BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN VĂN ĐÔNG
TÌM HIỂU VỀ THÀNH NGỮ
TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Tây
Bắc, phòng Quản lý khoa học, phòng Đào tạo, các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ
văn cùng các phòng ban chức năng đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
thầy cô và các bạn độc giả, để cho khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tác giả
Trần Văn Đông
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
tr
trang
CV
chủ-vị
CVB
chủ-vị-bổ
Đ-T
đề-thuyết
C-P
chính-phụ
Nxb
Nhà xuất bản
NNH
Ngôn ngữ học
MỤC LỤC
1.3.4. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 16
CHƯƠNG 2: NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU 20
2.1. Nguyễn Du 20
2.1.1. Tiểu sử cuộc đời 20
2.1.2. Con người 21
2.1.3. Sự nghiệp sáng tác 21
2.1.3.1. Tác phẩm chữ Hán 22
2.1.3.2. Tác phẩm chữ Nôm 22
2.2. Truyện Kiều 23
2.2.1. Vị trí của Truyện Kiều trong sáng tác của Nguyễn Du 23
2.2.2. Vị trí của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc và thế giới 24
2.2.2.1. Vị trí của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc 24
2.2.2.2. Vị trí của Truyện Kiều với văn học thế giới 25
CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI CÁC ĐƠN VỊ THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN
KIỀU 27
3.1. Thành ngữ đối 27
3.1.1. Thành ngữ đối bốn yếu tố 27
3.1.2. Thành ngữ đối 6 yếu tố. 33
3.2. Thành ngữ so sánh 33
3.3. Thành ngữ thường 34
CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁCH SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG
TRUYỆN KIỀU 37
4.1. Đặc điểm 37
4.1.1. Đặc điểm hình thức của thành ngữ trong Truyện Kiều 37
4.1.1.1. Tính cố định 37
4.1.1.2. Tính hài hoà cân đối 38
4.1.1.3. Phương thức cấu tạo 41
4.1.2. Đặc điểm nội dung của thành ngữ trong Truyện Kiều 43
4.1.2.1. Khái quát 43
4.1.2.2. Tính biểu trưng và tính hàm súc 43
Thành ngữ là một tài sản quý báu. Nói cách khác, thành ngữ được sáng tạo trong
quá trình sinh hoạt quần chúng. Vì thế, chúng thường xuất hiện trong môi
trường dân dã. Tất cả các đặc điểm trên làm cho thành ngữ trở thành một đối
tượng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu không chỉ ở ngành ngôn ngữ học mà còn
ở nhiều ngành khác như: dân tộc học, văn hóa, Nghiên cứu thành ngữ cũng là
một công việc có đóng góp rất lớn trong việc miêu tả ngôn ngữ, so sánh, đối
chiếu các ngôn ngữ với nhau. Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã vận dụng khá
thành công thành ngữ trong việc khắc họa hình ảnh nhân vật, miêu tả cuộc sống
hiện thực lúc bấy giờ.
Từ trước tới nay, có nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ, nhưng rất
ít người nghiên cứu về thành ngữ trong Truyện Kiều. Chúng tôi đã tìm hiểu
trên internet, báo chí, sách nghiên cứu, những đầu sách ngữ pháp, từ loại,
thành ngữ có rất nhiều nhưng liên quan đến thành ngữ trong Truyện Kiều thì
rất ít. Chúng tôi chỉ tìm thấy một số bài viết, tài liệu liên quan đến thành ngữ
trong Truyện Kiều mang tính khái quát. Trong khi đó, cách sử dụng thành ngữ
2
của tác giả lại chưa được chú ý đúng mức. Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề
tài cho khóa luận của mình là: “Tìm hiểu về thành ngữ trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du”.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt nói chung có thể nói đến giai đoạn
hiện nay đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Công trình nghiên cứu đầu
tiên trong tiếng Việt là về “Tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh được công bố
vào năm 1921. Tuy nhiên, đến những năm 60 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu
thành ngữ mới có cơ sở khoa học nghiêm túc. Cái mốc quan trọng trong việc
nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là việc xuất bản từ điển “Thành ngữ tiếng
Việt” (1976) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang. Công trình này tuy còn chưa
bao quát được hết tất cả các thành ngữ trong tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp
cho các nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến vấn đề này một tài liệu bổ
Trong khóa luận này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo,
đặc điểm ngữ nghĩa của những thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu tình hình và xu hướng vận dụng của
các thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
3.3. Mục đích
Tìm hiểu vốn thành ngữ của dân tộc là việc làm vô cùng bổ ích. Thực hiện
đề tài này giúp cho người đọc và bản thân người viết thu nhận được một vốn
hiểu biết sâu sắc hơn về thành ngữ, đồng thời thấy được giá trị, ý nghĩa biểu đạt
của thành ngữ trong sáng tác văn chương. Và đặc biệt quan trong hơn khi giúp
người viết khám phá ra nét đặc sắc của việc sử dụng thành ngữ trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du. Từ đó nhận ra được những đóng góp của tác giả này đối
với kho tàng ngôn ngữ dân tộc trên con đường hiện đại hóa.
3.4. Nhiệm vụ của đề tài
Bước đầu làm rõ đặc điểm kết cấu, ngữ nghĩa của các thành ngữ trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Chỉ ra những sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng thành ngữ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi thực hiện một số phương
pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê, phân loại: Nhằm tổng hợp những thành ngữ được
sử dụng trong Truyện Kiều.
Phương pháp phân tích: Nhằm phân tích những đặc điểm cấu tạo, đặc điểm
ngữ nghĩa của một số thành ngữ trong Truyện Kiều.
Phương pháp bình luận: Nhằm làm sáng tỏ và đánh giá tài năng của
Nguyễn Du trong việc sử dụng thành ngữ.
Phương pháp đối chiếu, so sánh theo khuôn mẫu cấu trúc thành ngữ. 4
5. Đóng góp của đề tài
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Ngữ cố định
1.1.1. Khái niệm
Ngữ cố định là một cụm từ ( ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu
tạo là cấu tạo của cụm từ ) nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt
chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ.
Ví dụ: Kén cá chọn canh [34, 384] ; Ăn vóc học hay [34, 38]
1.1.2. Đặc trưng
a. Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều
có tính thành ngữ. Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: Cho một tổ hợp có
nghĩa S do các đơn vị A, B, C mang nghĩa lần lượt S[1], S[2], S[3] tạo nên
nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa S[1], S[2], S[3] thì tổ
hợp A, B, C có tính thành ngữ.
Tính thành ngữ có mức độ từ thấp tới cao khác nhau. Ba hoa tinh tướng
[34, 45] có tính thành ngữ thấp hơn Ba chìm bảy nổi [34, 43] nhưng Ba chìm
bảy nổi có tính thành ngữ thấp hơn Ba cọc ba đồng [34, 43]
b. Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa nói chung. Thực ra trong các
ngữ cố định, có nhiều ngữ có cấu tạo là các câu như: chuột sa chĩnh gạo [34,
184], Cha truyền con nối [34, 123], Chó ngáp phải ruồi [34, 171] thậm chí có
hình thức cấu tạo là câu ghép: Đâm bị thóc chọc bị gạo [34, 285], Ăn cơm nhà
vác tù và hàng tổng [34, 19] vv.
Tiêu chí cơ bản để xác định các thành ngữ cố định là tính tương đương với
từ của chúng về chức năng tạo câu. “Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với
từ không phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc như từ mà còn vì ở trong
câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ
để tạo câu”[2, 73].
c. Những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do là các trường
1.2.1. Khái niệm
Thành ngữ là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu và đưa ra
những khái niệm khác nhau, theo những hướng nhìn và khía cạnh khác nhau:
Các nhà Việt ngữ học, khi nghiên cứu thành ngữ, không phải ai cũng đưa ra
được những quan điểm đầy đủ và rõ ràng, thậm chí có tác giả còn cho rằng
thành ngữ là tục ngữ. Chẳng hạn Nguyễn Văn Tố trong bài Tục ngữ ta đối với
tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây đã viết: "Tục ngữ là những câu thành ngữ nói đã
quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thuý, ý tứ sâu xa, câu nào từ đời xưa
truyền lại gọi là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn. Nhưng dù là ngạn ngữ, tục
ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau ". [32, 105]
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các nhà Việt ngữ học đã dần dần có
được quan niệm ngày càng hoàn thiện hơn về thành ngữ, và mặc dù còn nhiều
điểm khác nhau giữa các quan niệm nhưng các tác giả đều chỉ ra được ranh giới
giữa thành ngữ và tục ngữ.
7
Trong sách Việt Nam văn học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm đã đưa ra
quan niệm: "Thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt
một ý gì cho có màu mè". [13, 107]
Đến năm 1972, trong Tạp chí Ngôn ngữ [số 3], Nguyễn Văn Mệnh lại coi
"Thành ngữ là đơn vị có nội dung bên trong miêu tả hình ảnh của các hiện
tượng cũng như hành động và quan hệ". Hay trong bài Về ranh giới giữa thành
ngữ và tục ngữ, ông đã chỉ ra một số nét riêng của thành ngữ như sau: "Về nội
dung thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một
nét tính cách, một thái độ Về hình thức ngữ pháp, nói chung thành ngữ chỉ là
một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh".[22, 72]. Tiếp tục hướng nghiên
cứu đó, năm 1986, ông lại đưa ra một khái niệm rõ ràng hơn: "Thành ngữ là một
loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, có chức
năng định danh và được tái hiện trong giao tế". [23, 43].
Còn Trương Đông San thì cho rằng: "Thành ngữ là những cụm từ cố định
ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật
hoặc để chỉ tính chất, hành động. Về mặt này, thành ngữ là những đơn vị tương
đương như từ”.[17, 69].
Nhìn chung, quan niệm về thành ngữ khá đa dạng và phức tạp. Các tác giả
đều cố gắng nêu lên quan niệm của mình về thành ngữ. Song qua đó chúng tôi
nhận thấy: khái niệm về thành ngữ đã ngày càng rõ nét hơn và có những điểm
thống nhất nhất định như:
+ Tính sẵn có của thành ngữ
+ Tính ổn định của tổ hợp từ gọi là thành ngữ
Sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu chủ yếu thể hiện ở điểm nhấn trong
từng quan niệm về cấu trúc hình thức, đặc tính ngữ nghĩa hoặc chức năng của
thành ngữ. Không tham vọng xây dựng một khái niệm mới về thành ngữ, ở khoá
luận này chúng tôi chỉ muốn thể hiện một hướng nghiên cứu về thành ngữ xuất
phát từ ngữ nghĩa của các thành tố tạo nên chúng. Chính vì vậy, chúng tôi chọn
một cách hiểu thông thường rút ra từ quan niệm của các nhà Việt ngữ học, cụ
thể chúng tôi coi: "Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định bền vững về hình
thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, thành ngữ là đơn vị có sẵn và
được sử dụng tương đương với từ trong giao tiếp ngôn ngữ".
1.2.2. Đặc điểm
Thành ngữ với tư cách là đơn vị có sẵn tương đương với từ có các đặc điểm
cơ bản như sau:
Tính ổn định về hình thức: Sự ổn định về hình thức của thành ngữ thể hiện
ở mặt cấu tạo, trật tự các thành tố trong thành ngữ.
Ví dụ: Há miệng mắc quai
Tính ổn định về hình thức là một tiêu chí cơ bản để xác định thành ngữ.
Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, thành ngữ cũng có thể có những biến đổi nhất
định nhằm tăng thêm giá trị biểu cảm như: "Tất bật như nhà có đám" có thể biến
9
đổi thành "Tất ba tất bật như nhà có đám" hay trường hợp "Đi guốc trong bụng"
học của Nguyễn Kim Thản (1962), Nguyễn Văn Tu (1968), Hồ Lê (1976), Đái
Xuân Ninh (1978), Đỗ Hữu Châu (1981), Cù Đình Tú (1981), Nguyễn Thiện
Giáp (1985), Hoàng Văn Hành (1993).
10
Khi phân loại thành ngữ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường dựa vào
những tiêu chí sau: Chức năng, ngữ nghĩa, hình thức.
Do mục đích nghiên cứu khác nhau nên kết quả phân loại cũng khác nhau.
Chúng tôi xin điểm lại một số kết quả phân loại chính như sau:
Đặt thành ngữ trong sự tương ứng với từ về mặt chức năng và khả năng
thay thế cho nhau, Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Các thành ngữ (có tính thành ngữ
cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn
có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương
với từ". [3, 86].
Đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từ ghép, Nguyễn
Thiện Giáp phân thành ngữ tiếng Việt thành hai loại:
+ Thành ngữ hợp kết.
+ Thành ngữ hoà kết.
Dựa vào ngữ nghĩa, Cù Đình Tú chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại:
+ Thành ngữ biểu thị sự vật.
+ Thành ngữ biểu thị hành động.
+ Thành ngữ biểu thị tính chất.
Xuất phát từ cách nhìn thành ngữ là một chỉnh thể cấu trúc hình thái ngữ
nghĩa, Nguyễn Công Đức chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại lớn:
+ Thành ngữ đối.
+ Thành ngữ so sánh.
+ Thành ngữ thường (không đối, không so sánh).
Như vậy, ranh giới giữa từng kiểu loại cụ thể được xác định tuỳ theo mục
đích nghiên cứu của từng tác giả. Nếu đi sâu vào từng kiểu nhỏ thì đường ranh
giới đó lại càng đa dạng và phức tạp hơn.
- Trắc trắc bằng bằng (gạn đục khơi trong)
- Trắc bằng bằng trắc (mặt chai mày đá)
- Bằng trắc trắc bằng (xôi hỏng bỏng không)
Trong cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Hoàng Văn Hành đã khái quát
đặc điểm cơ bản của thành ngữ đối được xây dựng qua hai bậc-bậc đối ý và bậc
đối lời. Đối ý là bậc đối ứng giữa hai vế của thành ngữ với nhau về mặt ý. Ví dụ,
Thành ngữ
Thành ngữ
đối
Thành ngữ
so sánh
Thành ngữ
thường
12
đó là sự đối ứng giữa đời cha ăn mặn và đời con khát nước trong thành ngữ đời
cha ăn mặn đời con khát nước. Quan hệ đối ứng về ý giữa hai vế của thành ngữ
này là: đời cha đã hưởng nhiều, hưởng hết, hưởng quá phần được hưởng thì đời
con phải chịu thiếu thốn, phải chịu thiệt thòi. Như vậy, nghĩa của thành ngữ đối
được xác lập chính là nhờ vào bậc đối ý này. Đối lời là quan hệ đối ứng giữa các
yếu tố xen cài trong hai vế của thành ngữ. Trong thành ngữ mẹ tròn con vuông,
sở dĩ ta nhận thấy quan hệ đối ý (sau khi sinh) mẹ khoẻ khoắn, vẹn toàn, con
lành lặn, kháu khỉnh là nhờ có quan hệ đối ứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn
với vuông.
Tóm lại, tuy các quan niệm về thành ngữ đối của các tác giả mà chúng tôi
liệt kê ở trên không có sự trùng khít với nhau nhưng vẫn có điểm đồng nhất: đều
khẳng định đặc điểm nổi bật của thành ngữ đối là tính chất đối ứng giữa các bộ
phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ (đối lời) và nhờ quan hệ đối ứng này mà
ta xác định được quan hệ đối ứng về ý của thành ngữ để từ đó suy ra ý nghĩa
của từng thành ngữ. Khoá luận này lấy quan niệm về thành ngữ đối như đã nêu
trúc, hoàn chỉnh về nghĩa, bắt nguồn từ phép so sánh. Hình tượng của thành
ngữ so sánh rất phong phú và sinh động, gần gũi và quen thuộc với người bản
ngữ, được đúc kết từ trong đời sống.
Đây là khái niệm riêng của khoá luận, nó được coi là cơ sở để chúng tôi
giải quyết nhiệm vụ mà khoá luận đã đề ra.
1.2.6. Thành ngữ thường
Thành ngữ thường chiếm một số lượng rất đáng kể trong "kho" thành ngữ
của bất kỳ một dân tộc nào. Với loại thành ngữ này, nếu không tập trung chú ý
thì dễ bị che lấp bởi các loại thành ngữ so sánh và thành ngữ đối. Chính vì vậy,
chúng ta thường thấy các nhà Việt ngữ học hoặc chỉ nghiên cứu thành ngữ nói
chung hoặc lấy các đặc điểm nổi trội của thành ngữ so sánh và thành ngữ đối
làm đối tượng nghiên cứu của mình. Kì thực thì thành ngữ thường là một loại
riêng, có con đường tạo lập nghĩa riêng và rất độc đáo.
Về hình thức, một bộ phận khá lớn các thành ngữ thường xuất hiện dưới
dạng một kết cấu chủ vị, nói chính xác hơn là tương đương với một câu trọn vẹn.
Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi
Gà què ăn quẩn cối xay
Nhìn một cách tổng quát thì thành ngữ thường chủ yếu được hình thành
bằng xu hướng cố định hoá câu và các cụm động từ. Nguyên nhân tạo nên xu
hướng này là do bản thân ngữ nghĩa của loại thành ngữ này quy định. Thành ngữ
thường hẳn là được hình thành nhờ vào sự quan sát sự vật, hiện tượng tự nhiên,
xã hội với một quá trình lâu dài được hình thành trong tư duy của con người,
làm nảy sinh những liên tưởng với những điều gần gũi, thân thuộc, bình dị trong
cuộc sống hàng ngày. Thông thường những liên tưởng đó phải viện đến một
hình thức cố định như kết cấu chủ vị hay cụm động từ (nòng cốt đóng vai trò vị
14
ngữ tính của câu). Nghĩa của thành ngữ thường nói chung tiềm ẩn những đặc
trưng, những tri thức văn hoá, lịch sử, khó có thể lý giải trên bề mặt câu chữ.
Ví dụ: Thả hổ về rừng
Khi đó quán ngữ sẽ mang tên theo chức năng cú pháp.
15
Ví dụ: Tình hình sách báo ở hải ngoại, nói chung, cũng có điểm đáng mừng.
Nằm ở giữa câu ý nghĩa không khác khi nằm ở đầu câu, nhưng quán ngữ
“nói chung” không có chức năng mở đầu câu nên không được gọi là “khởi ngữ”.
Ở đây nó có phận sự đưa đẩy. Vì thế nó được gọi là chuyển ngữ.
* Như vậy:
- Thành ngữ và quán ngữ đều là những nhóm từ quen dùng đối với mọi
người. Có thể có người không thích dùng nhưng nghe vẫn hiểu đúng ý.
- Thành ngữ luôn hàm ý so sánh, nhận xét, nặng về nội dung. Quán ngữ chỉ
mở ý, chuyển ý, nặng về hình thức.
- Về số lượng thành ngữ nhiều hơn quán ngữ gấp bội. Nhưng tính số lần
được dùng, thì quán ngữ được dùng nhiều hơn. Kiểm một cuốn sách khoảng 200
trang không chắc đếm được 20 thành ngữ, nhưng có thể đếm được cả trăm quán
ngữ mở đầu câu như “thật ra”; “nhìn chung”; “nói cho đúng”.
- Dịch một quán ngữ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt rất dễ. Nhưng không
dễ gì tìm được những thành ngữ đồng nghĩa trong hai thứ tiếng. Thường chỉ có
thể dịch theo ý.
1.3.3. Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Cả thành ngữ và cụm từ tự do đều là những tổ hợp do từ cấu tạo nên và
hoạt động với tư cách là những bộ phận cấu thành câu. Sự khác nhau giữa chúng
có thể được cụ thể hóa qua bảng sau:
Cụm từ tự do
Thành ngữ
Là một kết hợp tạm thời mỗi lần
dùng đều được cấu tạo mới và chỉ tồn
tại trong phạm vi một văn bản nhất
định. Những bộ phận cấu thành cụm
từ tự do có thể được thay thế bằng
nghĩa của nó bị phức tạp hóa nó biến thành thành ngữ.
1.3.4. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Trong giới Ngôn ngữ học có rất nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề phân biệt
thành ngữ và tục ngữ. Các ý kiến ấy xuất phát từ các cơ sở và tiêu chí phân loại
khác nhau.
Người đầu tiên đi tìm sự khác nhau giữa hai khái niệm này là nhà nghiên
cứu Dương Quảng Hàm. Trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” (1943), ông
cho rằng một câu tục ngữ tự nó có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ
bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng để diễn đạt một ý
gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè [13, 15].
Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vũ Ngọc Phan đã đưa ra quan niệm của
mình: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt một ý trọn vẹn, một nhận xét, một
kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành
ngữ là thành phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã
quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ
pháp mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là câu hoàn chỉnh, còn tục
ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh” [26, 31-32].
Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1972 có bài “Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ”
của tác giả Nguyễn Văn Mệnh. Tác giả bài báo có nhận xét rằng “ giữa thành
ngữ và tục ngữ có thể tìm ra những điểm khu biệt rõ ràng có ở cả hai phương
diện nội dung và hình thức”. Từ nhận xét “về nội dung thành ngữ giới thiệu
một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ”, còn
tục ngữ “ đi đến một nhận định cụ thể, một kết cấu chắc chắn, một kinh
nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng đạo đức ” tác giả
rút ra kết luận: “Có thể có nội dung của tục ngữ nói chung chỉ mang tính quy
luật. Từ sự khác nhau cơ bản nội dung đến sự khác nhau cơ bản về hình thức
17
ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thức ngữ pháp,
mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì
Tựu chung lại kể cả các nhà nghiên cứu văn học lẫn các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ học đều đưa ra những cơ sở, những tiêu chí khác nhau để phân biệt
thành ngữ và tục ngữ nhưng kết quả vẫn chưa được như mong muốn. Các nhà
nghiên cứu văn học thì thiên về tiêu chí nội dung còn các nhà Ngôn ngữ học lại
18
sử dụng tiêu chí chức năng và tiêu chí ý nghĩa để phân biệt. Tuy nhiên, trên thực
tế vẫn tồn tại những hiện tượng trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ (tuy số
lượng không nhiều). Ví dụ như một số thành ngữ có cấu tạo theo mô hình câu
chủ ngữ-vị ngữ nhưng chỉ là thành ngữ: Cú đội lốt công [34, 223], Nước mắt
chạy quanh [34, 538] hay có một loại khác do thay đổi chức năng có thể dùng
như một thành ngữ hay tục ngữ bằng cách thêm vào một số từ: mà, thì, lại, mà
lại Ví dụ:
Giòn cười tươi khóc. [34, 350] → Gòn cười thì tươi khóc
(hiện tượng) (quy luật)
Trứng chọi với đá. [34, 677] → Trứng mà lại chọi với đá
(hiện tượng) (quy luật)
Một hiện tượng khác cũng có những trường hợp tồn tại dưới hai dạng mà
không biết do tục ngữ rút ngắn lại hay tục ngữ triển khai ra, phải chăng đó là sự
“chuyển hóa” giữa thành ngữ và tục ngữ. Ví dụ:
Tục ngữ Thành ngữ
Khôn nhà mà dại chợ. [1, 90] ↔ Khôn nhà dại chợ. [34, 359]
Cờ đến tay ai người ấy phất. [1, 55] ↔ Cờ đến tay. [34, 215]
Tất cả các trường hợp trên chứng tỏ rằng việc xác định ranh giới giữa thành
ngữ và tục ngữ là hết sức phức tạp. Tuy nhiên tổng hợp tất cả các ý kiến đã phân
tích ở trên lại, chúng tôi thấy thành ngữ và tục ngữ được phân biệt với nhau dựa
trên một số tiêu chí cơ bản sau:
- Về hình thức: Thành ngữ được thể hiện bằng cụm từ cố định (tương
đương với từ) còn tục ngữ thể hiện bằng câu.
- Về nội dung: Thành ngữ thể hiện khái niệm còn tục ngữ thể hiện phán