Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn - Pdf 25

Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 0 Phạm Thị Thu Hà

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ THU HÀ

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TIỂU
THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 32

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Văn Nam Hà Nội – 2010

Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn


3.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 95
3.2.1. Miêu tả tâm lí nhân vật thông qua hành động 96
3.2.2. Miêu tả tâm lí nhân vật thông qua lời nói 102
3.2.3. Miêu tả tâm lí nhân vật thông qua ngoại cảnh 114
Kết luận 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 3 Phạm Thị Thu Hà

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cội nguồn của văn học là con người. Chính cuộc sống của con người đã khơi
nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nhà văn nghệ sĩ. Mỗi tác phẩm văn học được viết ra
không gì khác là để phản ánh cuộc sống của con người. Tuỳ từng thời kì lịch sử khác
nhau mà vấn đề con người được đề cập đến ở những phương diện khác nhau. Như vậy,
qua hình ảnh con người được phản ánh trong văn học người đọc có thể nhìn ra được
những quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn và tư tưởng thời đại chi phối sáng tác của
họ. Tìm hiểu hình tượng nhân vật cũng là một điểm mấu chốt để khám phá tài năng đích
thực của nhà văn và những đóng góp của họ trong nền văn học
Vấn đề con người từ lâu đã trở thành thước đo giá trị của văn học, là cơ sở để
đánh giá vị trí các hiện tượng văn học trong tiến trình văn học nước nhà. Tìm hiểu một
tác phẩm văn học thì điều trước tiên có lẽ là phải chú ý đến hệ thống nhân vật trong tác
phẩm đó. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhận định rằng: “Không thể lí giải một hệ
thống văn, thơ mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó. (…). Vấn đề quan niệm
nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc

tác. Điều đó cho thấy các tác giả Tự Lực văn đoàn đã dành tình cảm ưu ái như thế nào
cho người phụ nữ trong xã hội. Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam – những
cây bút chủ chốt của Tự Lực văn đoàn đều tỏ ra hết sức bênh vực những nhân vật phụ nữ
trong cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống tinh thần.
Từ những lí do đó chúng tôi chọn đề tài xem xét hình tượng người phụ nữ trong
tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn để qua đó có thể nhận ra được sự đổi mới cả về tư tưởng
và nghệ thuật trong việc khắc hoạ hình tượng người phụ nữ. Đây không phải là vấn đề
hoàn toàn mới mẻ, nhưng mỗi người có cách tiếp cận và khai thác khác nhau sẽ cho
những cách hiểu khác nhau và vấn đề được nghiên cứu sẽ phong phú hơn lên. Mặt khác,
tìm hiểu nhân vật cũng chính là tìm hiểu về tư tưởng, quan điểm, tài năng của tác giả,
chúng tôi mong muốn qua việc phân tích những hình tượng người phụ nữ trong tiểu
thuyết Tự Lực văn đoàn sẽ đưa lại những kết quả để một lần nữa nhận ra chỗ mạnh, yếu,
góp phần đánh giá về hiện tượng văn học đặc biệt này.
2. Lịch sử vấn đề.
Từ khi ra đời đến nay Tự Lực văn đoàn đã trở thành tiêu điểm chú ý của giới nghiên
cứu văn học. Có rất nhiều công trình xuất sắc nghiên cứu từ trước năm 1945 ở cả hai
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 5 Phạm Thị Thu Hà

miền Nam Bắc. Nhưng ý kiến đánh giá lại không hoàn toàn nhất quán, thậm chí trái
ngược nhau. Ý kiến khen cũng nhiều nhưng chê cũng không ít.
Trước năm 1945 đã xuất hiện các công trình của Trương Chính. Trong cuốn Dưới
mắt tôi (1939), ông đã dành nhiều trang để đánh giá những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu
của Khái Hưng, Nhất Linh đang “làm mưa làm gió” trên văn đàn thời đó với thái độ tôn
trọng, ghi nhận sự tiến bộ, mới mẻ. Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử
yếu (1941), đã dành hẳn bốn trang đánh giá về Tự Lực văn đoàn, chủ yếu là Nhất Linh
và Khái Hưng, nhận định rằng Nhất Linh thiên về tiểu thuyết luận đề, còn Khái Hưng
thiên về khuynh hướng lí tưởng. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong bộ Nhà văn Việt
Nam hiện đại (1942) cũng đã dành hơn một trăm trang đánh giá về Tự Lực văn đoàn,

các bài phê bình của Nam Mộc, Nguyễn Đức Đàn….Nhìn chung các công trình chủ yếu
tập trung phê bình nội dung xã hội của tác phẩm trên phương diện chính trị, đạo đức, tư
tưởng. Họ có cái nhìn khắt khe đối với Tự Lực văn đoàn, cho những tác phẩm này “căn
bản là bạc nhược, suy đồi” vì không cổ vũ con người hành động trong cảnh nước mất
nhà tan mà “ru ngủ thanh niên” trong những chuyện tình cảm lãng mạn. Trong khi hàng
nghìn người đang sống chết cho một lí tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc, giải phóng con
người thì Tự Lực văn đoàn lại để cho các nhân vật của mình chìm đắm trong giấc mộng
tình yêu, hạnh phúc cá nhân. Vì thế nên Tự Lực văn đoàn được xem như là “cơ hội chủ
nghĩa”, “tư tưởng tiểu tư sản”, “lãng mạn thoát ly”….
Từ năm 1986 đến nay, hiện tượng Tự Lực văn đoàn đã được nhìn nhận lại một cách
khách quan và công bằng hơn. Chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã thực sự
thổi luồng sinh khí mới và “cởi trói” về mặt tư tưởng cho các văn nghệ sĩ và các nhà
nghiên cứu phê bình. Họ được tự do hơn trong việc tiếp cận theo những góc nhìn khoáng
đạt hơn, được mạnh mẽ và thẳng thắn cả khi khen và chê một cách khách quan và khoa
học. Các hiện tượng văn học, các nghi án văn học được đánh giá, xem xét lại với thái độ
bình tĩnh và khách quan hơn. Tự Lực văn đoàn cũng nằm trong quỹ đạo đó. Nhiều bài
nghiên cứu, chuyên luận mới ra đời. Họ có những cách nhìn mới về văn xuôi Tự Lực văn
đoàn. Huy Cận trong cuộc Hội thảo về Tự Lực văn đoàn ngày 27 tháng 5 năm 1989 tại
khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội đã đi tới kết luận: “Tự Lực văn đoàn đã có
những đóng góp lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng
góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc, với lối văn trong sáng và rất Việt Nam” [25,
9]. GS. Hà Minh Đức cho rằng Tự Lực văn đoàn với những tiền đề về văn hoá xã hội
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 7 Phạm Thị Thu Hà

mới đã “tạo nên những giá trị mới cho văn học”. Còn GS. Phan Cự Đệ khẳng định: “tiểu
thuyết Tự Lực văn đoàn có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những năm 30
của thế kỉ, đổi mới từ quan niệm nghệ thuật cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học
trên con đường hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng và giàu có hơn.” [35,

khẳng định bản chất, không để cho quy luật sinh tồn đào thải. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với
những công trình trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề chống phong kiến, tính dân chủ, cá
nhân, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ….là những mảng được chú ý nhiều. Còn
hình tượng người phụ nữ có được xem xét nhưng còn tản mát, chưa có hệ thống, chủ yếu
là để chứng minh cho nội dung trung tâm của văn đoàn đó là chống lễ giáo phong kiến
mà người phụ nữ là nạn nhân tiêu biểu. Có thể nhắc tới bài viết Nhìn lại vấn đề giải
phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn của Trương Chính. Lê Thị Dục Tú
trong cuốn Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn có đề cập đến
hình tượng người phụ nữ, đặc biệt là ở chương 2, 3 nói về Thế giới nội tâm và Vẻ đẹp thể
chất. Nhưng nhìn chung những bài viết này chủ yếu khai thác nhân vật để thấy sự đổi
mới về quan niệm, tư tưởng của tác giả so với đương thời, xem xét nhân vật ở bình diện
xã hội, triết học, mĩ học chứ chưa nhìn nhận nhân vật ở góc độ nhân cách con người.
Hình tượng người phụ nữ là hình ảnh quen thuộc và là đề tài quan trọng trong văn
học dân tộc ta. Tuy nhiên mỗi giai đoạn văn học lại có những cách phác họa hình tượng
này khác nhau. Các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo đã xây
dựng nên một hệ thống những nhân vật nữ rất độc đáo, rất hiện thực ở hai giới tuyến:
một phái “nệ cổ” là những phụ nữ đại diện cho xã hội cũ, chịu ảnh hưởng nặng nề của
giáo lý Khổng, Mạnh và phái đối lập là những cô “gái mới” tân thời theo tư tưởng Tây
phương. Cuộc chiến giữa hai phái này làm nảy sinh bao vấn đề trong gia đình, ngoài xã
hội, và chính điều này làm cho tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn trở nên hấp dẫn người đọc.
Qua những trang viết về họ, các nhà văn đã bộc lộ tài năng cũng như tư tưởng tiến bộ
của mình.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Tự Lực văn đoàn là một hiện tượng phức tạp. Những năm đầu xuất hiện họ có những
đóng góp và thành tựu nổi bật nhưng từ năm 1940 trở đi họ nghiêng về hoạt động chính
trị nhiều hơn. Các thành viên chủ chốt của văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng
Đạo tham gia vào các Đảng Việt Quốc, Việt Cách vì thế nên việc đánh giá các tác phẩm
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn


Cấu trúc luận văn.
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 10 Phạm Thị Thu Hà

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ gồm 3 chương:
Chương 1: Những nhân vật phụ nữ phản diện.
Chương 2: Hình tượng người phụ nữ “mới”.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn
đoàn
hành xử như thế nên họ coi đó là chân lí, là chuẩn mực xã hội. Đi ngược lại điều đó là
không thể chấp nhận được.
Thực tế là tư tưởng của Khổng giáo cũng có những mặt tích cực. Quan niệm trên,
nếu được thi hành đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đàn ông có được sự êm ấm
hạnh phúc, dành toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp. Nhưng trong hoàn cảnh giáo dục này,
phụ nữ chỉ là những người nội trợ giỏi, chứ không phải là những người tham gia vào xây
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 12 Phạm Thị Thu Hà

dựng xã hội. Và quan trọng hơn, họ không có quyền sống riêng, không được có tiếng nói
và được biết đến tình yêu và hạnh phúc lứa đôi đích thực. Họ phải sống âm thầm chịu
đựng và nhẫn nại hi sinh, chấp nhận như là cuộc sống tự nhiên của mình. Cuộc sống của
họ là những người tù chung thân không bao giờ thoát khỏi cảnh sống tù đày.
Chính vì sự bất toàn đó, có người ép mình vâng chịu, nhưng cũng có phụ nữ bày
tỏ sự bất phục, như lời tuyên bố hào hùng của TriệuThị Trinh: “ Tôi muốn cỡi cơn gió
mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, quét sạch giặc khỏi bờ cõi, để cứu
dân ta ra khỏi nơi đắm đuối; chớ không thèm bắt chước đám người cúi đầu cong lưng để
làm tì thiếp cho người ta!”. Nhưng người phụ nữ như Bà Trưng, Bà Triệu thì vô cùng
hiếm hoi trong xã hội xưa. Ngay như người tài hoa, sắc sảo, “cái miệng chua ngoa” như
Hồ Xuân Hương cũng chỉ dám thốt lên:
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
( Đề đền Sầm Nghi Đống)
Nhưng cái thiên chức trời sinh ra đã cho là người phụ nữ rồi thì không thể thay
đổi được. Cho nên Hồ Xuân Hương đành ngậm ngùi:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
(Bánh trôi nước)
Hầu hết những người phụ nữ trong xã hội đã ý thức được về phẩm chất tốt đẹp

Tường Cẩm, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Cát Tường, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Xuân
Diệu, Huy Cận…Các nhà văn, nhà báo trong Tự Lực văn đoàn mà Nhất Linh đứng đầu
có tư tưởng duy tân, muốn đả phá cái xã hội với những tập tục, lễ giáo mà thế hệ Nho
Phong gọi là quốc hồn, quốc tuý, đả phá cái hủ tục của dân quê sau luỹ tre làng, đả phá
cái không khí bạc nhược, chán nản, bi quan để thay vào đó là cuộc sống sôi động, vui vẻ,
trẻ trung, đề cao tự do cá nhân, cổ vũ con người sống thoả mãn nhu cầu của bản thân,
giải thoát con người khỏi những trói buộc của khuôn vàng thước ngọc, đạo lí, luân lí giáo
điều. Những điều đó được nhóm cụ thể hoá thành tôn chỉ hành động mà Hoàng Đạo đã
đưa ra trong bài Mười điều tâm niệm cho thanh niên (báo Ngày nay 1936).
Tự Lực văn đoàn tỏ ra là một tổ chức văn học rất qui củ và hoàn toàn khác. Trong
lịch sử, các thi xã thường phải dựa vào thế lực của tầng lớp bên trên như vua quan, hay
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 14 Phạm Thị Thu Hà

lãnh chúa một vùng, chẳng hạn Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông, Chiêu Anh các của
Mạc Thiên Tích, Mặc Vân thi xã của Anh em Miên Thẩm. Các thi xã đó thành lập để
thoả mãn nhu cầu muốn được đàm đạo thơ văn, coi đó là một thú vui tao nhã nên chỉ lấy
việc ngâm vịnh văn chương để chơi. Sáng tác của họ chỉ nhằm mục đích tự thân, để nêu
cao gương sáng, tư tưởng trung quân ái quốc, vua sáng tôi hiền…Họ làm thơ để cho mọi
người noi theo, răn dạy những điều hay, lẽ phải, những điều được ca tụng. Tự lực văn
đoàn trái lại, là sự tập hợp những con người không có quan tước, cũng không có thế lực
nào bảo trợ. Họ viết văn như là một phương tiện, một nghề để kiếm sống nhưng không vì
thế mà thương mại hoá nghệ thuật. Chính vì coi đó là cần câu cơm của mình cho nên
muốn được công chúng đón nhận, họ phải viết hết mình, luôn phải sáng tạo, tìm tòi, trăn
trở viết thế nào cho hay, cho hợp với tâm lí độc giả để sách báo bán chạy. Nếu như
không lao động nghệ thuật nghiêm túc, họ sẽ bị đào thải và lu mờ nhanh chóng. Văn
chương Tự Lực văn đoàn không chỉ nhằm để nuôi sống bản thân, gia đình mà còn có ý
nghĩa cải tạo xã hội sâu sắc. Sau ba năm, Hoàng Đạo đã tổng kết rằng: « Ba năm qua, sự
thay đổi của phong tục lễ nghi tuy chưa rõ rệt nhưng sự thay đổi linh hồn dân ta đã ngấm

yêu trong sáng đích thực. Hồ Xuân Hương mạnh mẽ khẳng định giá trị của bản thân và
lớn tiếng bảo vệ cho giới nữ:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.
Thế nhưng họ càng vùng vẫy thoát ra thì dường như lại càng bị chìm sâu hơn nữa.
Thuý Kiều vẫn phải đầu hàng số phận, chấp nhận hi sinh mối tình đầu đẹp như mơ để
làm tròn phận sự mà đạo lý Nho gia đã định sẵn: “Làm con trước phải đền ơn sinh
thành”. Hồ Xuân Hương vẫn phải hai lần cam chịu thân phận lẽ mọn lạnh lùng.
Sang đến thế kỉ XX, nàng Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã thể hiện ý thức độc
lập về hạnh phúc nhưng vẫn còn rất yếu ớt, mong manh, không đủ sức chống chọi với
thành luỹ kiên cố bao đời của thế lực phong kiến, cuối cùng đành chấp nhận kết cục đau
khổ, bi thương. Mối tình sầu thảm bi đát ấy đã khơi mào cho thơ văn ái tình lãng mạn bắt
đầu hình thành với những tiếng khóc nỉ non. Văn chương lúc này vô hình chung là phải
theo cái điệu sầu cảm, buồn rớt mộng rớt, luyến tiếc về mối tình đẹp dang dở. Với những
nam thanh nữ tú lúc bấy giờ, dường như họ thấy sự dang dở của mối tình mới là đẹp,
mới là đúng mốt. Cho nên chẳng thấy ai nói về sự sung sướng, hạnh phúc hay mối tình
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 16 Phạm Thị Thu Hà

kết thúc có hậu mà chỉ toàn là chia tay, dằn vặt, đau khổ, ước ao. Ngày pháo nổ rợp
đường cũng là ngày bước chân ra đi đầm đìa nước mắt, lưu luyến, xót xa, chấp nhận lấy
người không yêu và giữ trong tim bóng hình xưa. Hay sầu thảm hơn là nhảy xuống hồ
Trúc Bạch tự tử để trọn vẹn với mối tình.
Tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn cũng nói về mối tình lỡ dở, cũng buồn vì hạnh
phúc không thành nhưng không ai nghĩ đến chuyện quyên sinh. Họ luôn tỏ sự phản
kháng, chống lại hoàn cảnh dù mạnh mẽ dữ dội hay âm thầm lặng lẽ. Nhân vật của họ
không than vãn, không khóc lóc nỉ non. Và điều làm cho độc giả thú vị nhất khi đọc tiểu
thuyết Tự Lực văn đoàn có lẽ chính là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa hai thế
hệ phụ nữ mà khoảng cách không được đo bằng thời gian mà bằng sự thay đổi của ý thức

tôn ti trật tự từ hạt nhân nhỏ nhất là gia đình cho tới tầm rộng lớn hơn là quốc gia, dân
tộc. Người phụ nữ góp công vào đó là sự giữ gìn gia đình trong ấm ngoài êm. Cũng
chính vì thế mà họ sống không phải cho mình mà là vì gia đình, vì người thân, vì chồng
vì con. Họ dồn tình yêu thương của mình cho những đứa con, làm mọi việc, kể cả dùng
thủ đoạn ác độc để làm cho con được hạnh phúc, sung sướng. Họ cay nghiệt với người
ngoài để mà giữ tiếng cho chồng, quản lí cơ nghiệp của chồng. Bà Án trong Nửa chừng
xuân (Khái Hưng) biện bạch rằng: “Tôi nào có ác nghiệt gì, tôi chỉ là một người bao giờ
cũng nghĩ tới hạnh phúc của con, cháu, nghĩa là nghĩ tới bổn phận của một người mẹ,
một người đàn bà” [10, tr 365]. Thế nên khuyên con không được thì bà dùng tới kế sách
chia rẽ, làm cho con trai mình nghi ngờ Mai mà dần dần xa lánh, ruồng bỏ Mai. Ngay cả
khi Mai đã mang trong mình giọt máu của dòng giống nhà bà, bà cũng kiên quyết không
chấp nhận, vì mong muốn con trai mình được thăng quan tiến chức, làm ông Huyện, ông
Chánh tương lai. Nếu như lấy Mai làm vợ thì Lộc, con trai bà sẽ mất hết tương lai sáng
lạn, gia đình bà sẽ bị ô nhục, phỉ báng, làm bia miệng tiếng đời cho thiên hạ đàm tiếu. Bà
làm mọi cách, kể cả biết rằng như thế con trai bà sẽ đau khổ và đó là việc thất đức.
Nhưng vì tương lai của con, vì sự danh giá của gia đình, bà bất chấp tất cả. “Phải làm
cho mau mới mong có kết quả. Kể thì cũng hơi ác. Nhưng vì lòng thương con, biết
sao”[10, tr 234]. Có thể nói bà Án là người phụ nữ rất mực thương con, yêu con nhưng
tình yêu đó trở thành mù quáng khi làm cho con trai mình luôn phải sống trong đau khổ,
ăn năn, dằn vặt. Bà thương con bằng tình thương của một người mẹ luôn chú trọng tới
môn đăng hộ đối, tới gia sản gia nghiệp chứ không quan tâm tới cuộc sống tinh thần của
con. Cái giá phải trả cho sự độc ác của bà Án khi từ chối cốt nhục của gia đình đó là vợ
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 18 Phạm Thị Thu Hà

chồng Lộc không có con. Vì sự nối dõi tông đường mà một lần nữa, bà Án lại phải ra tay
để cứu vớt cho gia đình. Bà lặn lội lên tận Phú Thọ, muối mặt hạ mình cầu xin Mai trở
về để bà được nhận cháu đích tôn. Phải là một người mẹ thương con, một người đàn bà
lo toan cho gia đình thì bà Án mới chấp nhận hi sinh danh dự như vậy. Không dễ gì một

tai nói cho bà biết. Bà đau buồn khi mất đi đứa cháu đích tôn mà lại bị Loan nói thẳng
vào mặt bà chính là nguyên nhân thì tất yếu bà không thể chịu nổi. Bà không hiểu và dĩ
nhiên không thể chấp nhận được điều đó. Niềm tin chân lí ăn sâu bám rễ trong đầu khiến
bà không thể ngờ là mình đã phạm lỗi. Trách nhiệm của bà là phải duy trì dòng tộc nên
bà luôn nung nấu ý định tìm vợ bé cho Thân để tránh đường tuyệt tự. Dù biết thiên hạ sẽ
dị nghị, xì xào, bà vẫn tổ chức đám cưới cho con trai duy nhất với con gái nuôi thật
hoành tráng, linh đình. Bà đã đạp trên dư luận, đương đầu với những lời bàn ra tán vào
của xóm làng. Điều đó không phải hoàn toàn là dũng cảm chấp nhận vì lợi ích bản thân
mà sâu xa hơn đó là vì gia đình, dòng tộc nhà chồng mà bà đã cố công vun đắp, gây
dựng.
Cũng giống như bà Phán Lợi, bà Án Ba không muốn mất đi cái gia sản gia nghiệp
kếch xù nên cố công đi tìm người Thừa tự (Khái Hưng). Bà đã phải hạ mình đối đãi tử
tế, ngọt nhạt với ba người con chồng để mong có được người hương hoả cho bà sau này,
và cũng mong để lại cái tiếng gia đình trong ấm ngoài êm, xoá đi những điều dị nghị về
mẹ ghẻ con chồng. Nhìn nhận một cách khách quan, bà Án Ba là người phụ nữ thông
minh, sắc sảo. Một tay bà gây dựng làm cho sản nghiệp của ông Án để lại vốn đã lớn lại
càng sinh sôi nảy nở hơn nữa. Giữa bao nhiêu người khôn ngoan, tinh ranh nhòm ngó
(như sư cụ Giáp, như bà Hai) bà vẫn có cách để bảo toàn tài sản của mình. Bà khôn
ngoan nói những gì nên nói khiến người ta khấp khởi hi vọng, chờ đợi. Bà cũng biết
điểm dừng đúng chỗ để không mất một đồng một xu nào cho thiên hạ. Ngay cả việc kén
rể, dù gặp phải bà mối tinh ranh, sắc sảo, chưa bao giờ chịu thiệt cái gì và chàng rể con
quan huyện chuyên đi đào mỏ, bà cũng chống đỡ được hết. Bà gả được con gái duy nhất
vào chỗ “thơm tho” mà không mất một chút gì cho chàng rể. Tất cả sự khéo léo khôn
ngoan bà đem ra trổ tài ấy không nằm ngoài mục đích bảo vệ tài sản cơ nghiệp bao năm
gây dựng lên và đánh bóng danh dự gia đình. Một người phụ nữ yếu ớt mảnh mai mà
chống đỡ với tất cả thế lực thù địch như thế thiết nghĩ cũng là người giỏi giang, mạnh
mẽ, dũng cảm.
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 20 Phạm Thị Thu Hà

Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 21 Phạm Thị Thu Hà

ấp Thái Hà. Vợ chồng bà cảm thấy vui vẻ, an ủi biết bao nhiêu khi thấy Loan chấp nhận
sự sắp đặt của cha mẹ: “Ông Hai, bà Hai bữa ấy ăn rất ngon miệng vì thấy Loan vui vẻ
chứ không mặt ủ mày chau như mọi lần khi nhà trai đến sêu tết” [17, tr 168]. Cùng tư
tưởng đó nên bà Hai trong Đôi bạn (Nhất Linh) “lúc nào bà cũng tha thiết mong cho con
được sung sướng nên một cái hi vọng mong manh không căn cứ cũng làm cho bà rạo
rực, hồi hộp. (…) việc Loan lấy Thân thế nào rồi cũng thành. Ông bà Phán Lợi giàu có
lại chỉ mình Thân là con trai. Loan về làm dâu nhà ấy chắc sẽ được sung sướng” [18, tr
71]. Cuộc sống gia đình bà khó khăn, chồng phải đi dạy học xa, cái tình của người phụ
nữ ở tuổi xế bóng khi phải xa chồng con cũng thật cảm động. Bà luôn miệng hỏi: “Trên
đấy nước có độc không?” Và luôn thốt lên: “Tôi lo quá”. Chồng đi xa, gánh nặng gia
đình đổ lên vai, bà không chắc số tiền ông Hai gửi về có nuôi nổi mẹ con ở nhà không.
Với một người mẹ, không bao giờ muốn con mình chịu sống khổ sống sở, thế nên bà có
niềm tin là gả con vào nhà giàu sang thì con gái cũng sẽ được giàu sang, danh giá.
Nhưng tiếc rằng suy nghĩ đó của bà chỉ là sự hời hợt nhìn nhận bên ngoài, cái giàu sang
về vật chất không đánh đổi được sự sung sướng về mặt tinh thần.
Bà Nghè trong Lạnh lùng (Nhất Linh) cũng là một người phụ nữ nặng suy nghĩ
như vậy. Việc bà gả Nhung cho nhà bà Án hay không đồng ý cho Phương lấy Luỹ cũng
xuất phát từ mong muốn con được sống sung sướng. Nhưng bà Nghè lại cư xử tỏ ra rất
thương con thực lòng, thương con bằng cách không quả quyết ngăn ngừa hay mắng chửi
con. Trước việc Phương ngỏ ý muốn lấy Luỹ, bà chỉ nói: “Mẹ già nua tuổi tác, cũng
mong con lấy được chồng tử tế ở cùng làng để hôm sớm mẹ con được có nhau”[20, tr
31]. Luỹ là con nhà hèn hạ, lại xa xôi. Với tấm lòng của người mẹ không ai muốn con
mình sa vào chỗ đó. Thế nhưng bà Nghè không quyết liệt phản đối, mà chỉ “thấy buồn”,
“than thở” và khóc thầm thương con. Ngay cả việc Nhung thú nhận tình cảm và ngỏ ý
muốn ra đi cũng Nghĩa, bà cũng tỏ rõ quan điểm: “nếu cô đã muốn lấy chồng thì cái đó
tuỳ…Cho phép cô lấy ông giáo thì tôi không bao giờ cho phép. Cô đã hỏi thì tôi cho cô

con trai trở nên nhu nhược, sống phụ thuộc và không dám quyết điều gì. Thân trở nên
yếu đuối, dựa dẫm vào gia đình cũng là vì thế. Khi xây dựng những nhân vật này, có lẽ
Nhất Linh, Khái Hưng muốn phản ánh những hạn chế, mù quáng, sai lầm của các bà mẹ
không chỉ trong xã hội thời xưa mà ở thời đại nào cũng vậy, nếu cứ chiều theo ý thích
của con, dung túng cho con thì không phải là cách giáo dục đúng đắn.
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 23 Phạm Thị Thu Hà

Ngoài việc thể hiện tình thương con rất mực của các bà mẹ vốn trở thành truyền
thống của dân tộc Việt Nam, có khác chăng là ở những bà mẹ này, tình yêu, cách giáo
dục còn nhiều sai lầm cần lên án, phê phán, các nhà văn Tự Lực văn đoàn còn thể hiện
hình ảnh những người vợ thực sự là “cánh tay phải” của chồng. Đằng sau sự thành công
của người chồng là bao công lao khó nhọc của người vợ. Nga (Gia đình) đã tìm mọi cách
để có thể thuyết phục chồng bước vào quan trường. Nàng áp dụng mọi chiêu bài có thể,
từ cương quyết đến nhẹ nhàng, mềm mỏng, thậm chí cả hờn dỗi, dằn vặt, khóc lóc. Như
thế chưa đủ, nàng còn viện đến cả ông chú chồng, đến cả gia đình nhà mình nữa. Cuối
cùng nàng đã đạt được ước nguyện bấy lâu. An đỗ đạt ra làm quan tri huyện khiến nàng
được mở mày mở mặt. Nhưng khốn nỗi An làm quan mà không ham thú gì, chỉ để vui
lòng vợ, tránh được những xích mích gia đình. Thế nên chàng bê trễ, chểnh mảng việc
quan. Nga lại phải ra tay để bảo vệ chồng. Nàng chấp nhận bỏ ra hai vạn bạc để lo cho
chồng, chưa kể một mình nàng đến hầu cụ lớn, bà lớn, ông quan Tuần, quan Phủ để An
có thể ngồi được ở cái ghế tri huyện tốt. Có thể nói việc làm quan của An là công trình
của Nga, con đường thăng quan tiến chức của An cũng là công lao và tài khéo léo, giỏi
giang của Nga. Nga là người thiết kế và cũng là người thi công công trình này. An chỉ có
việc là ngồi vào ghế quan. An vẫn tiếp tục làm tri huyện được là nhờ Nga thông minh,
chịu bỏ tiền nhà ra mà lo lót cho chồng được êm thấm. Nga quả là người phụ nữ đã đem
danh giá về cho gia đình, làm cho cha mẹ nàng được mát mặt và kiêu hãnh với hàng xóm
có hai con rể là tri phủ, tri huyện. Bản thân vợ chồng Nga thì được trọng vọng, được kêu
ông lớn, bà lớn, quyền uy trong tay cai trị cả một huyện rộng lớn và tốt nhất trong hàng

không biết đến đâu mà kể” [7, tr 427]. Không chỉ vì tình yêu cao thượng của Chương mà
Tuyết hành xử như thế mà “Tuyết vẫn có tình khẳng khái và tự trọng, tuy Tuyết đã sống
một đời xấu xa, nhơ nhuốc. Tuyết cho dù tấm thân Tuyết có dơ bẩn đến đâu, Tuyết cũng
không có quyền để ai bình phẩm được danh dự của nhà Tuyết, của cha mẹ Tuyết” [7, tr
507]. Những hành động đó cho thấy Tuyết vẫn còn là một người có nhân cách, có lòng
tự trọng, không phải là hạng gái làng chơi vô liêm sỉ, mất hết danh dự, đáng lên án,
khinh rẻ.
Qua việc khắc hoạ nhân vật xấu nhưng vẫn để lại trong người đọc dư âm của một
chút lòng thương cảm, xót xa, vừa giận lại vừa thương đã cho thấy các nhà văn vẫn có
niềm tin thánh thiện vào giá trị nhân phẩm của con người. Nhất Linh, Khái Hưng muốn
thông cảm với họ, chia sẻ những khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc đời. Phải có cái
Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn

Luận văn thạc sỹ 25 Phạm Thị Thu Hà

nhìn nhân đạo sâu sắc thì nhà văn mới xây dựng lên được hình tượng nhân vật như vậy.
Nếu đọc thoáng qua, tưởng như nhà văn phê phán họ, nhưng thực ra các ông vẫn bênh
vực, cảm thông nên mới để Tuyết còn giữ được nhân cách như vậy, để cho nàng vẫn
được là Người, được người ta cảm thông, thương xót. Điều này có thể tìm thấy nét đồng
điệu trong nhân vật Tám Bính của Nguyên Hồng. Một bỉ vỏ chuyên móc túi, trộm cắp đã
thành nghề nhưng không bị người ta ghét bỏ, khinh thường bởi chính vẻ đẹp trong tâm
hồn, trong nhân cách còn lưu lại qua tình mẫu tử với đứa con trai duy nhất đã mất tích
bao năm trời. Hay như cô Diên trong Nửa chừng xuân, một cô gái giang hồ nhưng trong
tác phẩm lại hiện lên như một ân nhân của chị em Mai. Khi Huy ốm nặng, Mai túng bấn,
khó khăn, Diên đã chủ động đi mời bác sĩ đến, tận tình chăm sóc chị em Huy trong
những ngày tháng đen tối của cuộc đời. Diên giúp với tấm lòng vô tư không toan tính.
Dù là gái giang hồ nhưng Diên rất thương người. Huy từng nói với Mai: “Chị ấy tốt lắm,
không những thương Trọng, mà còn đem lòng thương chung cả những người khốn khổ ở
trên đời…Em vẫn ái ngại cho chị ấy là người thông minh, có nhan sắc mà sao lại bị sa
vào cái cảnh bùn lầy như vậy” [10, tr 118]. Một lần nữa Khái Hưng lại muốn chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status