và của cho thực dân Anh. Làm chậm lại quá trình xâm lược của thực dân
Anh ở châu Á và một số khu vực khác trên thế giới.
1.2.3 Tính chất, nguyên nhân thất bại và ý nghĩa
* Tính chất
Ngay từ lúc mới bùng nổ, cuộc khởi nghĩa năm 1857 - 1859 không phải chỉ
là một cuộc binh biến của lính Xipay trong quân đội Anh mà “thực sự là một
cuộc khởi nghĩa nhân dân”. Một nhà quan sát người Anh cũng phải thừa nhận
rằng “đó không phải là một cuộc phiến loạn vũ trang, ngay từ đầu phong trào
ngày càng có tính chất một cuộc khởi nghĩa. Nó đã thu hút được đông đảo quần
chúng nhân dân tham gia chứ không phải chỉ tập hợp những người lính Xipay.
Chúng ta không tiêu diệt được kẻ thù, không cướp được súng đại bác của họ, họ
luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Chúng ta vừa mới giải vây được một thành phố lại
phải đi cứu viện cho thành phố thứ hai và sự nguy hiểm lại bất chợt với thành
phố thứ ba. Chúng ta vừa khuất phục được một vùng thì khởi nghĩa lại bùng nổ
ở vùng bên cạnh” [9;73,74].

21
Đúng như vậy, cuộc khởi nghĩa năm 1857 - 1859 ở Ấn Độ có tính chất
quần chúng rộng lớn. Xipay là lực lượng vũ trang chủ yếu, song động lực chính
của cuộc khởi nghĩa là nông dân và thợ thủ công. Mục tiêu đấu tranh của họ là
đánh đuổi thực dân cướp nước, đồng thời cũng chống lại ách thống trị phong
kiến đè nặng lên họ. Tuy nghĩa quân chỉ chống bọn Đaminđa, bọn địa chủ tay
sai của thực dân Anh nhưng trong thực tế cuộc đấu tranh nhằm chống lại mọi sự
bóc lột phong kiến. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong cuộc đấu tranh của vùng
Đêli và Auđơ, cuộc khởi nghĩa ở đây mang tính chất của một cuộc chiến tranh
nông dân. Nguyện vọng và mục đích đấu tranh của nhân khác hẳn mục đích của
một số phần tử phong kiến, quý tộc tham gia cuộc khởi nghĩa. Họ chỉ muốn lợi
dụng sức mạnh của quần chúng để khôi phục lại địa vị và quyền lợi của họ bị
tước đoạt trước đây. Vì vậy, mặc dù cùng đứng trong hàng ngũ nghĩa quân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status