Tài liệu Luận văn:TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN pot - Pdf 10

PHẠM THANH HÙNG TÍNH NHÂN VĂN
QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN
ĐỒN LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ
HỘI
VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:
HOÀNG NHƯ MAI
Giáo sư khoa học Ngữ Văn
Người nhận xét 1:


Đa tạ quý Thầy, Cô :
GS. HOÀNG NHƯ MAI
PGS. PTS TRẦN HỮU TÁ
PGS. PTS PHÙNG QUÝ NHÂM
PTS. NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
PTS. LÊ TIẾN DŨNG

MỤC LỤC Trang
PHẦN DẪN LUẬN
1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 1
II. PHẠM VỊ ĐỀ TÀI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU : 3
III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ : 4
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 11
V. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN : 12
VI. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN : 13


1. Hơn nửa thế kỷ trơi qua, kể từ khi tiểu thuyết Tự lực văn đồn
xuất hiện, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau, trong
việc đánh giá sự đóng góp của tiểu thuyết lãng mạn nói riêng và trào lưu
văn học lãng mạn nói chung trong tiến trình của văn học dân tộc. Trên
tinh thần đổi mới, việ
c thẩm định lại giá trị của văn học q khứ với một
tư duy khoa học, một phương pháp nghiên cứu đúng đắn, một thái độ
bình tâm tĩnh trí, một tình cảm trân trọng di sản văn học của tiền nhân,
thiết nghĩ, đó là một việc làm hết sức khó khăn nhưng đầy sức hấp dẫn
và rất cần thiết.
“Thời gian gần đây, lý luậ
n và phê bình văn chương của ta
thường nhắc đến hai chữ nhân văn - tính chất nhân văn, giá trị nhân văn,
chủ nghĩa nhân văn - xem đó là hằng tính của văn chương nghệ thuật, là
tiêu chí cho sự đổi mới trong lĩnh vực này. Đó là điều xác đáng” (Trần
Thanh Đạm) (51.21).
Thật vậy, xét đến cùng, qua sự gạn lọc khắc nghiệt của thời gian,
các giá trị bền v
ững nhất của văn học bao giờ cũng được xem xét trong
mối quan hệ với con người. “Văn học là một phương tiện quan trọng
giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật của con
người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, trở nên phong phú hơn
và một phần từ chỗ hiểu mình, từ sự phong phú của chính mình, con
người hiểu thêm về thế giới, sự phong phú của thế giớ
i” (Lê Ngọc Trà)
(28.57–58). Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã có nói thêm: “Văn học tiến
bộ hay khơng, lành mạnh hay khơng, tuỳ thuộc ở giá trị nhân bản của nó
chứ khơng tùy thuộc ở chỗ nó là lãng mạn hay hiện thực. Vả lại khơng
có ranh giới dứt khốt giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn”
(76b.31).

1. Khơng nói đến chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo hay tư
tưởng nhân văn, tư tưởng nhân đạo mà chỉ đề cập đến “tính nhân văn” là
có lý do:
- Đây là một vấn đề lý thú cần tiếp tục nghiên cứu, bởi so với
phương Tây, cùng với “sự ra đời của ý thức hệ tư sản trong giai đoạn
đấu tranh chống phong kiến đã kéo theo nó một trào lưu có tính chất
nhân đạo chủ nghĩa (hay nhân văn chủ nghĩa) khơng những trong văn
học, nghệ thuật, mà trong nhiều ngành văn hóa, khoa học khác”
)
2
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
(Nguyễn Lộc) (40a.72), thì ở Việt Nam ta “do chính sách độc quyền kinh
tế của đế quốc, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam phát triển khó khăn,
yếu đuối. Giai cấp này một mặt mâu thuẫn với đế quốc, phong kiến, mặt
khác lại phụ thuộc vào chúng. Địa vị kinh tế non yếu, mỏng manh ……”
(22.12). Chính vì thế, về mặt văn học, Tơn chỉ của Tự lự
c văn đồn chủ
yếu chỉ là “lúc nào cũng mới, trẻ, u đời; trọng tự do cá nhân; làm cho
người ta biết rằng đạo Khổng khơng hợp thời nữa; đem phương pháp
khoa học Thái Tây áp dụng vào văn chương An nam”. Tất nhiên, khơng
thể lấy “thước đo” của văn học phương Tây để áp dụng vào văn học Việt
Nam, nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng việc “
khơng phải chỉ đòi
giải phóng cá nhân khỏi sự ngu dốt, đòi hỏi trì trệ của mọi người được
phát triển, mà còn trực tiếp đòi hỏi giải phóng cá nhân khỏi sự gò ép về
phương diện chính trị và kinh tế” (66.214) thì ở trào lưu văn học lãng
mạn Việt Nam nói chung, tiểu thuyết Tự lực văn đồn nói riêng còn có
giới hạn. Đừng qn rằng văn học lãng mạn và v
ăn học hiện thực phê
phán là hai trào lưu văn học cơng khai, hợp pháp trong xã hội thực dân

Nam và một số ít tài liệu dịch từ tiếng nước ngồi.
III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
- Trước 1945, hầu như chưa có những chun luận, những cơng
trình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của Tự lực vă
n đồn. Thảng hoặc
có đề cập đến trong những cơng trình nghiên cứu dài hơi viết về văn học
sử, về lý luận hay phê bình văn học (Dưới mắt tơi (1939) - Trương
Chính; Việt Nam văn học sử yếu (1942) – Dương Quảng Hàm; Nhà văn
hiện đại (1941 – 1942) – Vũ Ngọc Phan; Văn học khái luận (1942) –
Đặng Thai Mai; Ba mươi năm văn học (1942) – Kiều Thanh Quế
; Cuốn
sổ văn học (1944)–Lê Thanh …) thì do giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu,
do hạn chế bởi phương pháp, quan điểm tiếp cận … người viết cũng
khơng thể khảo sát, phân tích, lý giải hết sự phong phú, sinh động, phức
tạp của những hiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm) thuộc văn đồn.

Dưới mắt tơi (Trương Chính) là một quyển phê bình văn học
được nhiều người biết đến. Dù có phần hồn hảo hơn những người đi
trước (như Thiếu Sơn với Phê bình và cảo luận - 1933, Phan Khơi với
Chương Dân Thi Thoại - 1936 …) trong phương pháp phê bình khi “sự
khen chê của ơng đã có căn cứ, khơng đến nỗi vu vơ … nghĩa là những
chỗ hay và chỗ dở ơng đã chỉ ra rõ ràng, đã nói tạ
i sao hay và tại sao dở
… Nhưng Trương Chính có cái tật hay phân tích tính cách các nhân vật
nhiều q ln ln ơng bẻ các nhà tiểu thuyết sao lại như thế này và
khơng như thế khác …" (77(2).20). Có thể thấy lời phê bình trên đây
của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã nêu rõ lập trường của
Trương Chính trong phê bình văn học, lập trường của một ngòi bút theo
trường phái phê bình chủ quan, cổ điển. Ở quyển sách này, ơng đã chọn
phê bình tất cả 28 tác phẩm của 12 nhà văn, hầu hết là những cây bút

đến nhiều vấn đề khác nhau có liên quan đến việc tìm hiểu tồn bộ nền
văn học nước nhà, nên ở chương thứ bảy: “Các văn gia hiện đại. Các
khuynh hướng phổ thơng của tư tưởng phái Tự lực văn đồn”, dành cho
năm thứ ba ban Trung học Việt Nam, Dương Quảng Hàm chỉ nói
đến Tự
lực văn đồn một cách khái qt trong chưa đầy bốn trang trên tổng số
500 trang của cả quyển. Tác giả dường như chưa thể đưa ra những lời
nhận xét, đánh giá cụ thể ngồi việc lượt kể hết sức vắn tắt nội dung
những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Nửa
chừng xn, Hồn b
ướm mơ tiên. Một vài ý kiến có tính chất khái qt
khi đề cập đến “Cơng việc của Tự lực văn đồn” chưa thể đáp ứng được
ý muốn tìm hiểu của độc giả về Tự lực văn đồn.
)
5
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
Vũ Ngọc Phan nổi tiếng với bộ sách nghiên cứu, phê bình văn học
đồ sộ Nhà văn hiện đại (1941 - 1942) đã khẳng định “một chỗ đứng
riêng, và có sự đóng góp khơng thể thay thế” (77(2).557) . Dù đã trải qua
hơn nửa thế kỷ, bộ sách “vẫn có ích cho bất cứ ai muốn tìm hiểu nền văn
học chữ quốc ngữ những năm trước Cách mạ
ng tháng Tám” (77(2).557).
Bằng một tinh thần lao động sáng tạo, cần cù, bền bỉ, một tác phong
nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn, vơ tư, Vũ Ngọc Phan phải tốn rất
nhiều cơng sức mới có thể chiếm lĩnh hơn 60 năm văn học và đã giới
thiệu được 79 nhà văn tham gia sáng tác bằng chữ quốc ngữ từ cuối thế
kỷ XIX như Trương Vĩnh Ký, đến những cây bút trẻ n
ổi tiếng của những
năm 40 thế kỷ XX.
Viết về Tự lực văn đồn, căn cứ vào sự sắp xếp theo loại văn đối

đề vĩnh cửu của văn học, nhưng mỗi thời đại lại đem đến cho chúng một
sắc thái mới, và nhà văn đ
ã đi vào so sánh tình u trong các tác phẩm từ
Truyện Kiều, Tố Tâm đến Đoạn tuyệt.
Vì là một cơng trình lý luận văn học hơn là một thành tựu về phê
bình văn học nên người đọc chỉ có thể tìm thấy rải rác đây đó những
nhận định thú vị và bổ ích cho việc tìm hiểu lịch sử văn học nước nhà.
Việc tìm hiểu tác giả, tác phẩm với tư cách là m
ột hiện tượng văn học sẽ
khơng được thỏa mãn.
Ba mươi năm văn học của Kiều Thanh Quế và Cuốn sổ văn học
của Lê Thanh ra đời xt xốt nhau hai năm đều nhắm tới một cơng
việc là phác họa ra một bảng lược đồ văn học. Ở quyển sách ra đời trước
của mình, Kiều Thanh Quế đã đem đến cho người đọc sự
tóm tắt mọi
diễn biến về lịch sử văn học trong suốt giai đoạn ba mươi năm của tiền
bán thế kỷ hai mươi. Trong khi đó, trọng tâm của Cuốn sổ văn học là
cơng việc trước mắt hạn chế trong thời gian năm 1943, dù tác giả đã có
mở rộng về phía trước, có khi khảo sát cả đến năm 1939 và hơn nữa.
Nhìn chung, cả hai quyể
n sách trên đều là những cơng trình văn
học sử. Việc tìm hiểu về Tự lực văn đồn nói riêng, hay những hiện
tượng văn học khác nói chung, khó có thể tìm thấy được những lý giải,
những nhận xét, phê bình tương đối đầy đủ và có hệ thống.
Sự khát khao của độc giả vẫn còn đó.
- Sau 1945, trong suốt một thời gian dài kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ, cứu nước, do hồn cảnh kh
ắc nghiệt của cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc, do bản thân dòng văn học lãng mạn nói chung và
những sáng tác của những cây bút trong Tự lực văn đồn nói riêng có

Trung, Tràng Thiên, Phạm Việt Tuyền, Thế Trung, Dương Nghiễm Mậu
…(Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Luận đề về Nhất Linh, Bình giảng về
Tự lực v
ăn đồn, Văn học và tiểu thuyết, Lược khảo văn học, Tiểu thuyết
hiện đại, Phương pháp nghị luận phân tích và phê bình văn chương …).
Thế nhưng, tất cả vẫn chưa có được một sự nghiên cứu thật tồn diện và
chun sâu, phác họa đầy đủ diện mạo của tiểu thuyết Tự lực văn đồn.
Đó là chưa kể đến quan
điểm, phương pháp nghiên cứu, đánh giá đã thực
sự phù hợp hay chưa.
Sau 1975, dù đất nước đã liền một dãy, nhưng khoảng mười năm
tiếp theo, tiểu thuyết Tự lực văn đồn hầu như vẫn chưa cất lên được
tiếng nói khách quan, khoa học từ các trang sách, báo nghiên cứu. Ngay
cả đến những cơng trình nghiên cứu dày cơng cũng chưa thốt khỏi cái
nhìn “tiểu thuyết Tự l
ực văn đồn có nhiều độc tố và nguy hiểm là những
)
8
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
độc tố đó lại được bao bọc bởi một hình thức nghệ thuật khá quyến rũ và
hấp dẫn”(61.96–97).
Chỉ từ sau Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ VI (1986) khi có chủ
trương đổi mới tư duy và dân chủ hóa trong văn học nghệ thuật, vấn đề
Tự lực văn đồn mới được đặt lại mộ
t cách thỏa đáng hơn, cố gắng
khơng để “cái quan luận định”(từ của người xưa) hẹp hòi, phiến diện
hay một tình cảm nào đó kích thích, chi phối việc nghiên cứu, đánh giá.
Đã có một số sách, bài viết từ phía các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình
ở các Viện, Trường và các cơ quan văn nghệ báo chí như: Hồng Như
Mai, Lê Trí Viễn, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu, Trương

9
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
Sau khi chúng ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ và trở lại thủ đơ thì
Nguyễn Tường Tam lại bỏ nhân dân một lần nữa. Một cây thương gẫy,
một con ngựa q, Tam lủi thủi đi về phương Nam, theo chân những kẻ
ni chí phá hoại hòa bình, ngăn cản thống nhất”(44.98–99). Thiết nghĩ,
khơng cần phải biện giải thêm những nhận xét, đánh giá như thế, khi mà
người vi
ết đã hồn tồn dùng tiêu chí chính trị để xem xét sự nghiệp văn
chương, mặc dù khơng thể phủ nhận sự tác động qua lại giữa cuộc đời và
sự nghiệp của người nghệ sĩ.
Tóm lại, tính đến nay, chúng ta có thể thấy rằng: việc nghiên cứu
về Tự lực văn đồn chưa thật đáp ứng lòng mong đợi từ phía độc giả đối
với giới nghiên c
ứu, phê bình văn học nước ta. Người đọc đang khát
khao có được những tiếng nói tương đối khách quan,cơng bằng, khoa
học và tồn diện về Tự lực văn đồn- một hiện tượng văn học đã tạo nên
những tác động mạnh mẽ và lâu dài đối với sự phát triển của lịch sử văn
học dân tộc.
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Xuất phát từ u cầu củ
a bản thân đối tượng nghiên cứu và theo
mục đích của luận án, chúng tơi đã thực hiện luận án theo các phương
pháp sau: phương pháp nghiên cứu lịch sử – phát sinh (nhằm để xác
định q trình phát triển của Tự lực văn đồn và những cơng trình
nghiên cứu về Tự lực văn đồn); phương pháp nghiên cứu lịch sử – chức
năng (nhằm tìm hiểu sự tiếp nhận các tác ph
ẩm tiểu thuyết Tự lực văn
đồn trong sự biến động của bối cảnh văn hóa – xã hội); phương pháp
nghiên cứu hệ thống – cấu trúc (chủ yếu nhằm nghiên cứu và phân tích

Ngồi phần Dẫn luận và phần Kết luận, phần Nội dung gồm hai
chương như sau:
CHƯƠNG MỘT:
TÍNH NHÂN VĂN – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SÁNG TÁC
CHƯƠNG HAI:
TÍNH NHÂN VĂN QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG
TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐỒN.
11

)
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG MỘT:
TÍNH NHÂN VĂN – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SÁNG
TÁC
I.KHÁI NIỆM “TÍNH NHÂN VĂN” HAY MỘT KHUYNH HƯỚNG
NHÌN NHẬN TỔNG HỢP MỌI GIÁ TRỊ CỦA VĂN HỌC:
Trong Phần Dẫn luận, chúng tơi đã có dịp đề cập đến thuật ngữ
“nhân văn” và rất đồng tình với quan điểm của GS. Trần Thanh Đạm khi
xem tính chất nhân văn, giá trị nhân văn, chủ nghĩa nhân văn “là hằng
tính của văn chương nghệ thuật, là tiêu chí cho sự đổ
i mới trong lĩnh vực
này”(tức lĩnh vực lý luận, phê bình văn chương- PTH.) . GS. Nguyễn
Huệ Chi trong một bài viết của mình cũng đã từng có ý kiến: “…nếu đẩy
tới một cấp độ cao hơn, cấp độ tính nhân bản của văn học, thì mọi sự
phân biệt ở đề tài dường như biến mất. Sẽ khơng còn chỗ cho thứ lập
luận bám vào những lợ
i ích gần gũi trước mắt để biện minh rằng loại đề

ra chủ nghĩa nhân văn”(24.61) .
Sở dĩ, chúng tơi khơng đề cập đến cụm từ “ chủ nghĩa nhân văn”
hay “chủ nghĩa nhân đạo”, “tư tưởng nhân văn” hay “tư tưởng nhân
đạo” ở đề tài của luận án này là vì trong phạm vi nghiên cứu của mình,
chúng tơi chưa có điều kiện để vươn tới quan niệm triết học, quan niệm
tư tưởng của nội hàm vấn đề.
Chúng tơi nghĩ rằng những khái niệm như “nhân bản”, “nhân
đạo”, “nhân văn” tuy có liên quan mật thiết với nhau, song khơng phải
là một, khơng nên xem là hồn tồn đồng nghĩa. Có thể thấy rằng “nếu
chủ nghĩa nhân b
ản thiên về sự thấu hiểu, thơng cảm phần thể xác của
con người thì chủ nghĩa nhân đạo chú tâm hơn phần đạo lý của nó…
Chủ nghĩa nhân bản xác lập cái chân, chủ nghĩa nhân đạo khuyến khích
cái thiện. Nhưng con người xứng đáng với vị thể và danh hiệu lồi
người khơng chỉ sống thực, sống tốt mà còn sống đẹp; cái đẹp chân
chính bao gồm cả cái thự
c và cái tốt bên trong. Đây là lĩnh vực của chủ
nghĩa nhân văn, giang sơn của văn hóa, văn chương, nghệ thuật…Chủ
nghĩa nhân văn cũng là chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa nhân đạo, là tri
thức và đạo đức về con người trong cái biểu hiện về văn hóa, nghệ thuật,
là hình thái tổng hợp và sáng tạo của cả ba nhân tố”(tức chân, thiện và
mỹ trong sự
hài hòa tuyệt diệu - PTH.) (Trần Thanh Đạm) (51.23–24) .
Có lẽ vì thế mà lĩnh vực lý luận, phê bình văn học trong những năm gần
đây thường hay đề cập đến thuật ngữ “nhân văn”.
II. VÀI NÉT VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG VĂN HỌC PHƯƠNG
TÂY:
)
13
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …

này) như các nhà thơ nhà văn người Italia: F. Petrarca (1304 - 1374),
G.Boccaccio (1313 - 1375) đã chủ trương giải phóng văn học nghệ thuật
nói riêng và văn hóa nói chung ra khỏi sự bảo trợ của nhà thờ Cơ Đốc
giáo và giải phóng cá nhân con người. Họ đã đi sâu vào về vi
ệc khơi
phục, nghiên cứu, dịch thuật, truyền bá những thành tựu rực rỡ giàu sức
sống và vẻ đẹp hồn nhiên của văn hóa cổ đại Hy Lạp - La Mã đã từng bị
qn lãng trong suốt thời Trung cổ, nhằm khơi phục những giá trị tư
tưởng - nhân văn của chúng. Họ hướng văn học nghệ thuật vào sự sáng
)
14
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
tạo và ca ngợi cái đẹp trần thế lành mạnh, tự nhiên, đề cao những khát
vọng cao đẹp và niềm tin vào sức mạnh tồn năng của con người: “ Con
người là người thợ rèn rèn ra hạnh phúc của mình” (Pic de la
Mirandole (1463-1494)); “Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu
của mn lồi”( W. Shakespeare (1564-1616)) … Tiếp tục những thành
tựu về khoa học tự nhiên và triết học tự nhiên của thời đại, bằ
ng hình
tượng nghệ thuật các nhà văn thuộc trào lưu nhân văn chủ nghĩa ở
phương Tây cũng đã chỉ ra rằng chính chiến tranh phong kiến, chủ nghĩa
khổ hạnh tơn giáo, chủ nghĩa cấm dục, chủ nghĩa giáo điều, kinh viện,
ngu dân, thói đàn áp tự do tư tưởng … là trái với tự nhiên, là nguồn gốc
của mọi bất hạnh, xấu xa, tội lỗi trên thế gian và đ
ã gây ra những rối loạn
trong đời sống …
Có thể nói sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn thời đại Phục hưng
phương Tây là một bước ngoặt quan trọng trong q trình giải phóng
tinh thần và tự ý thức của nhân loại. Cùng với cuộc đấu tranh giải phóng
con người về các phương diện chính trị - xã hội và các phương diện

khơng phải đợi sự ra đời của giai cấp tư sản với cơ sở ý thức hệ của nó là
ý thức hệ tư sản đang trưởng thành, đấu tranh chống lại ý thức hệ phong
kiến đang thống trị thì văn học các dân tộc mới hướng đến lý tưởng nhân
văn, mới mang tính nhân văn.
1. Nhìn lại kho tàng văn học dân gian và văn học viết dân tộc từ
nửa đầu thế kỷ XVIII trở về trước - nghĩa là trước khi nền văn học dân
tộc xuất hiện trào lưu nhân văn chủ nghĩa - chúng ta thấy có một sự biểu
hiện rất sinh động của một lý tưởng nhân văn Việt Nam, của tính nhân
văn Việt Nam trong văn học thờ
i kỳ trung đại.
Khi hai người con gái và con trai trao đổi với nhau về cơng việc
lao động mà cũng có thể là trao đổi với nhau về tình u bằng những câu
hát dân gian đẹp như thế này:
- Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng,
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng,
Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?
thì khơng chỉ có ở đây sự chân thực (CHÂN), sự tế nhị, cao thượng
(THIỆN), mà còn có cả cái đẹ
p của niềm vui và ước vọng trong lao
động, trong tình u (MỸ). Trong truyện cổ dân gian cũng khơng thiếu
những ví dụ. Chẳng hạn hình tượng cơ Tấm, Sọ Dừa … Với văn học viết
cũng vậy. Trong Truyền kỳ mạn lục, chúng ta dễ dàng đọc được những
câu chuyện đề cập đến quyền sống của con người, tình u trai gái, hạnh
phúc lứa đơi, tình nghĩa vợ ch
ồng, biểu dương những tấm gương tiết
nghĩa, nhân hậu, thủy chung … (Chuyện người con gái Nam Xương,
Chuyện người nghĩa phụ ở Khối Châu,…), trừng phạt bọn người gian
)
16

tư sản.Thế nhưng, sự phát
triển đó lại rất tương ứng với tình hình cuộc đấu tranh quyết liệt. Đúng
như ý kiến nhận xét của Mác: “Đối với nghệ thuật có những thời kỳ phồn
vinh nhất định, tuyệt nhiên khơng có quan hệ gì với sự phát triển chung
của xã hội cả, và do đó cũng tuyệt nhiên khơng có quan hệ gì với cơ sở
vật chấ
t, với cái cốt cách của xã hội, nếu có thể nói như thế
được”(40a.17) .
Tìm hiểu các tác phẩm tiêu biểu của giai đồn này, đặc biệt là các
sáng tác trong bộ phận văn học chữ Nơm, có thể thấy rằng tất cả đều tập
)
17
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
trung vào vấn đề con người, nhận thức con người, đề cao con người, đấu
tranh với mọi thế lực đen tối, phản động của xã hội phong kiến để khẳng
định những giá trị chân chính của con người. Nguyễn Du, Hồ Xn
Hương, Phan Huy Ích (?), Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Cao Bá
Qt… bằng tài năng nghệ thuật của mình đã trở thành “những người
sản sinh ra chủ nghĩa nhân văn” (M. Gorki) (24.61) trên c
ơ sở hấp thụ
truyền thống nhân văn của dân tộc. Những hình tượng nhân vật chính
diện, nhất là những hình tượng nhân vật phụ nữ, đã trở thành những biểu
hiện sinh động cho lý tưởng nhân văn của dân tộc ta thời đại bấy giờ.
Tập trung vào con người, các tác giả tiêu biểu đã đi sâu nêu bật
vấn đề giải phóng tình cảm của con ngườ
i và những ràng buộc phản
nhân văn của xã hội phong kiến. Tác giả Chinh phụ ngâm đã đứng về
phía người chinh phụ tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa làm tan vỡ
hạnh phúc, tình u và tuổi trẻ của họ. Nguyễn Gia Thiều qua Cung ốn
ngâm khúc khơng chỉ nói lên tiếng nói phẫn nộ, tố cáo của những người

phúc của lứa đơi, của tuổi trẻ. Bằng sự bóc trần thự
c trạng đời sống, nhất
là đời sống nội tâm tràn ngập sầu đau cùng những nỗi niềm lo âu, sợ hãi,
đợi chờ của một người vợ trẻ đầm đìa nước mắt, hằng ngày ln phóng
tầm mắt đến một phương trời xa thẳm trơng ngóng tin chồng, tác phẩm
đã nêu lên một luận đề có tính chất mn thuở của xã hội: Chiến tranh
và Hòa bình. Điều cần quan tâm là tuy xuấ
t thân từ tầng lớp trên nhưng
với cách nhìn tiến bộ xuất phát từ một lập trường nhân văn vững chắc,
dù khơng nói ra nhưng đối chiếu với thực tế lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta
vẫn thấy được cuộc chiến tranh tác giả phản ánh trong Chinh phụ ngâm
chính là những cuộc chiến tranh phi nghĩa mà giai cấp phong kiến thống
trị phát động nhằm chống lại các phong trào nhân dân khởi ngh
ĩa hết sức
rầm rộ lúc bấy giờ.
Khơng thể nói hết tính chất bi kịch trong tâm trạng của người
chinh phụ. Bằng tài năng nghệ thuật trác tuyệt, tác giả Chinh phụ ngâm
đã đi vào chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn người chinh phụ, khắc họa
nên một bức tranh tuyệt vời về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt
Nam mà chúng ta đ
ã từng gặp trong ca dao - dân ca, các truyện Nơm
bình dân. Ở đây, vẻ đẹp ấy đã được nâng cao một cách đáng kể nhờ vào
sự gia cơng của văn chương bác học. Khơng một ai là khơng cảm thán
trước vẻ đẹp vơ ngần về tình cảm, sự thuần khiết cao q về đức hạnh,
sự mẫn tuệ và khả ái về tâm hồn của nàng. Tầm vóc cao đẹp của tình
cảm, đức hạnh và trí tuệ đ
ó ở người phụ nữ Việt Nam thế kỷ XVIII, mà
nàng là một đại diện, khơng hề thua kém với những người phụ nữ ta đã
biết trong văn học phương Tây - chẳng hạn nàng Penelope của Hy Lạp
cổ đại trong tác phẩm bất hủ của thi hào Homer : Odyssey. Thế nhưng,

nhân v
ăn của tác giả và của thời đại là hình tượng nhân vật Thúy Kiều,
nhân vật trung tâm của tác phẩm. Truyện Kiều, do đó, là một tác phẩm
mang tính nhân văn sâu sắc.
Dù mở đầu bằng những câu triết lý và kết thúc tác phẩm cũng
bằng những câu triết lý, Truyện Kiều cũng khơng vì lẽ đó mà trở thành
một quyển tiểu thuyết luận đề. Có thể thấ
y tồn bộ tác phẩm vĩ đại này là
một bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại nhà thơ đang sống, trong
đó Nguyễn Du muốn làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa quyền sống của
con người, nhất là của người phụ nữ, với sự áp bức của chế độ phong
kiến lúc suy tàn.
Thúy Kiều là nhân vật kết tinh những khao khát tình cả
m của
người phụ nữ thời trước, những ước mơ vươn tới cái gì là đáng sống, là
tốt đẹp ở đời. Bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp Nguyễn Du trao cho Kiều,
)
20
Luận án Thạc só khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
khơng phải để trang sức, mà là để khẳng định cái đặc trưng trong tính
cách của nàng. Bên cạnh cái tài, cái sắc tuyệt đỉnh, Th Kiều còn là
người phụ nữ ln ln tự ý thức để nhận thức đúng đắn mọi quan hệ xã
hội, đồng thời khơng ngừng vươn lên đỉnh cao của giá trị làm người.
Ước mơ cao nhất của Kiều là được hưởng hạ
nh phúc lứa đơi, giữ trọn lời
thề với Kim Trọng. Vậy mà ước mơ đó đã bị đập vỡ tan tành. Thay vào
Kim Trọng là Mã Giám Sinh, là Sở Khanh, là lầu xanh của Tú Ba. Gặp
Thúc Sinh, dù đã chủ động dẫn dắt Thúc tìm ra một giải pháp lâu dài,
nhưng với tính cách bạc nhược của Thúc, cuộc sống lẻ mọn của nàng
cũng tan theo mây khói. Hoạn Th

khơng có gì có thể lung lạc, tha hóa họ được. Trước sau, họ vẫn quyết
)
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status