BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ TÚ
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
(QUA HAI TẬP “GÀO THÉT” VÀ “BÀNG HOÀNG”) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013
Sơn La, năm 2013 LỜI CẢM ƠN
Khoá luận được hoàn thành với sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của cô giáo -
Thạc sĩ Hà Thị Hải. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô, người đã
luôn quan tâm giúp đỡ tận tình trong quá trình em thực hiện khoá luận này.
Em chân thành cảm ơn phòng Nghiên cứu khoa học, thư viện trường Đại
học Tây Bắc, các thầy cô giáo trong nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn,
các thầy cô bộ môn Văn học nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong
quá trình thực hiện khoá luận này. Em cũng xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ
nhiệm cùng tập thể các bạn sinh viên lớp K50 Đại học Sư phạm Văn – Giáo dục
công dân đã động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực hiện khoá luận.
Trong quá trình thực hiện khoá luận do thời gian và phạm vi khoá luận
nên không tránh khỏi sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và
các bạn để khoá luận này hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Tú
1.2.2.2. Cô Ái - một người dũng cảm nhưng không triệt để 23
1.2.2.3. A Thuận - một cô bé nhút nhát, cả tin 25
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ
NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LỖ TẤN 29
2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 29 2.2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của Lỗ
Tấn 31
2.2.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật 31
2.2.2. Miêu tả hành động nhân vật 37
2.2.3. Khắc hoạ ngôn ngữ nhân vật 41
2.2.3.1. Đối thoại 41
2.2.3.2. Độc thoại nội tâm 45
2.2.4. Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ người kể chuyện 47
2.2.5. Miêu tả nhân vật qua khung cảnh thiên nhiên 49
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học Trung Quốc là nền văn học rất lâu đời và phong phú. Ngay
từ trước công nguyên nền văn học đã có những thành tựu rực rỡ như thần thoại,
kinh thi, văn xuôi triết học, Sở từ, Sử kí… Sang đến thời trung đại thì Đường
thi, Tống từ và tiểu thuyết Minh Thanh đã trở thành ba đỉnh cao văn học rực rỡ
chói lọi. Đến thời kì hiện đại văn học Trung Quốc đã có nhiều tác giả, tác phẩm
nổi bật và ngày càng được khẳng định về số lượng và chất lượng. Văn học thời
kì mới này cũng đã tự tin tiếp nối một cách xứng đáng với văn học truyền thống.
Thuốc, Cố hương. Lỗ Tấn đã để lại cho chúng tôi ấn tượng sâu sắc và lòng
khâm phục đối với nhà văn, nhà cách mạng vĩ đại của nền văn học hiện đại
Trung Quốc. Lên bậc đại học chúng tôi có dịp tiếp cận với nhà văn qua học
phần văn học thế giới - văn học Trung Quốc. Đây chính là cơ hội để chúng tôi
tìm hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về Lỗ Tấn đồng thời cũng giúp cho chúng
tôi có điều kiện thực hiện khoá luận tốt nghiệp với đề tài nghiên cứu về sáng
tác của ông.
Chọn đề tài này sẽ giúp cho độc giả cũng như bản thân người thực hiện đề
tài thêm lòng kính yêu, quý trọng những tinh hoa nghệ thuật được chắt lọc từ
cuộc đời và tâm huyết của nhà văn Lỗ Tấn, từ đó giúp cho việc học tập và
nghiên cứu về Lỗ Tấn sẽ trở nên dễ dàng hơn.
1.3. Từ trước đến nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về Lỗ
Tấn, về những sáng tác của ông. Hơn nữa những tác phẩm của ông đã được lựa
chọn và đưa vào chương trình giảng dạy ở trường trung học phổ thông và trung
học cơ sở như Thuốc, AQ chính truyện, Cố hương. Trên cơ sở phục vụ cho việc
học tập và giảng dạy sau này, đề tài này quả thật rất có ý nghĩa và cần thiết với
những sinh viên chuyên nghành Sư phạm Văn như chúng tôi. Đề tài này không
chỉ giúp chúng tôi biết cách thực hiện một công trình nghiên cứu văn học phục
vụ cho việc học tập và giảng dạy, mặt khác trong quá trình nghiên cứu đề tài bản
thân người viết có cơ hội rèn luyện cho mình một cách toàn diện, phát huy tính
tích cực “tinh thần Lỗ Tấn” vào cuộc sống, học tập ở Lỗ Tấn một nhân cách cao
cả, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, can đảm, lao động nghệ thuật chân chính
không vì lợi ích của cá nhân mà đấu tranh vì quyền lợi chung.
2. Lịch sử vấn đề
Lỗ Tấn là nhà văn hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, suốt cuộc đời 55 năm
cầm bút của mình, ông đã để lại cho dân tộc Trung Hoa nói riêng và nhân loại
nói chung một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong phú. Do đó mà một loạt các công
trình nghiên cứu về tác phẩm của ông xuất hiện. Tuy nhiên, truyện ngắn của ông
được ưu ái hơn cả. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Lỗ
Tấn, tất cả đều đi đến thống nhất một nhận định khái quát: Lỗ Tấn là một nhà
Nguyễn Khắc Phi cũng nêu lên một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hình
tượng người phụ nữ: “Trong Lễ cầu phúc qua mười ba lần tả đôi mắt thím
Tường Lâm, Lỗ Tấn nêu lên diễn biến phức tạp trong tâm trạng thím. Hoặc
trong truyện Trong quán rượu để làm nổi bật cái trong trắng hồn nhiên của A
Thuận, Lỗ Tấn đã chú ý miêu tả cặp mắt của A Thuận “trong suốt như nền trời
một đêm quang tạnh”. Thủ pháp “vẽ đôi mắt, tả linh hồn” trên đây của Lỗ Tấn
đã có tác dụng to lớn, nó làm tăng sức truyền cảm nghệ thuật, thể hiện được chỗ
sâu kín của tâm hồn” [15, 213].
Nhà văn Anh Đức trong Lỗ Tấn bậc thầy về truyện ngắn có viết: “Cái cảm
nghĩ trước hết của tôi bao trùm lên tất cả truyện ngắn Lỗ Tấn ấy là tình yêu
thương con người, là tinh thần nhân đạo và nhân bản thấm đậm nơi ông… Hầu
hết những con người mà Lỗ Tấn dựng lên bằng chữ nghĩa đều là những người
4
đau, những người bất hạnh trong cái xã hội Trung Quốc đầy bệnh tật và bất
hạnh” [19, 356]. Như vậy, có thể nói mối quan tâm của Lỗ Tấn hướng về những
con người bất hạnh mà người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ đều
là những con người khổ cực nhất, bất hạnh nhất, Lỗ Tấn đã dành mối quan tâm
đặc biệt đến những con người này.
Ngoài ra còn nhiều luận văn, đề tài cũng có đề cập đến vấn đề người phụ nữ
dù chưa đi sâu cụ thể nhưng cũng điểm qua những chi tiết liên quan đến vấn đề
người phụ nữ.
Trong Tìm hiểu phong cách nghệ thuật Lỗ Tấn qua các truyện ngắn của
ông, Mai Trọng Vị đã khái quát một số nét về phong cách nghệ thuật của Lỗ
Tấn. Thứ nhất về đối tượng phản ánh cũng có nhắc đến hình ảnh của những
người phụ nữ: “Nhân vật của Lỗ Tấn còn là nạn nhân của bao nhiêu nỗi giày
vò, đày đoạ về cuộc sống tinh thần. Lễ giáo phong kiến luôn luôn thù địch với
họ, khiến họ hốt hoảng trước bao nhiêu câu hỏi dồn dập về số phận của họ. Đó
là thím Tường Lâm, cô Ái, chị Tư Thiền, là Tử Quân, vú Ngò” [25, 19], về ngôn
ngữ trong tác phẩm cũng được tác giả chỉ ra: “Trong tác phẩm của Lỗ Tấn cần
Tường Lâm trong Lễ cầu phúc suốt đời bị lễ giáo phong kiến buộc vào cổ” [13,
41]; chị Tư Thiền trong Ngày mai đau đớn vì “niềm vui duy nhất trong cuộc đời
này là đứa con nhưng nó cũng rời bỏ chị mà đi, chị sống cô độc trong sự thờ ơ,
ghẻ lạnh, tàn nhẫn của người đời” [13, 42]; cô Ái “một cô gái mạnh mẽ, có tinh
thần phản kháng nhưng chưa có sự đoàn kết của tập thể nên đấu tranh của cô
trở thành cô độc, lạc lõng giữa dòng đời đầy bon chen” [13,43]. Bên cạnh đó,
luận văn còn khai thác về đề tài người phụ nữ trí thức tập trung qua nhân vật Tử
Quân trong Tiếc thương những ngày đã mất: “Tử Quân là một phụ nữ có học
thức, hiểu biết, cô kiên quyết đấu tranh đòi tự do hôn nhân” [13, 62]. Khoá luận
đã đề cập đến hình ảnh những người phụ nữ lao động và phụ nữ trí thức nhưng
chưa đi sâu cụ thể vào đặc điểm tính cách chung, đặc điểm tính cách riêng của
người phụ nữ.
Từ những tư liệu trên cho thấy, những công trình nghiên cứu về truyện
ngắn Lỗ Tấn thì rất nhiều, tuy nhiên chưa có một công trình riêng nghiên cứu về
hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn. Chúng tôi chọn đề tài “
Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn (qua hai tập “Gào
thét” và “Bàng hoàng”)”. Trong quá trình triển khai đề tài chúng tôi sẽ tiếp thu
có chọn lọc ý kiến của các thế hệ đi trước.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của
Lỗ Tấn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn qua
hai tập “Gào thét” và “Bàng hoàng”. 6
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận chỉ ra những đặc điểm tính cách của người phụ nữ và nghệ
sĩ đại phu phong kiến sa sút. Ông nội là Chu Phúc Thanh (tự là Giới Phù) đỗ tiến
sĩ đời Thanh, có chân trong viện Hàn Lâm. Cha ông là Chu Phượng Nghi (tự là
Bá Nghi) học đến tú tài nhưng không ra làm quan. Mẹ ông là Lỗ Thuỵ, bà tự học
đến trình độ có thể xem được sách, tính tình bà hiền hậu, thương yêu con cái và
tiếp thu tư tưởng mới. Bà có ảnh hưởng rất lớn đến Lỗ Tấn, bút danh Lỗ Tấn
ông lấy từ họ mẹ.
Ngày 19 tháng 10 năm 1936 Lỗ Tấn qua đời sau một thời gian lâm bệnh nặng.
Sáng tác của ông bao gồm nhiều thể loại: Truyện ngắn, thơ cổ, thơ mới,
kịch, tạp văn, khảo cứu, nghị luận, phê bình, dịch thuật… Nội dung sáng tác bao
quát một phạm vi rộng lớn, một hệ thống tư tưởng dồi dào, rành mạch, gói gọn
trong một phong cách nghệ thuật độc đáo, sáng sủa, nhiều màu sắc. Trong số đó,
truyện ngắn và tạp văn là đặc sắc hơn cả.
Khi xây dựng hình tượng người phụ nữ Lỗ Tấn chú ý chỉ ra những đặc
điểm tính cách của họ. Trong chương này chúng tôi sẽ nêu khái quát những vấn
đề lí luận về nhân vật văn học, tính cách nhân vật và chỉ ra những đặc điểm tính
cách chung và riêng của người phụ nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn.
1.1. Nhân vật văn học và tính cách nhân vật
1.1.1. Nhân vật văn học
Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Dù tác phẩm tự sự,
trữ tình hay kịch, dù gián tiếp hay trực tiếp thì văn học đều miêu tả con người.
Nhân vật văn học là “con người được miêu tả trong văn học bằng các phương
tiện văn học” [10, 277]. Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn về
ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm
tự sự và kịch. Đó có thể là con người thiếu hẳn những nét đó nhưng lại có tiếng
nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi
niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.
Nhân vật văn học được biểu hiện bằng phương tiện văn học. “Trong thơ trữ
tình, ta có nhân vật trữ tình, tức con người xuất hiện để tự bộc lộ nỗi niềm trước
cuộc sống. Đó là con người mang hình thức vô danh, tự bộc lộ mình bằng cảm
chất tâm sinh lí của họ” [10, 279]. Tính cách có một hạt nhân là sự thống nhất
của cá tính và cái chung xã hội lịch sử. Nhưng người ta chỉ gọi là tính cách
những người mà sự thống nhất kia biểu hiện một cách nổi bật các phẩm chất xã
hội, lịch sử của nó. Tính cách ấy là hiện tượng nổi bật của đời sống con người.
Trong Nghệ thuật thơ ca, Arixtôt viết: “Tôi hiểu tính cách là lí do mà chúng ta
gọi nhân vật bằng một cái tên nào đó”, “nhân vật sẽ là có tính cách nếu trong
lời nói hay hành động bộc lộ một khuynh hướng hay ý chí nào đó, bất kể nó tốt
9
hay xấu như thế nào” [DT 10, 279]. Trong các ý kiến đó, ta thấy tính cách được
hiểu như là đặc điểm của nhân vật, khuynh hướng xã hội, quy luật hành động
của nhân vật. Đó là nhận thức chung về tính cách như là nội dung của mọi nhân
vật văn học. Chẳng hạn tính cách nhút nhát và cả tin của A Thuận; tính cách
mạnh mẽ của Giamilia; tính xảo trá, lọc lừa của Xuân Tóc Đỏ…
Tính chung (hay tính khái quát, tính phổ biến) của tính cách là sự tổng hợp và
nâng cao những nét tiêu biểu có ở nhiều người cùng một nghề nghiệp, giới tính, tuổi
tác, giai cấp… Với những nét tính cách đó, trong những biểu hiện ấy, tính chung về
giai cấp là quan trọng nhất, vì nó quyết định bản chất xã hội của tính cách. Như tính
chung của những người dân Xô man là hiền lành, dũng cảm, gan dạ, có lòng
căm thù giặc sâu sắc… (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành).
Tính chung luôn có mối quan hệ mật thiết với tính riêng, bởi suy đến cùng
tính cách chính là sự biểu hiện cái chung qua cái riêng. Tính riêng (hay tính cụ
thể, tính cá biệt) của tính cách là tập hợp của những nét bền vững và độc đáo,
làm cho nó phân biệt rõ ràng với những tính cách khác về hình thể, tính tình,
tâm lí, phương thức hành động… Trong đó tính chất cá biệt của trạng thái tâm lí
là quan trọng nhất vì nó quyết định bản sắc cá nhân của tính cách. Tính cách keo
kiệt, bủn xỉn của Grăngđê; tính thương người, bao dung của Giăng-Van-Giăng;
tính ích kỷ của Hoàng…
Trong nghiên cứu văn học, thuật ngữ tính cách văn học có khi được dùng
để chỉ một kiểu nhân vật, phân biệt với nhân vật loại hình, nhân vật mặt nạ…
goá chồng, thím trốn khỏi gia đình chồng tàn nhẫn để đi ở kiếm sống. Thím
những mong đem sức lao động của mình để đổi lấy một cuộc sống tối thiểu, điều
mong ước ấy đâu có cao xa, ảo tưởng: “Ngày tháng trôi qua rất nhanh. Công
việc thím không hề bê trễ, ăn gì xong bữa thì thôi. Đã làm thì làm cật lực không
suy tính thiệt hơn. Ai cũng khen nhà ông Tư nuôi được người ở gái siêng năng,
lanh lẹn hơn cả đàn ông nữa. Công việc cuối năm một mình thím đảm đương
hết, nào là quét dọn, lau nền nhà, giết gà, mổ ngỗng, thức suốt đêm nấu nướng
sửa soạn lễ cầu phúc chẳng phải thuê mướn ai thêm. Thế nhưng thím lại lấy rất
làm hể hả, trên môi thoáng thấy có nụ cười, và mặt mày cũng béo trắng ra” [18,
214].
Nhưng cái mong muốn nhỏ nhoi, tội nghiệp đó cũng bị phá vỡ. Như một
con vật, thím lại bị bà mẹ chồng bắt về gả bán cho một anh trên miền núi “bà ta
nhận lời gả cho anh Sáu, người bên Hạ Gia Úc” [18, 217]. Rồi người chồng thứ
hai lại chết, con bị chó sói ăn thịt, anh chồng đến đuổi chị ra khỏi nhà để cướp
nhà, cướp đất đai “ai có ngờ được. Bây giờ thím ta một thân, một mình trơ trọi.
Ông anh chồng đến đòi nhà đuổi thím ta đi” [18, 219].
Tuy cuộc sống khổ cực đày ải thím nhưng thím Tường Lâm vẫn không
thôi khao khát hạnh phúc. Qua hai đời chồng, thím cũng mong mỏi một gia đình
hạnh phúc yên ấm, nhưng số phận không như người ta mong muốn, chồng chết
khi thím còn trẻ, niềm hạnh phúc chưa được trọn vẹn, chưa kịp làm mẹ thím đã
phải chịu đựng những mất mát đau khổ. Khi bị bắt lấy người chồng thứ hai dù
thím có chống trả quyết liệt, nhưng sau cũng bằng lòng. Thật sự trong thâm
tâm người phụ nữ nào cũng mong muốn tìm cho mình một điểm tựa, một bờ
11
vai vững chắc, một người bao bọc, có một cuộc sống bình yên, ấm áp bên gia
đình của mình. Khi thím sinh được một người con trai, và được người chồng
cũng là người chăm chỉ làm ăn thì dường như hạnh phúc đã mỉm cười với
thím: “Cuối năm thím ta đẻ một thằng con trai… gặp hai mẹ con mẹ cũng béo
mà con cũng béo. Anh chồng thì khoẻ như trâu, biết làm ăn. Cũng có một căn
đau, một mình ôm con chờ trời sáng “người khác thì thấy chóng, nhưng chị thì
12
thấy sao mà lâu thế” [18, 51]. Có lẽ vì một mình không ai chia sẻ cùng, nên chị
càng nóng ruột, càng lo lắng hơn, giá như chồng chị còn sống thì chị sẽ không
vất vả thế, lúc này chị càng khao khát một gia đình trọn vẹn hơn bao giờ hết.
Lúc bế con đi chữa bệnh về mệt quá, chị “ rất mong mỏi có một vị thiên tướng
nào trên trời sai xuống giúp chị một tay” [18, 53], nhưng thực ra “vị thiên
tướng” mà chị mong mỏi ấy chính là một người đàn ông, một người chồng có
thể chèo chống, giúp đỡ, che chở cho chị và con trong những lúc ốm đau bệnh
tật, san sẻ bớt nỗi lo cho chị.
Khao khát của người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn thực ra cũng đơn
giản, một gia đình thực sự hạnh phúc nhưng dường như nó quá cao sang, xa vời
với họ.
A Thuận trong Trong quán rượu là một cô bé mới lớn, cũng biết khao
khát hạnh phúc, cái cô bé muốn chỉ là một cái “nơ nhung”. Cái “nơ nhung”
không chỉ đơn thuần là một đồ trang sức đối với cô gái mà còn ẩn chứa trong đó
nhiều ý nghĩa. Cô rất thích một chiếc nơ nhung màu đỏ nhưng không được
“cũng muốn có một cái, nhưng không làm sao có được” [18, 236]. Người Trung
Quốc vốn có quan niệm màu đỏ là màu của hạnh phúc, của sự may mắn. Hình
ảnh chiếc nơ nhung màu đỏ là biểu tượng cho ước mơ, khát vọng của cô bé tội
nghiệp về một cái gì đó thật tốt đẹp, thật hạnh phúc. Chỉ một vật nhỏ nhoi thế
thôi cũng nằm ngoài tầm tay của cô bé: “Thứ “nơ” nhung đó thì các tỉnh miền
Bắc mới có chứ ở thành S tìm đâu ra; con bé muốn có thì có làm sao được” [18,
236]. Hạnh phúc luôn nằm ngoài tầm tay của A Thuận. Cô vất vả khổ sở từ bé,
không dám đòi hỏi điều gì, ốm nặng cũng giấu bố. Có một người chồng chưa
cưới, đó cũng là một niềm hạnh phúc mà cô mong mỏi, nhưng người chồng đó
như thế nào, cô cũng không biết “xấu hổ không dám hỏi ai” [18, 239]. Qua việc
không có được chiếc nơ nhung đó càng thấy cô bé mơ ước, khát khao hạnh phúc
như thế nào. Đến khi chiếc nơ nhung được mang về cho cô bé thì đã muộn, cô
biết phản kháng, biết đứng dậy đấu tranh để giành hạnh phúc, giành quyền sống
chính đáng cho mình.
Thím Tường Lâm trong truyện Lễ cầu phúc lấy chồng, chồng chết, ở với
bà mẹ chồng cay nghiệt, không chịu được cuộc sống đó, thím đã bỏ nhà đi làm
thuê, những mong kiếm được công việc nuôi thân và thoát khỏi bà mẹ cay nghiệt
“thím ở nhà còn có bà mẹ chồng cay nghiệt lắm” [18, 214]. Việc thím bỏ nhà đi
làm thuê đã cho thấy thím đã có ý thức đấu tranh, tự tìm cho mình một lối thoát,
một con đường sống, thím không cam chịu cuộc sống đày đoạ, khổ sở thế mãi.
Khi bị bắt về để gả cho người khác thím “khóc và la lên mấy tiếng” [18,
215], thím đã vùng vẫy cố mong có ai đó nghe và cứu mình, thím sợ một cuộc
sống lặp lại như cũ với bà mẹ chồng cay nghiệt. Khi bị gả cho người khác thím
phản kháng kịch liệt: “Thím ta làm giữ lắm cơ… suốt dọc đường cứ la hét, chửi
bới ầm ỹ lên, lúc về đến Hạ Gia Úc thì khản tịt cả cổ. Lôi ra khỏi kiệu, hai người
đàn ông và chú em nữa ra sức kìm giữ thím ta lại, mà thím ta cũng chẳng chịu lễ
bái cho ra trò, vừa sơ ý, hở tay ra một cái; là ối giời ơi, a di đà phật, thím ta
đập đầu ngay vào góc hương án rồi, thủng một lỗ sâu hoáy, máu tươi vọt ra,
14
phải lấy hai nắm tàn nhang dịt vào, rồi lấy hai vuông vải điều buộc chặt lại mà
vẫn không cầm nổi. Mãi đến khi mỗi người một tay xúm lại vực thím ta vào
trong buồng với chồng, rồi khoá trái lại mà thím ta vẫn chửi” [18, 218]. Sự phản
kháng của thím Tường Lâm tuy là sự phản kháng tiêu cực, tìm đến cái chết
nhưng dù sao ý thức phản kháng, chống lại sự ép buộc cũng đã hình thành trong
đầu thím. Phản kháng để thoát khỏi sự sắp đặt của người khác, phản kháng để
không làm trái với lễ giáo phong kiến.
Trong truyện Ly hôn cô Ái là một người phụ nữ mạnh mẽ, dám thách thức
cả lễ giáo phong kiến để giành lại công bằng, để tìm lại hạnh phúc cho mình, cô
đã nhiều lần đi kiện chồng và gia đình chồng. Sự đấu tranh của cô Ái là đấu
tranh cho mình, nhằm cứu vớt danh dự cho bản thân khi bị chồng ruồng bỏ phũ
phàng: “Anh nghĩ xem, thằng chó ấy nó mê một con đàn bà goá thế là nó bỏ tôi.
kháng kiên quyết, mãnh liệt của Tử Quân.
Ở nước ta, đề tài người phụ nữ được phản ánh xuyên suốt tiến trình của
văn học. Nhìn chung, họ đều là những người phụ nữ chịu thương, chịu khó, giàu
lòng vị tha, họ cũng chịu nhiều bất hạnh trong cuộc đời, cũng bị những tư tưởng
phong kiến lạc hậu trói buộc và đâu đó vẫn có những con người có tư tưởng
phản kháng, đứng lên chống lại các thế lực áp bức, đứng lên giải thoát cho mình
để tìm cho mình một cuộc sống mới. Chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô
Tất Tố là một người phụ nữ chịu thương, chịu khó, chăm chỉ làm ăn. Nhưng số
phận của chị vẫn long đong lận đận, gặp nhiều oan trái, hết nạn nọ đến nạn kia
vì sự đè nén áp bức của thế lực thống trị ở nông thôn. Ở chị cũng có tinh thần
phản kháng chống lại thế lực thống trị khi bị chúng áp bức quá đáng “mày trói
ngay chồng bà đi, bà cho mày xem” [20, 295]. Lời nói của chị như một lời thách
thức đối với bọn phong kiến tay sai chà đạp con người. Ở chị Dậu không chỉ ánh
lên với vẻ đẹp của người mẹ, người vợ đảm đang tháo vát, yêu chồng, thương
con mà chị còn ánh lên với phẩm chất của người phụ nữ trung trinh, tiết hạnh.
Mặc dù đang rất cần tiền để cứu chồng nhưng chị không chịu bán rẻ nhân phẩm
của mình cho bọn quyền thế. Hành động ném tiền vào mặt tri phủ Tư Ân và
vùng ra ngoài đêm tối khi bị ông quan trên tám mươi tuổi sàm sỡ đã phản ánh sự
đấu tranh quyết liệt của chị Dậu.
Nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, cũng là một phụ nữ có
số phận không may mắn, chịu món nợ truyền kiếp cho cha mẹ và cô cũng bị sợi
dây phong kiến, thần quyền siết chặt: mình đã cúng ma nhà nó chứ người kia tội
tình gì mà chết ở đây. Cô đã đứng dậy phản kháng, cắt dây trói cho A Phủ và
cũng chính là cắt sợi dây thần quyền trói buộc cô bấy lâu nay, giải thoát cho
mình đi tìm một cuộc sống mới.
Trong sáng tác của nhóm “Tự Lực văn đoàn”, để đấu tranh cho quyền
sống, quyền bình đẳng của người phụ nữ, nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt đã
phản ứng gay gắt với mẹ chồng:“Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền
đánh tôi, bà cũng là người, tôi cũng là người” [8, 143], cô đã dũng cảm và
mạnh mẽ đứng dậy đấu tranh để được giải phóng, không chịu sự ràng buộc của
người không nhà, không cửa, không nơi nương tựa: “Thằng con trai thím lại bị
chó sói tha mất… anh chồng đến đòi nhà, đuổi thím ta đi, thím ta thực bước
đường cùng” [18, 219]. Vì sự sơ suất của mình dẫn đến cái chết của đứa con,
điều đó cứ đeo bám thím, làm thím không nguôi nghĩ đến, cứ kể đi, kể lại câu
chuyện mất con. Hình ảnh đứa con bị chó sói ăn thịt luôn ám ảnh tâm trí người
mẹ. Thím sống trong nỗi dằn vặt, day dứt, đau khổ về chuyện mất con. Nỗi đau
chồng chất nỗi đau, bất hạnh nối tiếp bất hạnh, cuộc đời người phụ nữ này
dường như không lối thoát, điển hình nhất cho những người phụ nữ bất hạnh ở
nông thôn trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.
Sau những bất hạnh liên tiếp giáng xuống cuộc đời thím Tường Lâm
dường như sức sống trong con người thím giảm đi rất nhiều. Từ chỗ “siêng
17
năng, lanh lẹn hơn cả đàn ông” [18, 214] giờ đây thành ra một người khác hẳn
“thím đâm ra nhút nhát, sợ đêm tối, sợ bóng đen… hoặc có khi thím ngồi ngây
ra chẳng khác gì pho tượng gỗ. Chưa đầy nửa năm, tóc thím đã bạc ra, thím
không nhớ được gì cả, thậm chí quên luôn cả việc đi vo gạo” [18, 224]. Sự đau
đớn, đầy đoạ về tinh thần khiến con người ta khổ sở hơn về thể xác. Đặc biệt vì
sợ bị tội, thím Tường Lâm đã đi cúng bậc cửa ở miếu thành hoàng, hi vọng mọi
người sẽ chấp nhận. Nhưng vẫn không ai cho thím rửa tội, thím Tư vẫn không
cho thím sửa soạn lễ cầu phúc “thím để đấy thôi, thím Lâm” [18, 226], đó như
một đòn nặng nề cuối cùng giáng xuống tâm hồn thím làm thím đờ đẫn, mụ mị
ra, mất hết khả năng suy nghĩ.
Bị đuổi đi khỏi nhà thím Tư, cuộc sống của thím càng trở nên cùng cực
hơn nhưng thím cũng không dám chết vì thím sợ chết xuống âm phủ sẽ bị cưa
đôi người ra như U Liễu nói. Cuộc đời người phụ nữ bất hạnh, sống đã không
được, chết cũng không xong, cứ đày đoạ thím đến nỗi “chỉ đôi tròng con mắt
đưa đi, đưa lại mới chứng tỏ rằng thím còn là một con người đang sống mà
thôi” [18, 207]. Trong một đêm gió tuyết, lúc nhà nhà đang làm lễ cầu phúc thì
thím chết còng queo bên vệ đường, chết vì đói và rét. Cuối cùng thím đã chết
vây lấy chị, đè lên người chị, làm cho chị không thở được” [18, 56]. Chị Tư
Thiền từ nay về sau sống một mình vò võ, không còn niềm hi vọng, không
biết dựa dẫm vào ai. Chị sống trong nỗi đau khổ, dày vò, luôn nghĩ đến đứa
con bé nhỏ của chị. Cuộc sống của chị thực sự không còn ý nghĩa, với chị đó là
cái chết về tinh thần.
Trong truyện Ly hôn, Cô Ái sau khi đi kiện về không có kết quả, vừa mất
chồng vừa bị nhà chồng khinh, cô phải sống trong sự miệt thị của người đời:
“Hai bà cụ ở phía mũi ngồi niệm Phật khe khẽ, lần tràng hạt, hết nhìn cô Ái lại
nhìn nhau, bĩu môi gật đầu” [18, 376]. Ngay cả những người theo đạo Phật nổi
tiếng là từ bi cũng không dành cho cô một chút thương cảm nào còn khinh bỉ cô.
Cô phải sống suốt quảng đời còn lại trong tủi nhục, không ngẩng mặt lên được,
mang trong mình những day dứt, khổ đau, dằn vặt ở hiện tại và tương lai, một sự
tổn thương tinh thần không gì có thể hàn gắn được.
Hai bà mẹ trong truyện ngắn Thuốc đều chịu sự đau khổ, day dứt ở trong
cuộc sống hiện tại. Một bà mẹ có con bị bệnh lao, chạy chữa cho con bằng mọi
cách với một hi vọng “ăn đi con, sẽ khỏi ngay thôi” [18, 42], những mong thang
thuốc mà khó khăn lắm mới mua được sẽ phát huy tác dụng, sẽ cứu sống đứa
con duy nhất của mình, nhưng cuối cùng đứa con vẫn chết mang theo bao hi
vọng của bà. Sự đau đớn mất mát đó làm cho bà Hoa già nhanh hơn: “Gió hiu
hiu thổi vào mớ tóc ngắn của bà ta, so với năm ngoái chắc là bạc nhiều lắm rồi”
[17, 47], bà cũng không muốn tin vào sự thật nên bà cứ “ngẩn ngơ như đang chờ
đợi cái gì. Chính bà ta cũng chẳng biết bà ta chờ đợi cái gì nữa” [18, 47].
Cùng nỗi đau mất con nhưng bà mẹ của Hạ Du càng xót xa hơn khi con bị
chết oan. Vừa mất con vừa mang tiếng oan, dường như nỗi đau ấy nhân lên gấp
bội phần “Du ơi! Oan con lắm Du ơi! Chắc con không quên được, và con đau
lòng lắm phải không con? Con hiển hiện lên cho mẹ biết con ơi” [18, 48]. Tiếng
19
kêu xé ruột của người mẹ thể hiện nỗi đau tột cùng, một sự mất mát quá lớn lao
luôn dằn vặt người mẹ này.
người phụ nữ.
1.2.2. Đặc điểm tính cách riêng
Nhân vật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn thường có sự thống nhất cao độ
giữa tính cách khái quát chung và tính cả thể hoá sinh động. Bên cạnh những nét
20
tính cách chung, điển hình, phổ quát, mỗi nhân vật lại có những nét tính cách
riêng, độc đáo, khó có thể trộn lẫn.
1.2.2.1. Tử Quân - một người vừa cương quyết vừa bạc nhược
Lỗ Tấn không chỉ xây dựng hình ảnh người phụ nữ mới của Trung Quốc
độc lập, tự tin không lệ thuộc vào người khác, có quyền làm chủ vận mệnh của
mình, ông còn chỉ ra “người phụ nữ ra ngoài xã hội mà không có quyền làm chủ
về kinh tế thì họ cũng vô dụng, vì họ biết làm gì để sống” [21, 2]. Lỗ Tấn đã
thể hiện sự khâm phục của mình đối với những người phụ nữ tiến bộ. Trong
cơn biến động xã hội lúc bấy giờ trí, thức đóng vai trò quan trọng trên vũ đài
chính trị. Đặc điểm của trí thức Trung Hoa lúc bấy giờ là ôm ấp nhiều mộng
đẹp, có lí tưởng, cầu tiến nhưng khi gặp thất bại thì thường bi quan chán nản,
dao động, cuối cùng dần trở nên cô độc, phản lại lí tưởng của mình rồi chết
dần, chết mòn. Nhân vật Tử Quân trong Tiếc thương những ngày đã mất là
một người trí thức như thế.
Là một nữ sinh tắm mình trong không khí sôi nổi, đổi thay của thời Ngũ
Tứ, Khổng giáo bị liệng qua cửa sổ, phụ nữ được tự do yêu đương, tự do học
hành… cô đã theo lí tưởng mới đó và tự tạo lập cho mình một con đường riêng.
Cô vươn lên thoát li khỏi những định kiến của xã hội để sống đúng với bản chất,
nguyện vọng chính đáng của mình. Cô đã bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi của tình
yêu, để thực hiện lí tưởng ước mơ của mình, đó là tự do yêu đương, tự do hôn
nhân, không chịu sự sắp đặt của gia đình.
Với Tử Quân, lí tưởng sống và tình yêu là một. Tình yêu tiếp sức cho cô
có được những tư tưởng mới, lòng ham hiểu biết, tiến bộ và nhiệt huyết muốn
thay đổi “hồi đó sở dĩ nàng dũng cảm được, bất chấp được tất cả là vì yêu tôi”