Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đề bài: Dịch vụ khách hàng- thực trạng và những biện pháp để dịch vụ
khách hàng là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp tại Việt Nam
I. Lý luận cơ bản về dịch vụ khách hàng
1. Khái niệm và các nhân tố cấu thành dịch vụ khách hàng
* Khái niệm: Dịch vụ khách hàng là quá trình sáng tạo và cung cấp những lợi
ích gia tăng trong chuỗi cung ứng nhằm tối đa hóa tổng giá trị tới khách hàng.
* Các nhân tố cấu thành
- Thời gian: Từ góc độ khách hàng, là yếu tố quan trọng đo bằng tổng lượng
thời gian từ thời điểm khách hàng ký đơn đặt hàng tới lúc hàng được giao.
- Độ tin cậy: Nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn.
Độ tin cậy thường được thể hiện qua một số khía cạnh:
+ Dao động thời gian giao hàng: trực tiếp ảnh hưởng đến mức hàng dự trữ
trong kho và chi phí thiếu hàng.
+ Phân phối an toàn: có thể làm phát sinh chi phí bồi thường hoặc chi phí
hoàn trả lại hàng hư hỏng cho người bán để sửa chữa, mặt khác nó làm giảm sự hài
lòng của khách hàng.
+Sửa chữa đơn hàng hay khả năng thực hiện các đơn hàng chính xác.
- Thông tin: là nhân tố liên quan đến các hoạt động giao tiếp truyền tin cho
khách hàng về hàng hóa, dịch vụ, quá trình cung cấp dịch vụ. Mặt khác liên quan
đến thu thập các khiếu nại, đề xuất, yêu cầu từ phía khách hàng.
- Sự thích nghi hay tính linh hoạt trước những yêu cầu đa dạng và bất thường
của khách hàng. Đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu khác nhau của khách hàng
bằng nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp.
2. Vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng
- Dịch vụ khách hàng như một hoạt dộng: ở mức độ này công ty coi dịch vụ
khách hàng như một nhiệm vụ đặc biệt mà doanh nghiệp phải hoàn thành để thỏa
mãn nhu cầu khách hàng. Giải quyết đơn hàng, lập hóa đơn, gửi trả hàng, yêu cầu
bốc dỡ là những ví dụ điển hình của mức dịch vụ này. Khi đó hoạt động logistics
dừng lại ở mức độ hoàn thiện giao dịch. Phòng dịch vụ khách hàng là cơ cấu chức
năng chính đại diện cho mức dịch vụ này.
- Tính linh hoạt của hệ thống: Nhằm đối phó những biến động ngoài dự kiến.
- Các dịch vụ quản lý: bao gồm đào tạo nhân lực, các hội thảo với khách
hàng, bán hàng, đặt hàng,....
* Hoạt động cung ứng dịch vụ trong bán:
- Mức hết hàng trong khi: đây là nhân tố để đo lường tính sẵn có của hàng
hóa, mức độ này cần được xem xét trên hai nhân tố là lượng sản phẩm theo nhu cầu
của khách hàng.
-Thông tin đặt hàng: những thông tin này luôn phải sẵn sàng để cung cấp cho
khách hàng, yêu cầu mức độ chính xác, tin cậy và kịp thời về tình trạng hàng hóa.
- Thời gian đặt hàng: đây là tổng thời gian diễn ra từ các hoạt động đầu tiên
của khách hàng trong quá trình đặt hàng cho đến khi hàng được giao cho khách
hàng.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Chi phí đặt hàng: đây là nhân tố nhận được sự quan tâm đặc biệt, nếu chi
phí này càng cao thì thời gian đặt hàng càng được rút ngắn.
- Vận chuyển hàng: Vận chuyển hàng trong bán lẻ đảm bảo hàng hóa không
bị thiếu hụt giữa các điểm bán, hàng hóa luôn cân bằng trong hệ thống và vận
chuyển hàng hóa đến tận tay khách hàng kịp thời trong thời gian ngắn nhất.
- Cụ thể hóa các thành phần trong đơn đặt hàng: đây là việc xác định chính
xác các thành phần của một đơn đặt hàng của khách hàng như: số lượng, hình thức
thanh toán,...
- Mức độ thuận tiện đặt hàng: đây là những khó khăn mà khách hàng gặp
phải trong quá trình đặt hàng, doanh nghiệp cần tăng cường tiếp xúc để giảm thiểu
những sai sót trong quá trình đặt hàng.
- Trợ cấp sản phẩm: đây thực chất là sự thay thế khi một sản phẩm khách
hàng đặt mua mà không có với một sản phẩm khác có chất lượng tốt hơn hay có
kích cỡ khác.
* Hoạt động sau bán: đây là các nhân tố hỗ trợ sản phẩm sau khi bán bao
gồm:
- Tỷ lệ hoàn thành các đơn hàng (Orders shipped complete): Cho biết số đơn
hàng hóa thành thành trên tổng số đơn hàng ký kết trong một đơn vị thời gian,
thường là một năm hoặc một quý.
- Tốc độ cung ứng (Speed): Khoảng thời gian thực hiện một đơn đặt hàng
tính từ khi khách hàng trao đơn đặt hàng đến khi khách hàng nhận đơn đặt hàng.
- Độ ổn định thời gian đặt hàng (Consistency): Dao động của khoảng thời
gian đặt hàng bình quân.
- Tính linh hoạt (Flexibility): Cho biết khả năng thích nghi với các nhu cầu
dịch vụ khách hàng đặc biệt và sự thay đổi của khách hàng.
- Khả năng sửa chữa các sai lệch (Malfuntion Recovery): Mức độ tiếp thu và
sửa chỉnh những sai sót tác nghiệp với khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu
quả.
- Độ tin cậy dịch vụ (Reliability): Sự tin tưởng, uy tín của dịch vụ khách hàng
và doanh nghiệp đối với khách hàng.
4. Quá trình thực hiện đơn hàng.
a. Hình thành đơn hàng (Order preparation) là hoạt động thu nhập những yêu sách
về hàng hóa hoặc dịch vụ của khách hàng. Việc truyền tin này có thể được khách
hàng hoặc người bán điền thông tin trực tiếp vào mẫu đơn đặt hàng; điện thoại trực
tiếp cho nhân viên bán hàng hoặc lựa chọn từ những mẫu đơn đặt hàng trong máy
tính.
b. Truyền tin về đơn hàng (Order transmittal) là truyền tải yêu cầu đặt hàng từ nơi
tiếp nhận tới nơi xử lý đơn hàng. Có hai cách để chuyển đơn đặt hàng: chuyển bằng
sức người và chuyển bằng phương tiện điện tử.
c. Tiếp nhận đơn hàng (Order entry): Tiếp nhận đơn hàng là một hoạt động diễn ra
trước khi thực hiện một đơn đặt hàng. Nó bao gồm các bước:
- Kiểm tra độ chính xác của các thông tin đặt hàng như mô tả về sản phẩm, số
lượng, giá cả.
- Kiểm tra tính sẵn có của những sản phẩm đặt hàng.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
điểm hàng được đặt trên phương tiện vận tải để di chuyển đến thời điểm nó được
nhận và dỡ xuống tại địa điểm của người mua.
II. Thực trang dịch vụ khách hàng tại Việt Nam
Dịch vụ khách hàng hoàn hảo là huyết mạch của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Dịch vụ khách hàng hoàn hảo là tât cả những gì có thể đem khách hàng quay trở lại
với doanh nghiệp. Do đó việc cung cấp dịch vụ khách hàng là một công việc bắt
5