BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẤY BẮC
PHẠM THỊ NGA
XÂY DỰNG MỘT SỐ MẪU BỘ XƯƠNG THUỘC LỚP THÚ
PHỤC VỤ GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP TẠI KHOA SINH - HÓA,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy giáo, Thạc sĩ – Phạm Văn
Anh, người đã hướng dẫn tận tình tôi trong thời gian thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo phòng thực hành động vật – sinh thái, Ban
chủ nhiệm khoa Sinh - Hóa và các cô phụ trách thư viện đã tạo điều kiện tốt nhất cho
tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng KHCN & HTQT - Trường Đại học Tây Bắc
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên K50 ĐHSP Sinh hóa trường Đại học Tây
Bắc đã giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình cho tôi trong suốt thời gian qua.
Khóa luận đã hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận
của tôi được hoàn thiện hơn.
Sơn La , tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện Phạm Thị Nga
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1. Các bước tiến hành làm bộ xương thú 18
1.1. Nguyên tắc cần đảm bảo 18
1.2. Cách xây dựng mẫu bộ xương thú 18
2. Bảo quản và trưng bày mẫu 24
2.1. Bảo quản 24
2.2. Trưng bày 24
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 25
1. Kết luận 25
2. Kiến nghị 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
BẢNG VÀ HÌNH ẢNH
BẢNG
Bảng 1. Các chỉ số đo trong định loại mẫu thú 5
Bảng 2. Danh sách thành phần loài thú 7
HÌNH ẢNH
Hình 1: Cách đo cơ thể thú…………………………… ………………………….5
Hình 2: Hình dạng ngoài của Chuột nhà (Rattus rattus flavipectus) …… …….7
Hình 3: Hình dạng ngoài của Thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus)……………… ….9
Hình 4: Hình dạng ngoài của Mèo nhà (Felis bengalensis) 10
Hình 5: Bộ xương Chuột nhà (Rattus rattus flavipectus)…………………… ……14
Hình 6: Bộ xương Thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus)…………………………… 16
Hình 7: Bộ xương Mèo nhà (Felis bengalensis)………………………………… 17
Hình 8: Cách loại bỏ da thú……………………………………………….………19
cứu là rất lớn, tuy nhiên số lượng mẫu tại phòng thực hành Bộ môn Động vật – Sinh
thái, khoa Sinh – Hóa, trường Đại học Tây Bắc chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu học
tập, nghiên cứu của sinh viên cũng như yêu cầu giảng dạy, việc có thêm các mẫu bộ
xương là cần thiết, đặc biệt là những mẫu bộ xương thú mà Phòng thực hành Động
vật - Sinh thái chưa có. Vì vậy việc có mẫu bộ xương là rất cần thiết, nhất là bộ
xương thú.
Từ những lí do trên tôi đã chọn và thực hiện đề tài: "Xây dựng một số mẫu bộ
xương thuộc lớp Thú phục vụ giảng dạy và học tập tại khoa Sinh - Hoá, trường
Đại học Tây Bắc". 2
2. Mục tiêu - nhiệm vụ của khóa luận
2.1. Mục tiêu
Mô tả qua đặc điểm hình thái ngoài và đặc điểm bộ xương của một số loài Thú
tiến hành xây dựng mẫu xương.
Xây dựng, bảo quản và trưng bày mẫu bộ xương của một số loài Thú.
2.2. Nhiệm vụ
Thu thập nguồn tài liệu liên quan đến khóa luận như: đặc điểm hình thái,
phân bố, cấu tạo trong đặc biệt là về bộ xương thú, các tài liệu dùng trong định
loại nhóm thú, các tài liệu về xây dựng mẫu bộ xương động vật và trưng bày mẫu.
Tiến hành thu mẫu và lựa chọn mẫu theo những phương pháp phù hợp, xử lí
mẫu ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm.
Tiến hành định loại, mô tả một số mẫu thú trong phòng thí nghiệm.
Tiến hành làm mẫu một số bộ xương, bảo quản, trưng bày mẫu trong phòng thí
nghiệm.
3. Lược sử nghiên cứu
3.1. Sơ lược về tình hình nghiên cứu thú ở Việt Nam
Bắt đấu từ thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu thú ở Việt Nam đã có nhiều,
Petelot đã tập hợp được trên 50 tài liệu, điều đó tạo ra sự chú ý của các nhà khoa học
sử dụng trong các buổi học thực hành Động vật có xương sống của các trường phổ
thông và các trường Đại học, Cao đẳng như:
Chuột nhà (Rattus rattus flavipectus) thuộc bộ Gậm nhấm (Rodentia)
Thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus) thuộc bộ Thỏ (Lagomorpha)
Mèo nhà (Felis bengalensis) thuộc bộ Ăn thịt (Carnivora)
4.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu
Khóa luận tiến hành từ tháng 09/2012 - 5/2013. Thời gian được phân bố cụ thể
như sau:
- Từ tháng 09/2012 - 10/2012: lập đề cương nghiên cứu, thu thập và nghiên cứu
tài liệu.
- Từ tháng 10/2012 - 04/2013: thu mẫu, lựa chọn mẫu, xử lí mẫu, định loại mẫu
vật, làm mẫu bộ xương và trưng bày mẫu.
- Từ tháng 04/2013 - 05/2013: hoàn thành và bảo vệ khóa luận.
* Địa điểm nghiên cứu:
Điạ điểm sưu tầm mẫu: tại các chợ thuộc thành phố Sơn La như chợ Chiềng
Sinh, chợ Cấp Hai, chợ Trung tâm thành phố Sơn La, chợ 7- 11,…
Địa điểm phân tích và xử lí mẫu: tại phòng thực hành Bộ môn Động vật – Sinh
thái, khoa Sinh – Hóa, trường Đại học Tây Bắc.
5. Tư liệu nghiên cứu
Khóa luận đã tiến hành nghiên cứu và phân tích tổng số 11 cá thể thú và các tài
liệu tham khảo có liên quan.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
* Thu thập tài liệu
Thu thập tất cả các tài liệu có liên quan đến khóa luận:
- Mô tả đặc điểm hình thái ngoài và bộ xương của lớp Thú.
- Làm tiêu bản xương động vật có xương sống.
4
Đối với thú làm chết bằng cách cắt các động mạch lớn cho máu chảy ra càng
nhiều càng tốt. Ngoài ra còn một số phương pháp khác như bóp ngạt, nhiệt độ
* Đo kích thước ngoài của thú
- Các chỉ số đo trong định loại mẫu thú.
5
Bảng 1. Các chỉ số đo trong định loại mẫu thú
- Trong quá trình định loại, chúng tôi dựa vào các tài liệu: Trần Kiên - Trần
Hồng Việt (2009), Trần Hồng Việt – Nguyễn Hữu Dực – Lê Nguyên Ngật (2004) để
xác định các chỉ số đo trong định loại mẫu thú. Sau đây là cách đo cơ thể thú:
Hình 1: Cách đo cơ thể thú * Gỡ xương
- Loại bỏ các sản phẩm phụ của da (lông, móng ) của thú.
- Lấy đi toàn bộ nội quan trong xoang ngực, xoang bụng.
Các chỉ số đo (tính bằng cm)
Chiều dài thân (đo từ mút mỗm đến gôc đuôi)
DT
Chiều dài đuôi (đo từ gốc đuôi đến mút đuôi)
DĐ
Chiều dài bàn chân sau (đo từ gót chân đến mút ngón chân dài nhất (không
kể móng và vuốt))
BCS
- Sau thời gian nhất định đem bộ xương ra phơi nắng, nếu bị mốc cần rửa bằng
ét - xăng, lau bằng bàn chải mềm…
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác học
tập nghiên cứu của giảng viên, sinh viên chuyên ngành Sinh học, thuộc trường Đại
học Tây Bắc và độc giả quan tâm.
Cung cấp quy trình xây dựng mẫu bộ xương thú tương đối hoàn chỉnh. Đồng
thời cung cấp mẫu bộ xương cho Phòng thực hành Động vật – Sinh thái, khoa Sinh –
Hóa, trường Đại học Tây Bắc.
7
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NGOÀI, BỘ XƯƠNG
CỦA MỘT SỐ LOÀI THÚ
1. Danh sách một số loài thú đã xây dựng bộ xương
Trong quá trình thực hiện khóa luận tôi đã lựa chọn được 11 mẫu thuộc 3 loài
để xây dựng bộ xương, thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2. Danh sách thành phần loài thú
Stt
Tên khoa học
Tên Việt Nam
Số mẫu đã
làm
Số mẫu bộ xương
hoàn thiện
1
Rattus rattus flavipectus
Cơ thể Chuột nhà chia làm 4 phần: đầu, cổ, thân, đuôi.
* Phần đầu
Chia làm 2 phần: mặt ở trước mắt và sọ ở sau mắt.
- Mặt nhô ra phía trước thành mõm, miệng nằm dưới mút mõm.
- Trước miệng là đôi môi: môi dưới không phân thùy, môi trên xẻ rãnh ở giữa
và mang nhiều ria mép (là những lông xúc giác cứng). Loại lông này còn mọc cả ở
mặt, má, bàn chân
- Hàm trên và hàm dưới mỗi hàm có 1 đôi răng cửa lớn, đỉnh vát nhọn, thuộc
loại răng cao.
Chuột thiếu răng nanh cả ở 2 hàm, nên từ răng cửa đến dãy răng hàm là khoảng
trống răng. Răng cửa luôn bị mài mòn nhưng răng liên tục mọc dài bù lại và suốt đời
không thay thế. Răng hàm lớn có bề mặt rộng và bằng, trên có nhiều gờ tù hay gờ
men uốn khúc.
- Trên thềm miệng có lưỡi dài, là một khối cơ linh hoạt, có vai trò đảo, nuốt
thức ăn.
- Phía trên mõm có 2 lỗ mũi ngoài, lùi xa sau mõm là 2 mắt nằm 2 bên đầu. Mắt
nhỏ, tròn và có màu đen. Mắt có 3 mí nhưng mí thứ 3 tiêu giảm chỉ còn là mấu thịt
nằm ở góc trước mắt cùng với tuyến lệ.
- Tai chuột nằm 2 bên sọ, tai ngoài có vành tròn, tai tương đối lớn, khỏe, có khả
năng chuyển động nhiều phía nhưng không linh động.
* Phần cổ
Bên ngoài không thể hiện ranh giới giữa đầu và thân. Cổ không dài nhưng rất
linh hoạt, giúp đầu quay dễ dàng về mọi phía.
* Phần thân
- Thuôn dài hình trụ, gắn với tứ chi. Dọc hai bên bụng có nhiều đôi vú.
- Cuối thân có lỗ hậu môn ở gốc đuôi, trước hậu môn là lỗ niệu sinh dục.
- Chi thuộc kiểu 5 ngón điển hình, 2 chi trước nhỏ, ngắn có 4 ngón với móng
vuốt sắc nhọn, ngón I bị tiêu giảm. Do lối vận chuyển chạy và bò nên 2 chi sau lớn
hơn 2 chi trước không nhiều. Chi sau dài, khỏe và có đủ 5 ngón và vuốt sừng.
* Phần đuôi
thân và phủ lông xù. Đuôi của thỏ không có tác dụng nhiều đối với đời sống của thỏ.
10
2.3. Mèo nhà (Felis bengalensis) Hình 4: Hình dạng ngoài của Mèo nhà
Các chỉ số đo: DT = 38,8cm; DĐ = 22cm; BCS = 11cm; Ti = 6cm.
Bộ lông: dày, mềm, có nhiều màu sắc khác nhau chủ yếu là màu xám, trắng,
màu vàng.
Cơ thể Mèo nhà chia làm 4 phần: đầu, cổ, thân, đuôi.
* Phần đầu
Chia làm 2 phần: mặt ở trước mắt và sọ ở sau mắt, tương tự như Chuột
nhà chỉ khác:
- Hàm trên có 1 đôi răng nanh lớn, nhọn dùng để ngoạm chặt con mồi. Răng
hàm có gờ dẹp, sắc và răng cửa nhỏ. Đặc biệt răng trước hàm cuối ở hàm trên và
răng hàm lớn thứ nhất ở hàm dưới, lớn hơn cả gọi là răng ăn thịt.
- Mắt tròn, to, thường có màu vàng, màu xanh lá hoặc màu cam.
- Tai ngoài có góc nhọn, vành tai rất lớn, khỏe và chuyển động linh hoạt hơn tai
chuột rất nhiều. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao, các giống mèo có tai cụp rất hiếm.
* Phần cổ
Cổ ngắn nhưng linh hoạt.
* Phần thân
Các phần tương tự như Chuột nhà chỉ khác: chi trước và chi sau có kích thước
tương tự nhau. Móng vuốt cong và sắc nhọn. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt
được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng
không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi.
Bàn chân có lớp đệm dày giúp mèo giảm chấn động khi tiếp đất và để tránh gây
Xương ức: gồm 6 đoạn, đoạn đầu là cán xương ức, đoạn sau là mấu hình
kiếm.
- Phần thắt lưng: gồm 7 đốt lớn, có mấu gai và mấu ngang đều dẹp bên và
hướng về trước.
- Phần chậu: gồm 4 đốt gắn với nhau thành tấm, đốt sống cùng I, II có mấu
ngang lớn khớp với xương hông.
- Phần đuôi: gồm 25 – 28 đốt, các đốt trước có cấu tạo điển hình, các đốt sau
các bộ phận cung, gai, mấu bên tiêu giảm.
* Xương sọ: gồm sọ não và sọ tạng.
Sọ não: gồm 4 vùng: vùng nóc, vùng chẩm, vùng bên, vùng đáy.
12
- Vùng nóc: phủ kín xương bì, từ trước ra sau vẫn gồm 2 xương mũi, 2 xương
trán, 2 xương đỉnh, khác với các lớp trước thú có thêm xương gian đỉnh nằm trung
gian giữa xương đỉnh và xương chẩm giúp sọ rộng hơn do não bộ phát triển lớn.
- Vùng chẩm: gồm 4 xương chẩm gắn liền thành khối. Xương gốc chẩm và
xương bên chẩm cũng tạo thành lồi cầu chẩm.
- Vùng bên sọ: từ trước ra sau phía trên có xương mũi, xương chán, xương đỉnh,
xương gian đỉnh. Phía dưới: trước ổ mắt là xương lệ và xương gò má tạo nên
thành trước ổ mắt, sau ổ mắt là xương vảy lớn, có mấu vảy khớp với xương gò
má tạo thành cung gò má, tất cả là xương bì. Các xương gốc sụn vùng xương
sang bị che khuất chỉ còn nhìn thấy xương ổ mắt bướm, xương cánh bướm phía
trước, xương đá tai, xương bầu nhĩ và xương chẩm phía sau.
- Vùng đáy: từ sau ra trước ta nhin thấy xương trên chẩm, 2 xương bên chẩm,
xương gốc chẩm bao quanh lỗ chẩm. Hai bên xương gốc chẩm là 2 xương bầu nhĩ
bao bọc ống tai ngoài và tai giữa. Trước xương gốc chẩm là xương gốc bướm. Tất cả
đều là xương gốc sụn, trước các xương gốc sụn này có xương trước bướm và xương
lá mía là 2 xương bì.
- Sọ tạng: cung móng cung mang tiêu giảm, cung hàm rất phát triển chỉ để lại
sụn móng nâng đỡ lưỡi, cung hàm rất phát triển.
tay đều là khớp động, tạo cho bàn tay linh động hơn nhiều.
Ngón tay: có 5 ngón, ngón I có 1 đốt, các ngón khác có 2 đốt, đốt cuối ở mút
ngón có móng sừng.
- Chi sau
+ Đai hông: gồm 3 xương: xương hông, xương háng, xương ngồi gắn chặt
thành khối xương chậu vững chắc. Chỗ 3 xương giáp nhau lõm thành hố khớp của
xương đùi. Giữa xương hang và xương ngồi có lỗ bít. Chỗ 2 xương hang tiếp nhau ở
phía trước có sụn tiếp hợp hang, có thể tách ra khi đẻ con. Hai xương chậu khớp với
cột sống do mấu ngang của 2 đốt sống cùng đầu tiên.
+ Xương chi sau: gồm 5 phần đùi, ống chân, cổ chân, bàn chân, ngón chân.
Đùi: 1 xương ống dài, đầu trên có lồi cầu khớp với xương chậu, đầu dưới có
mấu lồi ròng rọc khớp với xương chày.
Ống chân: gồm xương chày rất lớn, xương mác tiêu giảm thành 1 que mảnh
gắn vào đầu trên của xương chày. Khớp đùi ống là khớp bán động, phía trước có
xương bánh chè giữ cho chân không gập ngược ra đằng trước. Ống chân đầu dưới
khớp với xương sên và xương gót của cổ chân.
Cổ chân: có 6 xương, xếp thành 2 hàng, hàng gần khớp với xương ống chân
có 2 xương lớn là xương sên và xương gót. Xương gót phía sau kéo dài thành mấu
gót, trước nó là xương trung tâm, hàng xa có 2 xương chêm bên trong và 1 xương
hộp bên ngoài.
Bàn chân: có 5 xương.
Ngón chân: có 5 ngón, ngón I có 1 đốt, các ngón khác có 2 đốt, đốt cuối ở
mút ngón có móng sừng.
14 Hình 5: Bộ xương Chuột nhà (Rattus rattus flavipectus)
1. Đốt sống cổ 10. Xương mác 19. Mấu quạ
14
15
16
17
18
19
20
22
21
23
24
25
26
15
- Phần cổ: gồm 7 đốt, 2 đốt đầu phân hóa thành đốt chống và đốt trục. Các đốt
cổ còn lại không mang sườn tự do.
- Phần ngực: gồm 12 đốt đều có mang sườn. Các đốt ngực có mấu gai dài, mấu
ngang lớn và ngắn. Xương sườn: gồm 12 đôi, 7 đôi sườn thực và 5 đôi sườn giả.
Xương ức: gồm 6 đoạn, đoạn đầu là cán xương ức, đoạn sau là mấu hình kiếm.
- Phần thắt lưng: gồm 7 đốt lớn, có mấu gai và mấu ngang đều dẹp bên và
hướng về trước.
- Phần cùng: gồm 4 đốt gắn với nhau thành tấm, đốt sống cùng I, II có mấu
ngang lớn khớp với xương hông.
Phần đuôi: gồm 15 – 17 đốt, các đốt trước có cấu tạo điển hình, các đốt sau các
bộ phận cung, gai, mấu bên tiêu giảm.
* Xương sọ: Cấu tạo hộp sọ của Thỏ nhà giống với cấu tạo của Chuột nhà, tuy nhiên
xương hàm dưới của thỏ rất phát triển, đặc biệt có phần chồi cánh phát triển.
- Sọ não: gồm 4 vùng: vùng nóc, vùng chẩm, vùng bên, vùng đáy. Cấu tạo
tương tự Chuột nhà chỉ khác:
6. Đốt sống đuôi 15. Xương sườn 24. Xương bàn tay
7. Xương ngồi 16. Xương bả 25. Xương ngón tay
8. Xương đùi 17. Xương ức 26. Xương sọ
9. Xương chày 18. Xương đòn
3.3. Mèo nhà (Felis bengalensis)
Bộ xương cũng gồm 3 phần: xương trục, xương sọ và xương chi.
* Xương trục
Xương trục chia thành 5 phần: cổ, ngực, thắt lưng, chậu, đuôi.
- Phần cổ: gồm 7 đốt, 2 đốt đầu phân hóa thành đốt chống và đốt trục.
- Phần ngực: gồm 13 đốt đều có mang sườn. Các đốt ngực có mấu gai dài, mấu
ngang lớn và ngắn. Xương sườn: gồm 13 đôi, 9 đôi sườn thực và 4 đôi sườn giả.
Xương ức: gồm 8 đoạn, đoạn đầu là cán xương ức, đoạn sau là mấu hình kiếm.
- Phần thắt lưng: gồm 7 đốt lớn.
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
6. Đốt sống đuôi 15. Xương sườn 24. Xương bàn tay
7. Xương ngồi 16. Xương bả 25. Xương ngón tay
8. Xương đùi 17. Xương ức 26. Xương sọ
9. Xương chày 18. Xương đòn
1
2
3
4
6
5
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
xương quạ, xương bả…
Bước 2. Loại bỏ da
Tùy thuộc kích thước từng loại thú mà có những cách loại bỏ da phù hợp. Đối
với những loài Thú có kích thước nhỏ như Chuột nhà, … ta chỉ cần cắt một đường
cách hậu môn 1cm sau đó dùng kéo cắt một đường thẳng ngược lên cổ (chú ý vừa
cắt vừa nâng mũi kéo lên tránh làm ảnh hưởng đến phần xương ở bên trong), sau đó
lột da từ phía bụng lên đến lưng. Tiếp theo dùng tay kéo ngược lớp da từ phía dưới
lên đến đỉnh đầu.
Đối với những loài Thú có kích thước lớn hơn như Thỏ nhà, Mèo nhà…ta tiến
hành theo các bước sau:
19
- Loại bỏ da: Sử dụng panh, kéo và dao lam để loại bỏ phần da.
Hình 8: Cách loại bỏ da thú
Cắt một đường cách hậu môn 1cm sau đó rạch một đường thẳng ngược lên cổ,
và tới các chi như hình trên.
Lột da ở cổ và đầu: cắt 1 đường vòng quanh cổ. Rạch một đường hình chữ thập
(từ cổ đến đỉnh đầu và xuống đến mũi) chia da đầu thành 4 phần để dễ tách. Dung
dao lam loại bỏ toàn bộ lớp da đầu đồng thời cắt bỏ vành tai ngoài đến tận gốc.
Lột da phần thân và phần chi: lột da phần thân ta tiến hành lột da từ phía bụng
lên đến lưng. Lột da chân thì ta cắt 1 đường thẳng xuống tận ngón chân sau đó
dùng dao lam tách dần lớp da ra khỏi cơ thể.
Lột da đuôi: cắt 1 đường thẳng xuống mút đuôi, sau đó kéo ngược lớp da xuống
dưới.
Tuy nhiên để thuận tiện cho việc loại bỏ lớp da ta có thể làm sạch phần lông
bên ngoài (nếu có) bằng cách pha nước ấm với tỉ lệ: 4 nước nóng với 1 nước lạnh.
Nhúng mẫu vào nước đã pha để dễ làm sạch. Thời gian nhúng khoảng 2 - 3 phút tùy
theo kích thước. Sau đó làm sạch lông, chú ý làm sạch theo chiều xuôi cơ thể.
Lưu ý: Nếu nhúng vào nước quá nóng sẽ làm nát da, nước không đủ nóng sẽ làm