BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Minh Tuyến
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Phạm Thị Minh Tuyến
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Năm 1990, khi trả lời những câu hỏi xung quanh vấn đề về Tự lực văn đoàn, nhà thơ Lưu Trọng
Lư đã khẳng định: “Điều tôi muốn lưu ý là phải tìm ở họ cái gì của Việt Nam”.
Tự lực văn đoàn là tên gọi của một nhóm các nhà văn, nhà thơ xuất hiện trên văn đàn Việt Nam
từ năm 1932. Tính đến nay đã được trên bảy thập niên, vậy m
à cái tên Tự lực văn đoàn với những sáng
tác văn chương của họ vẫn luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Số lượng công trình
nghiên cứu, bài tham luận về Tự lực văn đoàn có thể nói là vô cùng phong phú. Cụ thể hơn, nhóm văn
đoàn này đã được nghiên cứu, tìm hiểu dưới nhiều góc độ như: chính trị - xã hội, tôn giáo, phương
pháp sáng tác, thi pháp học, dân tộc học, văn hóa học … Nội dung phong tục trong tiểu thuyết Tự lực
văn đoà
n cũng đã được ít nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Tuy nhiên, cho đến nay nội dung này vẫn
chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, chưa được lý giải và phân tích cặn kẽ, và đặc biệt là ít được
tiếp cận dưới góc độ văn hóa học. Hơn nữa, trong những năm gần đây, vấn đề giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc, hướng đến mục tiêu “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản
sắc dân tộc” cũng là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện luận văn:
“Đề tài phong tục Việt Nam trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”. Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ có điều kiện đi sâu tìm hiểu
những vấn đề phong tục trong tiểu t
huyết Tự lực văn đoàn để có thể hiểu thêm về con người, xã hội
Việt Nam vào những năm 1930 – 1945, thời kì bắt đầu của quá trình mở rộng giao lưu với phương
Tây, để nhận ra đâu là những truyền thống tốt đẹp của cha ông mà hôm nay chúng ta cần giữ gìn và
phát huy, đâu là những hủ tục lạc hậu cần phải xóa bỏ. Thực hiện đề tài này, chúng tôi rất muốn được
góp t
n, ông xếp Con trâu và Chồng con của Trần Tiêu vào loại tiểu thuyết phong tục viết về
một vùng miền của đất nước.
Trong cùng năm
này, cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm ra đời cũng đã
công nhận: “công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hưởng về đường xã hội và đường văn học” 34
,
tr. 21. Theo Dương Quảng Hàm, phong tục tập quán thời xưa vừa có mặt hay, mặt không hay. Tác
phẩm của các nhà văn Tự lực văn đoàn có quan tâm phản ánh phong tục tập quán nhưng chưa thật xác
đáng. Như tục đàn bà góa phải thủ tiết thờ chồng trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng hạn.
Nhà văn chỉ chủ yếu tập trung làm rõ những ràng buộc k
hắt khe đối với người phụ nữ mà chưa đề cập
đến ý nghĩa cao đẹp của tục lệ. Dù vậy nhưng nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm vẫn dành
nhiều lời khen tặng cho nhóm văn Tự lực văn đoàn và đánh giá rất cao chủ trương cải cách xã hội của
họ.
Năm 1942, Vũ Ngọc Phan cho ra mắt công trình Nhà văn hiện đại. Nhà nghiên cứu công trình
này c
ho rằng tiểu thuyết Việt Nam có mười loại tất cả. Riêng trong nhóm Tự lực văn đoàn, theo Vũ
Ngọc Phan, có đến bốn nhà tiểu thuyết. Hai nhà văn Khái Hưng và Trần Tiêu được ông xếp vào những
nhà tiểu thuyết phong tục; Nhất Linh là nhà tiểu thuyết luận đề, còn Thạch Lam là nhà tiểu thuyết tình
cảm. Đặc biệt, khi đi vào giới thiệu từng nhà văn, Vũ Ngọc Phan đã chọn lọc được những tác phẩm
tiêu biểu và đưa ra nhiều đánh gi
á rất cụ thể. Về tác phẩm Thừa tự của Khái Hưng, ông kết luận rằng:
“Rút cuộc ta thấy gì? Sự thiết lập ấy trong gia đình và xã hội Việt Nam, nếu xét đến nguồn gốc, cũng
đã là vô lý lắm rồi, không đợi đến khi nó biến tính như ngày nay. Ngày nay người lợi dụng nó coi nó
như một miếng mồi. Một miếng mồi đáng đem ra để nhử, một miếng mồi đáng thèm thuồng, mà người
ta tưởng như không có sự xấu xa và nhục nhã. Chả có t
rong xã hội Việt Nam lại có những cuộc tranh
luận, những cuộc âm mưu về thừa tự. Thật khốn nạn! Tất cả cái khốn nạn ấy, ta đã thấy trong những
hành động của mấy nhân vật của Khái Hưng một tiểu thuyết gia tả phong tục rất là s
âu sắc” 83, tr.
những thắc mắc lo âu, những nỗi niềm vui sướng hay sầu thảm của cả một thế hệ; thanh niên, học
sinh, tiểu tư sản, trí thức là những độc giả trung thành của họ” [117, tr. 11]. Các nhà văn Tự lực văn
đoàn một mặt đả phá những cái lỗi thời, phản tiến bộ, nhất là chế độ đại gia đình; một mặt họ kêu gọi
dân chúng sống một đời sống mới, tự do tự lập. The
o nhận định của nhà nghiên cứu này thì nhóm Tự
lực văn đoàn với “Những tư tưởng mà họ truyền bá được hoan nghênh như một làn gió mới và gây
nhiều ảnh hưởng” [117, tr. 11].
Năm 1961, cuốn Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 – 1945 của Thanh Lãng chia tiểu thuyết Việt
Nam những năm 1932 ra làm tám ý hướng: đấu tranh, tình cảm, thi vị, truyền kỳ, hồi ký
, hài hước,
phong tục, tả thực. Theo đó, Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo là ba nhà văn có tác phẩm thuộc ý
hướng đấu tranh. Cụ thể, đó là các tác phẩm như Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng: “Nhưng
trọng tâm của cuộc đấu tranh tư tưởng trong giai đoạn thứ nhất này là đánh vào chế độ đại gia đình.
Hai chiến sĩ chỉ huy tác chiến là Nhất Linh và Khái Hưng” [59, tr. 97]. Mặc dù thừa nhận Nhất Linh,
Khái Hưng và Hoàng Đạo cũng có viết những tác phẩm thuộc ý hướng tình cảm như Nắng thu, Đôi
bạn, Bướm trắng, Gia đình, … “Với Nắng thu, Nhất Linh tả mối tình hồn nhiên, lãng mạn, trong sạch,
đau đớn của một sinh viên trí thức đối với một thiếu nữ câm nhưng thông minh và nhan sắc” [59, tr.
112] nhưng Thanh Lãng cho rằng ở những nhà văn này c
hủ trương chống Nho giáo rõ ràng hơn, quyết
liệt hơn: “Tất cả cái khác, cái mới quyết liệt, cái mới phũ phàng của Tự lực văn đoàn là ở chỗ ấy” [60,
tr. 29].
Năm 1972, trong Lịch sử văn học Việt Nam giản ước tân biên do nhà xuất bản Phạm Thế ấn
hành, Phạm Thế Ngũ sau khi điểm qua nội dung các tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Li
nh, Thạch Lam
… cũng đã đánh giá rất cao về phương diện tư tưởng, văn học của cả nhóm Tự lực văn đoàn: “Về
đường tư tưởng, chủ trương duy tân và cấp tiến họ đưa ra tác động như một cơn lốc thổi vào cái xã hội
trì trệ trước 1932”, “Tuy nhiên về đường văn học, đứng trên lập trường văn học sử, không ai có thể
chối cãi vai tuồng x
ây dựng, những tiến bộ quan trọng mà họ đã thực hiện cho văn quốc ngữ” [77, tr.
đường hiện đại hóa, làm cho ngôn ngữ trở nê
n trong sáng và giàu có hơn” [21, tr. 37].
Đặc biệt, năm 1995, Trần Đình Hượu với bài viết Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục
của lịch sử, qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông in trong cuốn Nho giáo
và văn học Việt Nam trung cận đại khẳng định: “Tự lực văn đoàn đô thị hóa, Âu hóa có mới mẻ, xa lạ
nhưng không phải không dân tộc. Cái đẹp trong văn chương Tự lực văn đoàn là Việt Nam chứ không
phải Tàu, k
hông phải Tây”, và “Tự lực văn đoàn là một hiện tượng phải nhìn – hay phải nhìn thêm –
theo cách khác như vậy. Nhìn thêm từ một góc độ khác chắc chắn ta sẽ hiểu hiện tượng rõ hơn” [26, tr.
578], [26, tr. 579].
Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 của Nguyễn Đăng Mạnh tái bản năm 1999,
trong phần viết về Tự lực văn đoàn, có đoạn đã nhận xét thêm: “nói chung đề tài là chuyện tình yêu,
chủ đề là
ca ngợi tư tưởng, văn hóa, văn minh phương Tây, đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, cho tình
yêu và hôn nhân tự do, chống lễ giáo phong kiến, đề cao lối sinh hoạt của phương Tây hiện đại, cổ vũ
phong trào Âu hóa từ tư tưởng, văn chương nghệ thuật, (…) Họ cũng có tinh thần dân tộc, dân chủ,
cũng tỏ ra biết thương xót người nghè
o khổ” [71, tr. 52-53].
Đến Tự lực văn đoàn trào lưu – tác giả của Hà Minh Đức vừa mới được nhà xuất bản Giáo dục
giới thiệu tháng 5/2007 – một công trình nghiên cứu mới nhất về Tự lực văn đoàn – ngoài phần Khảo
luận chung về Tự lực văn đoàn, phần phân tích một số tác phẩm tiêu biểu, tác giả cuốn sách đã tập hợp
đư
ợc một cách có chọn lọc những bài nghiên cứu Tự lực văn đoàn về nhiều khía cạnh khác nhau từ
trước đến nay. Liên quan đến nội dung phong tục có bài của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Phạm Thế
Ngũ, Bạch Năng Thi, Nguyễn Hoành Khung, Vũ Đức Phúc, Lê Thị Đức Hạnh, …..
Ngoài những cây bút lý luận phê bình cũ, từ thập niên 90 đến nay, nghiên cứu về Tự lực văn
đoà
n ta còn phải kể đến khá nhiều gương mặt mới như Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Thị Dục Tú, Phạm
Thanh Hùng, Trịnh Hồ Khoa, Phạm Thị Thu Hương, Đặng Ngọc Hùng, Cao Thị Ngọc Hà, Huỳnh Thị
Hoa, …. Tất cả đã tạo được một không khí sôi nổi, khách quan, và khoa học nhằm đưa đến những nhận
Riêng mảng tiểu thuyết,
Tự lực văn đoàn đã cho ra đời hơn hai mươi tác phẩm. Vì vậy, phương pháp phân loại là phương pháp
được chúng tôi sử dụng đầu tiên. Phương pháp này giúp chúng tôi phân loại được tiểu thuyết phong tục
với các tiểu thuyết khác. Đồng thời, cũng nhờ nó, chúng tôi xác định được đặc điểm chung và riêng về
nội dung và hình thức của những tác phẩm thuộc thể tài này. Do đó, có thể khẳng định rằng, phân l
oại
và hệ thống là hai phương pháp nghiên cứu được chúng tôi sử dụng xuyên suốt.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Kh
i đi vào từng sáng tác, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp
phân tích để tìm hiểu tác phẩm được cụ thể trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Và sau đó,
phương pháp tổng hợp sẽ được dùng để khái quát lại vấn đề.
- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp không thể thiếu được trong bất kì một cô
ng trình nghiên
cứu khoa học nào. Ở đây, so sánh giúp chúng tôi nhận ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các nhà
văn trong nhóm Tự lực văn đoàn, giữa các sáng tác phong tục của Tự lực văn đoàn với các sáng tác
phong tục của các tác giả khác.
- Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc độ văn hóa học, dân tộc học: “văn hóa là không gian,
bầu không khí để trên đó cây văn học nảy nở”, trong quá trình nghiên cứu tiểu thuyết của Tự lực văn
đoàn, chúng tôi nhận t
hấy việc sử dụng xuyên suốt phương pháp tiếp cận văn hóa học, dân tộc đã giúp
chúng tôi tìm hiểu rõ về vai vai trò sáng tạo những mô hình văn hóa, cũng như những phê phán có tính
văn hóa trong những tiểu thuyết của các nhà văn Tự lực văn đoàn. Đồng thời, phương pháp tiếp cận
này cũng đã giúp ích rất nhiều trong việc xác định những điểm mới của văn hóa được phản ánh trong
văn học ở từng thời kì.
5. Đóng góp của luận văn
Đề tài phong tục Việt Nam trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn được chúng tôi thực hiện nhằm
khảo sát bức tranh phong tục trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Trên cơ sở đó luận văn sẽ cho thấy
rõ những t
hành tựu của văn đoàn này trong việc phản ánh hiện thực đời sống xã hội, những đóng góp
qua cái nhìn tiến bộ đậm chất nhân văn và cả những quan điểm còn lệch lạc về vấn đề phong tục qua
1.1. Khái niệm Phong tục và Tiểu thuyết phong tục
1.1.1. Khái niệm Phong tục
Khi nói đến nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc, người ta thường hay nói đến phong tục
tập quán. Phong tục tập quán là một phạm trù dùng để chỉ tổng thể những thói quen trong cuộc sống
hàng ngày mang những nét đặc trưng riêng của một địa phương, một dân tộc hoặc một đất nước. Đây
là những thói quen được hình t
hành do tính đặc thù của điều kiện địa lý, kinh tế, lịch sử, văn hóa, …
Trong cuộc sống hàng ngày, phong tục gần gũi với tất cả mọi người. Phong tục chi phối hầu khắp các
lĩnh vực hoạt động như lao động, sinh hoạt, tín ngưỡng. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê biên
soạn, ở mục từ “phong tục”, tác giả định nghĩa: đây là “thói quen,
tục lệ đã ăn sâu vào đời sống xã hội
được mọi người công nhận và làm theo” [84, tr. 783].
Có thể chưa biết đến luật pháp nhưng con người đã biết đến phong tục. Nhờ được hình thành có
hệ thống nên từ gia đình đến làng xã, từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi dường
như đâu đâu con người cũng chủ yếu hành xử dựa trên phong tục. Tuy nhiên, phong tục không phải là
những điều bất biến. Khi vừa mới hì
nh thành, trong phong tục chưa có sự phân định tốt xấu. Nhưng
qua thời gian, các điều kiện sống cũng như tâm lý tính cách con người có sự thay đổi, và cùng với quá
trình giao lưu văn hóa giữa các nước trên thế giới, con người đã nhận ra những gì là hủ tục, những gì là
thuần phong mỹ tục. Phong tục vì vậy luôn được con người bổ sung thêm những điều mới, và xóa bỏ
những điều cũ, lỗi thời. Hay nói khác hơn, phong tục vừa có tính ổn định bền vững vừa có
khả năng
biến đổi. Phong tục sinh ra do nhu cầu cuộc sống, phát triển và định hình theo sự định hình của xã hội.
Có phong tục thuộc về một đất nước. Có phong tục thuộc về một dân tộc. Và cũng có phong tục thuộc
về một vùng, miền.
1.1.
2. Khái niệm Tiểu thuyết phong tục
“Tiểu thuyết phong tục” không phải là một cụm từ mới đối với những nhà lý luận văn học trên
thế giới cũng như ở Việt Nam. Có rất nhiều bài viết lớn hoặc nhỏ đã nhắc đến cụm từ này, xem nó là
một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể tài văn học. Tuy nhiên, cho đến nay bản thân cụm từ “Tiểu
Hay trong Sổ tay Văn học, Harmon William và Hugh Holman nhấn mạnh đây là một loại tiểu
thuyết mà ở đó phong tục, tập quán, tục lệ và thói quen của một tầng lớp xã hội nhất định có vai trò
quyết định.
Trong một tiểu thuyết phong tục đích thực, tập tục của một nhóm người đặc biệt được mô
tả một cách chi tiết, với sự chính xác cao. Phong tục ấy trở nên có quyền lực điều khiển nhân vật. Tuy
không bắt buộc nhưng tiểu thuyết phong tục thường có tính chất trào phúng.
Tóm lại, khi bàn đến thể tài tiểu thuyết phong tục, các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới,
người thì quan tâm về đề tài, người quan tâm về nội dung và hình thức, hay tác dụng nghệ thuật của thể
tài, … nhưng nhì
n chung, xung quanh những ý kiến của họ ta có thể nhận ra rằng họ đã xem đây là
thuật ngữ dùng để gọi tên một thể tài văn học. Thể tài văn học này chủ yếu lấy những vấn đề liên quan
đến phong tục tập quán trong xã hội làm nội dung phản ánh. Đó c
ó thể là tập tục của một nhóm người,
hay một dân tộc tồn tại trong một thời đại nhất định. Về phương pháp sáng tác, những người viết tiểu
thuyết phong tục thường sáng tác theo phương pháp hiện thực chủ nghĩa. Những sáng tác này do đó có
thể tái hiện đầy đủ về cách thức sinh hoạt của con người trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Người đọc
tiểu thuyết phong tục v
ì vậy dễ dàng rút ra được nhiều bài học ứng xử quý báu cho cuộc sống của
mình.
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tiểu thuyết phong tục đã có mặt trên văn đàn văn học Việt
Nam. Vì vậy, trong một số sách lý luận văn học, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã nhắc đến cụm
từ “tiểu thuyết phong tục” và xem đây là một thể tài. Tuy nhiên, cách hiểu về thể tài văn học này đến
nay vẫn chưa được thống nhất.
Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh do Nam
phong tùng thư xuất bản năm 1929 chia tiểu
thuyết ra ba loại: tiểu thuyết ngôn tình, tiểu thuyết tả thực và tiểu thuyết truyền kì. Sau đó, ông đồng
nhất tiểu thuyết tả thực với tiểu thuyết phong tục: “Tiểu thuyết tả thực – Loại này tiếng Tây gọi là tiểu
thuyết về phong tục (romans de moeurs), nghĩa là cốt tả cái tình trạng trong xã hội theo như thói ăn
cách ở của người đời, thứ nhất là người đư
ơng thời; cho nên cũng có thể gọi là tiểu thuyết tả thực
nhà tiểu thuyết chuyên viết về dân quê. Người ta tưởng ông viết riêng về cách sinh hoạt, về sự sống của
người Việt Nam ở nơi đồng ruộng, nhưng đọc kỹ những tiểu thuyết của ông,
người ta mới thấy ông
chuyên chú vào phong tục của người dân quê nhiều hơn là cuộc sống nghèo nàn và không tổ chức của
họ. Tiểu thuyết của ông thuộc vào loại tiểu thuyết phong tục thôn quê nhiều hơn là thuộc vào loại tiểu
thuyết xã hội” [83, tr. 782].
Qua nội dung của những nhận định trên, ta có thể nói rằng t
uy tác giả công trình Ba mươi năm
văn học cũng như Nhà văn hiện đại không trực tiếp xác lập lý thuyết bàn về tiểu thuyết phong tục
nhưng việc phâ
n loại cùng những ý kiến đánh giá của hai ông dành cho từng tác phẩm đã ít nhiều giúp
chúng ta xác định về mặt nội dung của thể tài tiểu thuyết phong tục. Tiểu thuyết phong tục đó là
những tiểu thuyết viết về nếp sống đặc trưng của một loại người, một vùng miền.
Sau Vũ Ngọc Phan là Bạch Năng Thi. Trong bài Khái Hưng, Bạch Năng Thi viết: “Phong trào
bình dân, cái thị hiếu của độc giả có thay đổi, sự tấn công của văn phái hiện thực chủ nghĩa và của
những người tiến bộ ủng hộ chủ nghĩa hiện thực và đả kích chủ nghĩa lãng mạn, làm cho Khái Hưng ít
nhiều phải thay đổi đề tài và cách sáng tác (…) và nhất là đi sâu hơn nữa vào loại tiểu thuyết phong
tục là loại tiểu thuyết đòi hỏi phải miêu tả con người và sự việc có thực trong đời sống (Gia đình, Thừa
tự, Thoát ly, Băn khoăn). Khi sáng tác tiểu thuyết phong tục, nhà văn không thể rời bỏ xu hướng l
ãng
mạn cố hữu của mình, nhưng yếu tố hiện thực có tăng lên trong tác phẩm”. Không dừng ở đó, đến bài
Khái Hưng – từ tiểu thuyết lý tưởng, phong tục đến tiểu thuyết tâm lý, ông khẳng định: “Thừa tự cũng
như Gia đì
nh là tiêu biểu cho loại tiểu thuyết phong tục. Loại tiểu thuyết này chưa có nhiều ở nước ta
vì người viết phải am hiểu tường tận phong tục trong nước, phải chú ý tới các phong tục ấy để quan
sát; một chuyện về phong tục lại dễ khô khan, tẻ nhạt, không hấp dẫn đối với một số lớn độc giả. Tuy
nhiên, ta thấy Khái Hưng vẫn giữ vững gi
á trị của mình trong loại tiểu thuyết này” [40, tr. 32-33], [40,
tr. 51].
Đến năm 1962, Thanh Lãng có bài viết Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 – 1945 in trên tạp chí
So với các thể loại văn học như sử thi, thơ, trường ca, … tiểu thuyết là một thể loại xuất hiện
muộn hơn rất nhiều và là một thể loại có nhiều sự thay đổi nhất từ trước đến nay. Trên thế giới cũng
như ở Việt Nam, tiểu thuyết gâ
y được nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu văn học. Riêng về cách
phân loại tiểu thuyết cũng có vô số ý kiến khác nhau. Người phân loại theo trào lưu sáng tác, người
theo thi pháp thể loại, người lại dựa vào sự kết hợp giữa thể loại tiểu thuyết với các loại hình văn học
khác, … Thể tài tiểu t
huyết phong tục là một trong số những thể tài tiểu thuyết được xác định dựa trên
cách phân chia chủ yếu theo hệ đề tài. Ở đây chúng tôi không tham vọng xác lập một định nghĩa “tiểu
thuyết phong tục”. Tuy vậy, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của lớp người đi trước cùng với quá trình nghiên
cứu những tiểu thuyết phong tục, chúng tôi có thể nêu khái quát một số đặc điểm của tiểu thuyết phong
tục ở Việt Nam.
Trước tiên, tiểu thuyết phong tục là loại tiểu t
huyết có nội dung phản ánh xoay quanh những vấn
đề đã trở thành lề thói. Những lề thói này là những lề thói tiêu biểu của một nhóm người trong một địa
phương, một dâ
n tộc hoặc cả một đất nước. Đó có thể là thói quen xấu hoặc tốt, tiến bộ hoặc phản tiến
bộ, … Điều quan trọng ở đây là để sáng tác được một tiểu thuyết phong tục, nhà văn phải am hiểu
tường tận phong tục tập quán của dân tộc mình và có khả năng “tái hiện” hiện thực sao cho trung thực,
phong phú sinh động nhưng vẫn đảm bảo tác phẩm đư
ợc ra đời không phải là bản sao từ cuộc sống. Vì
mục đích của nhà viết tiểu thuyết phong tục là giúp người đọc nhận ra những gì là thuần phong mỹ tục
cần giữ gìn và những gì là hủ tục lạc hậu phải xóa bỏ. Nhân vật trong tiểu thuyết phong tục thường
được nhà văn chú ý khai thác trong mối quan hệ ứng xử giữa cũ và mới, đại diện cho một lớp người,
do đó sẽ m
ang một quan điểm xã hội nhất định. Đọc tiểu thuyết phong tục vì vậy chúng tôi nhận thấy
rằng tác phẩm dù có hay không có những đoạn bình luận trữ tình thì thái độ của nhà văn vẫn hiện rất
rõ.
Tóm lại, đối với người viết tiểu thuyết, tiểu thuyết phong tục là một thể tài vừa dễ vừa khó. Dễ
vì nguồn đề tài phong phú, gần gũi. Khó vì phong tục là những vấn đề phổ biến hàng ngày trong xã hội
tài tiểu thuyết phong tục là một trong những thể tài chịu sự chi phối từ những điều kiện lịch sử - xã hội
nhiều nhất.
Đầu thế kỷ XX, do hai cuộc khủng hoảng kinh tế lớn (1929 – 1933), (1935 – 1937) cùng với
khả năng bùng nổ chiến tranh thế giới lần hai, chính sách cai trị của thực dân P
háp đối với các nước
thuộc địa Đông Dương thật sự trở nên khốc liệt. Chúng ra sức vơ vét, bốc lột về sức người, sức của
nhằm bù đắp những tổn thất của chính quốc. Ở Việt Nam, chúng cố tình duy trì nền tảng phong kiến
vốn đã lỗi thời để thuận lợi cho việc thực thi chế độ cai trị. Vì vậy, trong xã hội V
iệt Nam lúc này có sự
pha tạp nhiều luồng tư tưởng: phương Đông cổ và phương Tây hiện đại. Sự phân tầng xã hội cũng
đang diễn ra mạnh mẽ. Nho giáo không còn chiếm vị trí thượng phong như trước kia mà bên cạnh nó
còn có tư tưởng tự do, dân chủ phương Tây. Tầng lớp tiểu tư sản trí thức chính là tầng lớp thích nghi
nhanh chóng nhất, và là tầng lớp chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất trước những sự thay đổi này. Không
những thế họ còn nhận ra sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, giữa phong
tục Việt Nam và lối sống Pháp.
Lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của người Việt như những mạch ngầm, bền bỉ chảy
suốt từ thế hệ nà
y sang thế hệ khác. Trong những năm 1930 này, thực dân Pháp dùng nhiều chiêu bài
văn hóa hòng mị dân nhưng chúng không ngờ rằng việc làm của chúng lại giúp cho thanh niên Việt
Nam, nhất là những người yêu nước, nhận thức tốt hơn về dân tộc mình, và càng dấy lên trong họ tình
cảm yêu mến đối với quê hương. Họ càng thương hơn đất nước nhỏ bé với những con người có tính
cách hiền hòa. Bằng cách này cách khác, những con người Việt N
am yêu nước đã thể hiện quyết tâm
phục hưng văn hóa dân tộc, bảo tồn “quốc hồn quốc túy” của dân tộc. Những lời kêu gọi “khai dân trí,
chấn dân khí, hậu dân sinh” vang lên và nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt ở khắp nơi. Có thể nói,
chính những phong trào này đã tạo nhiều thuận lợi c
ho cả một thế hệ nhà văn yêu nước trở về với cội
nguồn bằng việc bắt tay vào sáng tác những tiểu thuyết viết về phong tục tập quán của nước nhà.
Nhưng tất cả những điều nói trên mới chỉ là tiền đề ban đầu. Tiền đề có ý nghĩa quyết định về
mặt chính trị - xã hội đối với sự ra đời của tiểu thuyết phong tục t
dịch lại bằng tiếng Việt. Tuy nhiên, dần dần câu văn xuôi tiếng Việt cũng đã trở nên gần gũi với ngôn
ngữ đời sống hàng ngày của người Việt hơn, mềm mại và uyển chuyển hơn.
Trong những năm
1930, bên cạnh sự phát triển của câu văn xuôi tiếng Việt thì việc xác lập quan
niệm về thể loại tiểu thuyết theo quan niệm phương Tây trong giới nghiên cứu, sáng tác văn học Việt
Nam cũng là một trong những tiền đề cho sự hình thành tiểu thuyết phong tục. Trong Phê bình và cảo
luận, Thiếu Sơn đã khẳng định: “cái tiểu thuyết nó được ta đọc tới cũng phải tả sự thật, cho sự thật
phá ra cái tư tưởng c
ao thâm mà nảy ra những cảm giác về nhân sinh, nhân loại (…) Tả đủ sự thực,
tức là cách vật trí tri. Ta có thể coi đấy mà biết rõ được nhân tình thế thái, gần ra thì ở cái xã hội của
ta, xa ra thì ở cái phong tục của xứ người, mà cốt nhất là biết rõ được cái bản sắc của nhân loại” [80,
tr. 62-63], hay trên báo Ngày nay số ra ngày 23/9/1939, Khái Hưng cũng cho rằng: “Tiểu thuyết phải
gần đời, phải là đời với những lúc sướng lúc khổ, phải có những cái nhỏ nhe
n, tầm thường, cao thượng
của đời, phải có những cái đáng thương, những cái buồn cười, những cái bực tức” [80, tr. 76], nhà thơ
Lưu Trọng Lư lại muốn tiểu thuyết là “một cuộc đời với tất cả những điều vụn vặt, những sự phiền
toái, với tất cả những sự lộn xộn của nó” [80, tr. 95-99] … Tất cả đã có ý nghĩa định hướng cho những
người cầm
bút lúc này. Đa số các nhà văn đều xác định mục đích viết tiểu thuyết là để “chỉ rõ những
sự nào mà đoàn thể ta nên bắt chước, những đoạn nào mà đồng bào ta nên xa chừa”, là “muốn tập rèn
cái nết tốt cho đoàn thể quốc dân, cho đoàn thể quốc dân mì
nh biết cái luân lí Việt Nam là tốt đẹp, cái
phong hóa ở nước mình là hoàn hảo, kẻo để bấy lâu nay, hạng nam giới nữ giới nước ta, hễ có mùi
Tây học thì đem lòng chê bai khinh rẻ nền luân lý và phong hóa nước mình” (Dẫn theo Nguyễn Kim
Anh (chủ biên), Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhà xuất bản Đại học quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh, tr. 73-74). Do đó, có thể nói ở Việt Nam những tiểu thuyết ra đời vào t
hời kì đầu thế
kỉ XX tuy còn mang tính chất giáo huấn luân lí nhưng xét ở một góc độ nào đấy những tiểu thuyết này
vẫn được xem như là sự chuẩn bị về đề tài cho sự ra đời của những tiểu thuyết phong tục giai đoạn
1930 – 1945.
gia đình chồng, cân đai áo mão, lệ khao vọng, mua nhiêu mua xã, đầu óc mê tín dị đoan, … là những
vấn đề được đa số nhà văn quan tâm. Và số lượng tiểu thuyết viết về phong tục ra đời nhiều trong giai
đoạn này cũng đã góp phần tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về văn hóa xã hội Việt Nam những năm
1930 – 1945.
Về đội ngũ sáng tác, bên cạnh những cây bút trẻ mới xuất hiện thì nhiều cây bút trước đây
chuyên viết về luân lý, ái tình, … nay cũng chuyển sang khai thác mảnh đất phong tục. Các nhà văn dù
sở trường thiên về hiện thực (Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Mạnh P
hú Tư …), hay lãng mạn (Nhất
Linh, Khái Hưng, …), trong giai đoạn 1930 – 1945 đều có tác phẩm viết về phong tục. Số lượng tác
giả, tác phẩm thuộc thể tài tiểu thuyết phong tục ra đời tăng một cách đáng kể: Gia đình (1936), Thừa
tự (1938) của Khái Hưng, Con trâu (1938), Chồng con (1941) của Trần Tiêu, Cái thủ lợn (1939), Nợ
nần (1940) của Nguyễn Công Hoan, Dã tràng (1939) của Thiết Can, Lều chõng (1939), Tắt đèn (1939)
của Ngô Tất Tố, Làm lẽ (1939), Gây dựng (1941), Sống nhờ (1942), Nhạt tình (1942) của Mạnh Phú
Tư, Đứa con (1941) của Đỗ Đức Thu, Thằng cu So (1941) của Nguyễn Đức Quỳnh, Quê người (1941)
của Tô Hoài, Dưới đồng sâu (1942) của Phi Vân, Một chuỗi cười (1940), Khao (1945) của Đồ Phồn,
Bút nghiên (1942), Nhà nho (1943) của Chu Thiên …
Cụ thể hơn, năm
1933, Khái Hưng mới xuất hiện trong làng văn nhưng ông lại là nhà văn được
Vũ Ngọc Phan nhắc đến trước tiên trong danh mục các nhà tiểu thuyết phong tục. Số lượng tác phẩm
viết về đề tài phong tục của nhà văn này tuy không nhiều nhưng theo Vũ Ngọc Phan đây “là loại ông
có nhiều đặc sắc nhất” [85, tr. 756]. Nửa chừng xuân (1934), Gia đình (1936), Thoát ly (1937) được
xem là những tác phẩm tiêu biểu cho thái độ chiêm nghiệm của nhà văn về các vấn đề phong tục.
Trong tác phẩm của mình, Khái Hưng tập trung phản ánh một cách cụ thể các quan niệm về hôn nhân
gia đình, tư tưởng năm th
ê bảy thiếp, trọng nam khinh nữ, … đang tồn tại trong xã hội Việt Nam
những năm 1930. Tiểu thuyết phong tục của ông do đó có thể nói là đã phản ánh được hàng loạt mâu
thuẫn đang xảy ra giữa hai thế hệ cũ – mới cùng sự chi phối của phong tục trong cuộc sống hàng ngày
của con người.
– 1945, nhà văn này lại lấn sang cả thể tiểu thuyết viết về mảng đề tài phong tục. Nguyễn Công Hoan
đã cho ra đời đều đặn các tác phẩm như: Cô giáo Minh (1935), Lá ngọc cành vàng (1935), Cái thủ lợn
(1939), Nợ nần (1940). Tuy nhiên, do là cây bút sở trường về truyện ngắn nên lúc vừa đến với mảnh
đất mới này, Nguyễn Công Hoan có phần chưa thành thạo. Tìm hiểu Cô giáo Minh, người đọc cảm
thấy mỏi mệt với lối sống theo kiểu đối phó của nhân vật trung tâm. Sang Lá ngọc cành vàng nhà văn
lại mang đến cho người đọc cảm giác nặng nề với những lời giáo huấn về đạo lý của ông Phủ, cách
hành xử yếu ớt trước tính cách gia trưởng của ông Than, và đặc biệt là không khí buồn bã tẻ nhạt bao
quanh cuộc đời cô Nga. Thế nhưng, đến Cái thủ lợn, Nguyễn Công Hoan đã dẫn người đọc tham dự
vào những buổi tiệc khao vọng náo nhiệt, những cuộc đấu l
ý gay cấn, căng thẳng ở đình làng. Nhà văn
không còn ép mình giúp nhân vật tìm cách giải quyết những vấn đề do nhân vật tự tạo ra.
Trong khi ấy thì Ngô Tất Tố viết Tắt đèn (1939) và Việc làng (1940) cố gắng ghi lại hình ảnh
của cả một thời đại. Trong Tắt đèn, nhà văn điểm mặt từ anh m
õ, tên lính lệ, đến bác xã, bác lý, quan
huyện; từ dân đen mê muội đến bọn giàu có keo kiệt, tàn ác … Nói chung, tác phẩm là hình ảnh về cả
một xã hội nông thôn Việt Nam. Một xã hội đang chìm trong đêm tối. Đến Lều chõng, ông lại tái hiện
được một sự thật nhố nhăng về chế độ khoa cử. Còn Chu Thiên với tiểu thuyết Nhà Nho đã khắc họa
được chân thật hình ảnh của cả thế hệ nhà nho. Đó là những con người coi tình bằng hữu nặng như tình
anh em
, đạo thầy trò sâu thẳm như đạo cha con …
Như vậy, có thể nói, sự góp mặt đông đủ của các cây bút hiện thực và lãng mạn là một trong
những điều kiện giúp cho tiểu thuyết phong tục Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có được nội dung
phong phú và sâu sắc. Các nhà văn lúc này đã nhìn nhận về phong tục trong nhiều mối quan hệ hơn s
o
với giai đoạn mới xuất hiện: quan hệ giữa thuần phong mỹ tục và nét đẹp trong đời sống sinh hoạt
(Con trâu, Nhà Nho), mỹ tục với vấn đề đạo đức con người (Nửa chừng xuân, Chồng con), hủ tục với
hạnh phúc cá nhân (Lạnh lùng, Làm lẽ), hủ tục và sự tha hóa con người (Khao, Cái thủ lợn), hủ tục và
sự nhân danh của con người (Thừa tự), … Không những thế, trong lịch trình tiến triển từ 1930 đến
1945, các nhà văn của chúng ta đã đi từ tác p
hong của một nhà luân lý, nhà đạo đức, nhà chính trị, nhà
lỗi thời lạc hậu như lối sống gia trưởng độc đoán – ông Phủ (Lá n
gọc cành vàng), ích kỷ - bà Cang
(Gây dựng), nhẫn nhục – bà Sinh (Nhạt tình), … Chỉ riêng khi đứng trước những biểu hiện thuộc về
đời sống tinh thần, thái độ nhà văn có phần dè dặt hơn. Đa số các tác phẩm khi đề cập đến những vấn
đề này thường dừng ở cảm hứng “tái hiện” như ở tiểu thuyết Con trâu, Chồng con chẳng hạn.
Ở một khía
cạnh khác, người nghiên cứu tiểu thuyết phong tục giai đoạn 1930 -1945 cũng đã
thừa nhận rằng nhân vật trong những tiểu thuyết phong tục giai đoạn này chủ yếu được tập trung miêu
tả kỹ lưỡng về lời nói và hành động trong mối quan hệ với hiện thực xung quanh. Từ đầu đến cuối tiểu
thuyết Con trâu, Trần Tiêu không để bác xã Chính có một không gian suy nghĩ riêng. Chưa có chức,
bác đầu tắt mặt tối ngoài ruộng kiếm miếng cơm man
h áo. Đến khi mua được chức xã, bác xã Chính lại
bận bịu hơn. Lo xong việc đồng án, bác phải lo đến việc thôn việc làng. Nhà văn cũng không khai thác
những diễn biến phức tạp trong đời sống nội tâm của nhân vật mà chỉ thông qua việc miêu tả những
cuộc tiếp xúc giữa các kiểu nhân vật mới – cũ để trình bày hiện t
hực dưới nhiều góc độ, trong nhiều
mối quan hệ mà thôi.
Tóm lại, tiểu thuyết phong tục ở Việt Nam ra đời không phải là hiện tượng tự phát mà được
chuẩn bị từ khá lâu. Buổi đầu của nó là những tác phẩm phản ánh tâm lý xã hội. Sau đó, hoàn cảnh
nhiều biến động của xã hội đầu thế kỷ XX, nội dung của cuộc thi tiểu thuyết do báo Nông cổ mín đàm
phát động ngà
y 23/06/1906 đã tạo thuận lợi cho sự hình thành thể tài tiểu thuyết viết về phong tục. Rồi
cùng với thời gian, với những đổi thay của cuộc sống thể tài tiểu thuyết phong tục dần dần được định
hình. Và cho đến những năm 1930 -1945, nó đã là một trong những thể tài phát triển của văn học Việt
Nam. Những tác phẩm thuộc thể tài này góp phần làm nên một bức tranh phong tục Việt trong một thời
kì lịch sử thật đầy đủ và sinh động. Đồng thời, những thành tựu về nghệ thuật thể hiện của nó cũng đã
khẳng định thêm
một bước tiến cho nền văn học hiện đại Việt Nam.
Tuy nhiên, trong những năm 1930 -1945, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết phong tục nói
riêng vẫn còn là một thể văn rất mới. Việc có ít nhiều hạn chế trong khi xâ
khổ nhật trình) mỗi số 0p07
Bàn một cách vui vẻ các vấn đề cần thiết:
xã hội, chính trị, kinh tế.
Nói rõ về hiện tượng trong nước
Có 15 tranh vẽ, nhiều chuyện vui, v.v…
Cần thiết …
Hoạt động …
Vui vẻ …
mãi … mãi …”
[60, tr. 11].
Phong hóa từ khi ra đời bắt đầu cuộc tuyên chiến với Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp
chí, hai tờ báo đang thịnh hành lúc bấy giờ, bằng hàng loạt bài viết, tranh ảnh. Họ chống đến cùng tư
tưởng nệ cổ của các nhà Nho như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tăng Bí, Huỳnh Thúc
Kháng, Nguyễn Trọng Thuật, … Và cũng trên tờ báo này, các nhà văn Tự lực văn đoà
n cho trình diện
làng văn những tác phẩm mới mẻ từ nội dung, tư tưởng cho đến cốt truyện, cách hành văn: Hồn bướm
mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Đôi bạn, … Tất cả đã làm cho nhà nghiên cứu văn học Thanh
Lãng khi nói về Tự lực văn đoàn và về sự xuất hiện của nhóm văn này phải thốt lên rằng: “Thực vậy,
tuần báo Phong hóa là luồng gió mới, làm xáo trộn tất cả trật tự xã hội, thổi tung những lớp bụi bặm
phủ đầy trên lâu đài văn hóa cũ một lần nữa bay m
ù trời” [60, tr. 13]. Nói khác hơn, trên diễn đàn văn
học Việt Nam, Tự lực văn đoàn ra đời vào năm 1932 và họ thật sự là một nhóm nòng cốt của trào lưu
văn học lãng mạn trong những năm 1930 – 1945.
Năm 1789, cách mạng tư sản Pháp thắng lợi. Chế độ phong kiến sụp đổ, một hình thái ki
nh tế -
xã hội mới được hình thành. Trước những thay đổi này, có người luyến tiếc cái quá khứ, có người chờ
đợi cái mới nhưng hiện thực tư sản không như mong đợi lại khiến họ thêm chán chường tuyệt vọng.
Những thay đổi về mặt tâm lý xã hội này chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của
chủ nghĩa lãng mạn với khuynh hướng thoát ly khỏi thực tại khác
h quan, chìm sâu vào thế giới của
là những con người giàu cảm xúc, mơ mộng, hay đang đeo đuổi một lý tưởng lớn lao. Những lời Ngọc
tỏ bày cùng Lan:“Nếu Lan đi thì Ngọc phải chết khô, chết héo mất. Ngọc chẳng dám mơ màng chi, chỉ
ao ước thỉnh thoảng lên chùa nhìn thấy mặt Lan là đủ rồi. Vậy xin Lan cứ ở lại đây tu hành, rồi ngày
Ngọc được nghỉ, cho phép Ngọc phóng xe đạp lên chùa thăm Lan” [48, tr. 106], và lời Lộc tỏ bày cùng
Mai: “Nhưng em ạ, sao anh không nghĩ tới xã hội, đem hết nghị lực, tài trí ra làm việc cho đời. Rồi
thỉnh thoảng hưởng một vài giờ thư nhàn mà tưởng nhớ tới em, mà yêu dấu cái hình ảnh dịu dàng của
em, cái linh hồn cao thượng của em. Trời ơi
! Anh sung sướng quá, anh trông thấy rõ rệt con đường
tươi sáng của anh rồi. Đời anh từ nay thế nào cũng đổi khác hẳn. Anh sẽ vì người khác, anh sẽ bỏ cái
đời an nhàn phú quý mà dấn thân vào cuộc đời gió bụi. Anh đã trông thấy hiện ra trước mắt những sự
cay cực lầm than đang đợi anh. Nhưng anh không ngại vì có em …” [51, tr. 355]… thật mơ mộng, và
nó chỉ có thể là lời của những người có một tâm hồn lãng mạn.
Không những t
hế cách giải quyết vấn đề ở một số tác phẩm như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng
xuân, Con đường sáng, Gia đình, … cũng ít nhiều mang dấu ấn chủ quan của nhà văn. Nhất Linh, Khái
Hưng cũng như Hoàng Đạo mặc dù nhận ra đâu là nguyên nhân làm cho cuộc sống của người lao động
phải cơ cực nhưng cách giải quyết của họ lại không dứt khoát và đầy ảo tưởng. Viết thản nhiên nhận
những m
ón “tiền phải tiền không” từ người dân nghèo thì An lại lấy điều đó làm xấu hổ, dằn vặt lương
tâm (Gia đình). Khi thì phản ánh những tay tư sản khét tiếng ăn chơi và làm giàu bằng mọi cách –
Thiện, Cảnh (Băn khoăn), nhưng có lúc họ vẫn tin rằng còn những kiểu tư sản như Hạc – Bảo (Gia
đình), Duy – Thơ (Con đường sáng) biết quan tâm chăm lo đến cuộc sống của người lao động nghèo
…
Tóm lại, điều đáng nói ở đây là dù được viết bằng cảm hứng lãng mạn nhưng tác phẩm của Tự
lực văn đoàn không làm người đọc chìm đắm trong thế giới tình cảm, trong niềm bi lụy để rồi thoát ly
khỏi thực tại cuộc sống. Tác phẩm của họ chủ yếu đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đòi tự do hôn
nhâ
n đồng thời tố cáo phê phán thái độ duy trì chế độ đại gia đình phong kiến với những lễ giáo khắt