Luận văn đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại việt nam - Pdf 33

Luận văn
Đánh giá thực trạng đạo đức
kinh doanh của các doanh
nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình

- 1-

SVTH: Trần Văn Thiết


PHẦN GIỚI THIỆU
I. LÝ DO CHON ĐỀ TÀI
Đạo đức đã được con người nghiên cứu từ rất lâu. Nó gắn liền với cuộc sống,
nó có mặt trong tất cả các hoạt động của con người. các vấn đề về đạo đức không
được qui đinh rõ trong một bộ luật nào nhưng con người xem nó như những
chuẩn mực chung, những qui tắc xử sự chung của toàn xã hội. Bắt đầu từ khi
xuất hiện sự trao đổi hàng hóa, thì mối quan hệ giữa con người trở nên phức tạp
hơn. Đạo đức xã hội nói chung không đủ để giải thích những hiện tượng phức tạp
nảy sinh trong những mối quan hệ mới này, và cần có thêm những qui tắc ứng xử
mới phù hợp để hướng dẫn hành vi con người trong mối quan hệ mới, khi đó một
ngành khoa học mới xuất hiên đó là đạo đức kinh doanh. Vậy đạo đức kinh
doanh cũng đã xuất hiên từ rất lâu nhưng nó chỉ bắt đầu được nghiên cứu nghiêm
túc, và phát triển thành một ngành khoa học vào nửa sau thế kỷ XX. Đạo đức
kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh,
đánh giá và kiểm soát hành vi của chủ thể kinh doanh. Các chuẩn mực về đạo
đức kinh doanh đặt ra để điều chỉnh các hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp
luật và theo những chuẩn mực đạo đức xã hội vốn có từ rất lâu của con người.
Ngày nay đạo đức kinh doanh rất được nhiều người quan tâm, khi trên thị trường
số hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh ngày một tăng. Rất nhiều các doanh


Phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh đến xã

hội và doanh nghiệp.


Đề ra những giải để nâng cao đạo đức trong kinh doanh tại Việt

Nam trong tương lai.
1.3 Phạm vi nghiên cứu:
1.3.1. Không gian: Phạm vi nghiên cứu trên toàn Việt Nam.
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các doanh nghiệp đang kinh
doanh tại Việt Nam.
1.4. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 5/2011 đến 7/2011
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
• Thu thập số liệu thứ cấp trên sách, Internet, báo trí.
• Các bài nghiên cứu thứ cấp
• Các website: thesaigontimes.vn, vneconomy.com.vn, vnexpress.net…
1.5.2 Phương pháp phân tích số liệu:
-

Tổng hợp các số liệu thứ cấp từ năm 2007 - 2010

-

Thống kê và phân tích số liệu từ dữ liệu thứ cấp.

GVHD: Trương Hòa Bình

Đạo đức kinh doanh chính là phạm trù đạo đức được vận dụng vào trong
hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp.
Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh - do kinh
doanh là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện
trong ứng xử về đạo đức không hoàn toàn giống các hoạt động khác: tính thực
dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh doanh
nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế … hoặc sang các
quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ, con cái thì đó là những thói xấu bị xã
hội phê phán. Song cần lưu ý rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi
phối bởi một hệ thống giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung.
1.1.1.2 Các nguyên tắc của đạo đức kinh doanh
 Tính trung thực

Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ lời hứa, giữ
chữ tín trong kinh doanh. Nhất quán trong nói và làm. Trung thực trong chấp
hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế,
không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ
có hại cho thuần phong mỹ tục. Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao
dịch, đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng: không làm hàng giả, khuyến mại giả,
quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản

GVHD: Trương Hòa Bình

- 5-

SVTH: Trần Văn Thiết


quyền, phá giá theo lối ăn cướp. Trung thực ngay với bản thân, không hối lộ,
tham ô, thụt két, "chiếm công vi tư".

GVHD: Trương Hòa Bình

- 6-

SVTH: Trần Văn Thiết


 Lắng nghe khách hàng

Để biết rõ họ sẽ phản ứng như thế nào luôn là một công cụ hữu hiệu khi
doanhnghiệp muốn sản phẩm hay kế hoạch xúc tiến kinh doanh trở nên hiệu quả
hơn. Việc lắng nghe khách hàng còn mang lại cho công ty lợi ích khác là giải
quyết những phàn nàn của khách hàng một cách sáng tạo cũng chính là một trong
những cách pháthiện các ý tưởng mới về sản phẩm hay dịch vụ, cơ hội cải tiến.
Bên cạnh đó, lắng nghe ý kiến của nhân viên là điều rất quan trọng nếu muốn
lắngnghe khách hàng.
 Chăm sóc khách hàng

Là tất cả những gì cần thiết mà doanh nghiệp phải làm để thoả mãn nhu
cầu và mong đợi của khách hàng, tức là phục vụ khách hàng theo cách mà họ
mong muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết thiết để giữ các khách
hàng đang có. Khách hàng mong muốn dịch vụ cốt lõi trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thực sự đáp ứng nhu cầu của họ. Khách hàng luôn mong
đợi dịch vụ hậu mãi sau bán hàngcủa doanh nghiệp thực sự tiện lợi.
Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, hãy xây dựng một môi trường kinh
doanh thực sự chú trọng cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Đây là
cách tốt nhất để tăng cường lợi thế cạnh tranh của mình. Cạnh tranh hiện nay
không chỉ là cạnh tranh về sản phẩm mà còn phải làm tốt công tác chăm sóc
khách hàng. Chăm sóc khách hàng không chỉ là nhiệm vụ của nhân viên bán
hàng mà bất kỳ cá nhân nào trong doanh nghiệp cũng phải thực hiện nhiệm vụ

Thể hiện thông qua sự cảm nhận của người mua về chất lượng của một
nhãn hiệu, vì chất lượng của nhãn hiệu không nhất thiết dựa vào sự hiểu biết rõ
những qui cách, phẩm chất của nhãn hiệu mà chất lượng thấy được là những gì
khách hàng cho rằng nó nói lên chất lượng. Tin tưởng của khách hàng về chất
lượng sẽ tác động trực tiếp lên quyết định mua hàng cũng như sự trung thành với
nhãn hiệu. Nó cũng thuận lợi và biện minh được cho một giá bán cao hơn mà
người mua cũng dễ dàng chấp nhận. Ngoài ra, nó còn là cơ sở cho doanh nghiệp
mở rộng nhãn hiệu trong các lãnh vực khác có liên quan.
 Tạo cho khách hàng có sự liên kết giữa sản phẩm và nhãn hiệu

Thông qua việc nối trí nhớ của khách hàng đến với nhãn hiệu một cách
trực tiếp hay gián tiếp. Điển hình như nói đến nước ngọt người ta nghĩ đến
CocaCola, trông thấy cá cơm người ta liên tưởng đến nước mắm Phú Quốc. Sự
liên kết mạnh của nhãn hiệu có thể là cơ sở cho việc mở rộng nhãn hiệu như trà
chanh Lipton có được lợi thế cạnh tranh do sự liên kết của nhãn hiệu Lipton. Nếu
một nhãn hiệu được định vị một cách vững chắc dựa vào một thuộc tính then
chốt của sản phẩm sẽ là một rào cản đối với các nhãn hiệu khác muốn cạnh tranh.
1.1.2 Nhận thức về đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt
Nam
1.1.2.1 Vấn đề nhận thức về đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp
tại Việt Nam
Trong thời kỳ bao cấp, mọi hoạt động kinh doanh đều do Nhà nước chỉ đạo,
vì thế những hành vi có đạo đức được coi là những hành vi tuân thủ lệnh cấp
GVHD: Trương Hòa Bình

- 8-

SVTH: Trần Văn Thiết



nghiệp về vấn đề này còn khá mơ hồ.

GVHD: Trương Hòa Bình

- 9-

SVTH: Trần Văn Thiết


1.1.2.2 Lĩnh vực tiêu biểu trong vấn đề vi phạm đạo đức kinh
doanh tại Việt Nam
 Thực phẩm
Thực phẩm không chỉ là nguồn dinh dưỡng mà còn có thể đóng vai trò
quan trọng cho việc bảo vệ sức khỏe người dân. Chính vì thế mà thực phẩm
thường được đặt dưới sự quản lý của các cơ quan có nhiệm vụ quản lý thuốc
Việc sữa sản xuất từ Trung Quốc có chứa chất melamine dẫn đến tử
vong cho một số trẻ em đã được thảo luận khá nhiều trên báo chí Trung Quốc và
thế giới. Người ta bàn đến việc đề ra những tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh gắt gao
hơn, những quy chế luật pháp để ngăn ngừa một thảm trạng như thế trong tương
lai. Tại Việt Nam thì vấn đề vệ sinh anh toàn thực phẩm cũng đang được đưa lên
đến mức báo động. Từ những quán nhỏ lẻ bên đường với sản phẩm phở, hủ tiếu,
cháo… người ta không ngại lừa đối khách hàng bằng những chiêu thức khá tinh
vi như sử dụng những hóa chất nhằm tái sinh nguyên liệu để tăng thêm đồng lời,
hay những lò rượu thay vì bán cho khách hàng những sản phẩm chất lượng thì lại
bán những giọt rượu mà theo phân tích có đến 70% là cồn. Và cho đến những
doanh nghiệp lớn như các công ty thủy hải sản của Việt Nam bị các công ty Mỹ
trả lại hàng do phát hiện trong sản phẩm có chứa tạp chất.
Vì thực phẩm có liên hệ trực tiếp đến sức khỏe của một cộng đồng, thậm
chí dân tộc, công nghệ thực phẩm rất cần một quy ước đạo đức. Quy ước đạo đức
không phải là luật pháp, mà là những điều lệ về hành nghề được các thành viên

ngày càng tinh vi của nhà kinh doanh xăng dầu gian dối. Qua vụ việc aceton
trong xăng vừa rồi người tiêu dùng lại càng thêm thất vọng.
 Người lao động
Đảm bảo điều kiện lao động an toàn là hoạt động có đạo đức nhất trong
vấn đề bảo vệ người lao động. Người lao động có quyền làm việc trong một môi
trường an toàn. Mặt khác xét từ lợi ích, khi người làm công bị tai nạn, rủi ro thì
không chỉ ảnh hưởng xấu đến bản thân họ mà còn tác động đến vị thế cạnh tranh
của công ty.
Tuy nhiên, việc cung cấp những trang thiết bị an toàn cho người lao động
(hệ thống cứu hỏa, dây an toàn, găng tay và ủng cách điện cho thợ điện, đèn và
đèn pha cho thợ mỏ), chi phí cho tập huấn và phổ biến về an toàn lao động,... đôi
khi cũng tốn kém nguồn lực và thời gian nên một số công ty không giải quyết
thấu đáo, dẫn đến người lao động gặp rủi ro, điều này đáng lên án về mặt đạo
đức.
Các vấn đề còn tồn đọng về đạo đức kinh doanh đối với người lao động
tại các doanh nghiệp Việt Nam
Không trang bị đầy đủ các trang thiết bị an toàn lao động cho người lao động,
cố tình duy trì các điều kiện nguy hiểm và không đảm bảo sức khỏe tại nơi làm
việc.

GVHD: Trương Hòa Bình

- 11-

SVTH: Trần Văn Thiết


Che dấu thông tin về mối nguy hiểm của công việc, làm ngơ trước một vụ
việc có thể dự đoán được và có thể phòng ngừa được.
Bắt buộc người lao động thực hiện những công việc nguy hiểm mà không


- 12-

SVTH: Trần Văn Thiết


+ Trao đổi hiện vật, khi trao đổi bằng hiện vật thì theo luật vẫn phải đánh
thuế nhưng người ta ít khai báo dạng thu nhập này do khó theo dõi quy mô. Bằng
việc làm khó các thanh tra thuế, hành vi tránh thuế được thực hiện. Ngoài ra còn
có việc sử dụng các tài khoản ngân hàng không chính thức, rửa tiền, hoặc phân
bổ vào các nguồn thu nhập không chính thức khác.
1.2 CÁC VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.2.1 Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và xã hội
1.2.1.1 Thương hiệu doanh nghiệp và khách hàng
Từ trước đến nay các nghiên cứu sự trung thành của khách hàng ở các
nước cũng như ở Việt nam mới chỉ đánh giá sự trung thành về hành vi và nó
không thể giải thích mối quan hệ bất đối xứng giữa sự thoả mãn và sự trung
thành như: tại sao một khách hàng thoả mãn không phải lúc nào cũng trung thành
và tại sao một khách hàng không thoả mãn đôi khi lại trung thành? Câu trả lời là
thiếu sự cam kết.
Một số nghiên cứu vài năm gần đây đã đề cập khái niệm sự cam kết như là
yếu tố tâm lý phản ánh sức mạnh mối quan hệ khách hàng với thương hiệu và đo
lường sự trung thành dựa trên sự cam kết giúp đánh giá thái độ và dự báo hành vi
khách hàng trong tương lai. Các mô hình trung thành dựa trên sự cam kết bao
gồm các yếu tố về liên kết chức năng ( sự thỏa mãn về chất lượng sản phẩm/dịch
vụ) và liên kết cá nhân ( thuộc tâm lý như sự tín nhiệm, tình cảm) trong đó mức
độ quan hệ tương tác giữa hành vi khách hàng và hành vi thương hiệu tạo nên
chất lương quan hệ. Chất lượng quan hệ khách hàng-thương hiệu là nguyên nhân
quyết định sức mạnh các liên kết chức năng và liên kết cá nhân. Mà thương hiệu
là cái đi sâu vào tâm trí khách hàng cần được nuôi dưỡng và thông qua đạo đức

mãn

Trung
thành
hành vi

Liên
kết
chức
năng

Thái độ nhận thức

Trung
thành
cam
kết

Thái độ tình cảm

Tương tác thương hiệu và khách hàng
Mô hình nghiên cứu thương hiệu và khách hàng
Trong bối cảnh thị trường Việt nam đang trong giai đoạn chuyển từ bao
cấp, độc quyền sang cạnh tranh mãnh liệt trong một nền kinh tế thị trường, việc
giữ chân khách hàng là nhiệm vụ sống còn của các nhà cung cấp.
1.2.1.2 Doanh nghiệp và xã hội
Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi
từ khách hàng ngày càng cao và xã hội do đó có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn
đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì các
doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những

này cần tìm kiếm những giải pháp để thay đổi xã hội theo chiều hướng ngày càng
tốt hơn và ngược lại, các doanh nghiệp của họ sẽ có những điều kiện để phát triển
bền vững hơn. Lợi ích dài hạn chủ yếu của CSR là cho chính nội bộ doanh
nghiệp như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ nhân
viên thôi việc, tăng năng suất lao động. Ngoài ra, còn giúp nâng cao uy tín của
doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và các đối tác, tạo ra ưu thế trong
cạnh tranh và thuận lợi trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
1.2.2 Vấn đề sở hữu trí tuệ
1.2.2.1 Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ
Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn
bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (20022007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát
hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức
năng đã phát hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ. Trong năm 2006, thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến
hành kiểm tra 20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi
phạm; đã cảnh cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy
phép kinh doanh của 160 cơ sở; chuyển xử lý hình sự 09 trường hợp; xử phạt
hành chính 10.891.780.000 đồng. Thanh tra chuyên ngành khoa học và công
GVHD: Trương Hòa Bình

- 15-

SVTH: Trần Văn Thiết


nghệ tiến hành thanh tra, kiểm tra 1.536 cơ sở về chấp hành các quy định sở hữu
công nghiệp, xâm phạm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và cạnh tranh
không lành mạnh đã phát hiện 107 cơ sở sai phạm, buộc tiêu huỷ và loại bỏ các
yếu tố vi phạm khỏi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và phạt tiền 224.900.000 đồng.
Thanh tra Bộ Văn hoá – Thông tin tiến hành kiểm tra và phát hiện nhiều cơ sở


SVTH: Trần Văn Thiết


phòng chống tội xâm phạm sở hữu trí tuệ hiện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu bảo quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả trước các hành vi xâm
phạm ngày một gia tăng và phức tạp, cũng như trước các yêu cầu cấp thiết khi
Việt Nam tham gia vào các điều ước quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong
tiến trình hội nhập thương mại quốc tế của mình.
1.2.2.2 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ
ngày một gia tăng. Thứ nhất, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm sở
hữu trí tuệ luôn tạo ra “siêu lợi nhuận” nên rất có sức hút, lôi kéo được nhiều đối
tượng tham gia, kể cả những người lao động thuần túy, trên nhiều địa bàn và
nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thứ hai, trong quá trình hội nhập, ngoài những tác động tích cực góp phần
làm nên những kết quả đáng kể trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, còn phát sinh những yếu tố tiêu cực xâm nhập vào nền kinh tế nhiều thành
phần với tính cạnh tranh cao và diễn biến phức tạp của nước ta. Các mặt hàng nội
địa tuy đa dạng, phong phú và có cải tiến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
cho người tiêu dùng, nhất là trong điều kiện thu nhập bình quân thấp, giá hàng
hoá sản phẩm phục vụ sinh hoạt cao tạo nên sự bất cân đối. Vì vậy, nhiều người
tiêu dùng ưa lựa chọn những sản phẩm giả nhưng mẫu mã, kiểu dáng công
nghiệp “như thật” mà lại có giá bán thấp. Lợi dụng tình trạng này, không ít doanh
nghiệp thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, thiếu sự tôn trọng người tiêu dùng, vì
mục tiêu lợi nhuận sẵn sàng làm giả, làm nhái những sản phẩm được bảo hộ có
uy tín, chất lượng, kiểu dáng để gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng. Vì vậy,
việc sao chụp, mô phỏng, làm nhái các sản phẩm của nhau để giành giật thị
trường trở thành hiện tượng phổ biến. Đây là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ tồn tại và

Khoa học và Công nghệ năm 2000, Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Tố tụng dân sự năm 2005, Luật Hải quan
năm 2002… và trong nhiều văn bản hướng dẫn, thi hành các luật, pháp lệnh nêu
trên.
Trong khi đó, những quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu
trí tuệ lại chưa thật đầy đủ, chưa đồng bộ, đặc biệt là những quy định về các biện
pháp và chế tài xử lý mới chủ yếu dừng ở các hình thức xử lý hành chính, chưa
phù hợp với tình hình thực tế, chưa đủ sức răn đe đối tượng vi phạm. Chế tài về
hình sự chỉ được áp dụng với cá nhân, trong khi nhóm tội về sở hữu trí tuệ chủ
yếu là do tổ chức thực hiện, vì vậy, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự với
pháp nhân được. Các quy định về yếu tố cấu thành của tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp, tội xâm phạm quyền tác giả, tội sản xuất, buôn bán hàng giả
chưa cập nhật được những nội dung mới trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005,
chưa phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc

GVHD: Trương Hòa Bình

- 18-

SVTH: Trần Văn Thiết


tham gia, như Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và các hiệp định của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Thứ năm, trên thực tế, tổ chức và hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm
đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu đồng bộ và
chồng chéo, nhiều tầng nấc xử lý khiến hiệu lực thực thi bị phân tán, phức tạp.
Hiện có tới 6 loại cơ quan (UBND các cấp, thanh tra khoa học và công nghệ,
thanh tra văn hóa, cảnh sát kinh tế, quản lý thị trường, hải quan) cùng có thẩm
quyền xử phạt vi phạm. Theo thông lệ ở các nước trên thế giới thì tòa án phải

nhận vấn đề như vậy mới giúp doanh nghiệp phát triển bền vững trong một môi
trường có lợi cho con đường xây dựng doanh nghiệp lâu bền.. Chẳng hạn, doanh
nghiệp sản xuất đồ chơi trẻ em phải tính toán việc pha trộn hóa chất vào sản
phẩm nhựa có ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em hay không. Chủ đầu tư các cơ sở
sản xuất giấy, bột ngọt... phải xem xét việc xử lý nước thải có ảnh hưởng đến
môi trường sống chung quanh khu vực nhà máy hay không.... Đây là trách nhiệm
tự nguyện của doanh nghiệp đề ra để định hướng hoạt động của mình, thể hiện
cái chúng ta gọi là đạo đức kinh doanh.
Rà soát lại các doanh nghiệp, hiện nay có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động theo
mô thức đó? Chắc chắn là không nhiều..
2.1.2 Đạo đức kinh doanh đối với môi trường
Việc Bộ Tài nguyên - Môi trường xử lý nhẹ tay với Công ty Vedan (chỉ
xử phạt, không đình chỉ sản xuất) làm nhiều người thất vọng, không đủ sức răn
đe với những doanh nghiệp đang hủy hoại môi trường. Mặt khác, trong bối cảnh
bộ khung luật pháp về môi trường còn nhiều thiếu sót, việc thực thi còn lơi lỏng,
xã hội cần nhấn mạnh cả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như một công cụ
GVHD: Trương Hòa Bình

- 20-

SVTH: Trần Văn Thiết


bổ sung để ngăn chặn sự xuống cấp đang diễn ra nhanh chóng trong môi trường
sống của người dân
 Thực trạng ô nhiễm môi trường:
- Môi trường đất: Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết
các vi sinh vật cạn và là nền móng cho các công trình xây dựng, đặc biệt là một
nước Nông nghiệp như Việt Nam đất rất quan trọng trong việc canh tác, trồng
trọt. Tuy nhiên hiện nay bên cạnh việc tăng tăng dân số quá nhanh thì các khu

NGHIỆP
2.2.1 Ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh đến khách hàng của doanh
nghiệp
Khách hàng là cội nguồn của sự tồn tại và phát triển của công ty. “Đạo
đức kinh doanh là hành vi đầu tư vào tương lai. Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ
lôi kéo khách hàng. Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn
trong mỗi con người luôn được thị trường ủng hộ” - đó là định nghĩa đang được
sử dụng rộng rãi của khái niệm đang là “thời thượng” của các doanh nghiệp.
Hãy nhìn lại những gì mà công ty thực phẩm Vedan đã làm. Việc thả chất
thải độc hại đã trực tiếp “giết chết” sông Thị Vải bên cạnh thiệt hại về kinh tế và
sức khỏe của người dân sống quanh vùng, Vedan đã và đang bị cộng đồng trừng
phạt. Các đối tác lớn phân phối sản phẩm của Vedan như các hệ thống siêu thị:
Coop Mart, Vinatext, Citimart, Maximart từ chối phân phối cho tất cả các sản
phẩm của Vedan. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng phẫn nộ không kém và
hành động bằng cách tảy chay sản phẩm của họ. Vẫn biết tiết kiệm chi phí để
tăng lợi nhuận nhưng không vì thế mà doanh nghiệp lại suy đồi đạo đức, tìm cách
lách luật. Quay sang tập đoàn Mai Linh, ở đây ta nói về lĩnh vực vận tải, với đội
ngũ nhân viên chuyên nghiệp luôn đưa khách hàng lên hàng đầu , tận tình phục
vụ. Bên cạnh không ngừng thực hiện những cộng việc vì môi trường và xã hôi.
Vì vậy luôn được sựu ưu ái, và tin tưởng từ khách hàng.
2.2.2 Ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh đến các nhà đầu tư của
doanh nghiệp
Đây là vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam do thị trường chứng khoán Việt
Nam còn rất non trẻ nên những quy định về tính trung thực trong báo cáo tài
chính, công khai thông tin với các nhà đầu tư của doanh nghiệp,… vẫn còn chưa
chặt chẽ. Vì vậy, thời gian qua đã xuất hiện hiện tượng các doanh nghiệp đưa ra
những thông tin chưa chính xác để trục lợi, gây lao đao cho nhiều nhà đầu tư.
Vụ việc nghiêm trọng đầu tiên là việc Joint stock Bien Hoa Confectionery
Company (Bibica) gian dối trong việc khai báo kết quả kinh doanh năm 2002 và
6 tháng đầu năm 2003. Bibica là một trong 21 công ty đăng ký lên sàn đầu tiên ở

tin là họ đã ký hợp đồng liên doanh với Goldman Sachs, một tập đòan tài chính
hàng đầu của Mỹ, thậm chí Thiên Việt còn đưa ra bản thỏa thuận hợp tác với chữ
ký của Chủ tịch Goldman Sachs và Thiên Việt với các phương tiện thông tin đại
chúng, thế nên giá cổ phiếu của Thiên Việt tăng rất nhanh, gấp nhiều lần so với
giá niêm yết. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau các phương tiện thông tin đại chúng
đã cung cấp thông tin rằng Goldman Sachs từ chối hợp tác với Thiên Việt. Thêm
vào đó, ông Phạm Kinh Luân cũng cho biết ông chưa hề ký hợp đồng làm việc
cho Thiên Việt. Vì vậy, Thiên Việt đã bị phạt nặng bởi Trung tâm giao dịch
chứng khóan thành phố Hồ Chí Minh (HSTC) và Ủy ban chứng khoán nhà nước
GVHD: Trương Hòa Bình

- 23-

SVTH: Trần Văn Thiết


vì đưa ra thông tin không rõ ràng và không ngay thẳng. Người thiệt hại nhiều
nhất ở đây chính là các nhà đầu tư, những người đã bị thu hút bởi những thông
tin sai lệch mà Ban Giám đốc công ty Thiên Việt đưa ra.
Vì vậy, những vụ việc như vậy vẫn có nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào vì
luật pháp cũng như ý thức của các nhà kinh doanh Việt Nam về vấn đề này còn
chưa đầy đủ. Trong kinh doanh việc gặp khó khăn hay rủi ro là khá thường
xuyên. Khi gặp tình huống này, những công ty uy tín trên thế giới thường chọn
cách thông báo rộng rãi cho các cổ đông để kêu gọi sự hợp tác của họ nhằm giúp
công ty vượt qua khó khăn. Mặc dù tiềm ẩn nhiểu rủi ro nhưng cách này giúp
công ty giữ được lòng tin của các nhà đầu tư, và thoát khỏi nguy cơ bị bỏ rơi khi
thông tin bại lộ. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam lại thường không làm
như vậy.
2.2.3 Vấn đề thương hiệu và lợi nhuận
2.2.3.1 Giá trị thương hiệu và đạo đức kinh doanh

rõ ràng khả năng mang lại lợi nhuận sẽ tăng đáng kể mà công sức và thời gian và
chi phí kinh doanh sẽ giảm xuống. Còn gì bằng khi mà một chai bia Heineken có
giá bán gần gấp 2 lần chai bia Sài Gòn (trên thực tế mức lợi nhuận sẽ chênh nhau
đến cả chục lần). Tại sao một đôi giày thể thao Nike được sản xuất tại Việt Nam
có giá xuất xưởng chưa tới 15 Đô-la Mỹ lại có giá bán gần 200 Đô-la Mỹ? Tất cả
những người làm kinh doanh, những chuyên gia marketing và các giám đốc nhãn
hiệu đều có chung một khát khao là làm sao có thể nâng được giá bán của sản
phẩm lên thật cao ở mức đối đa, mà người tiêu dùng có thể chấp nhận.Một vấn
đề lớn được đặt ra rằng liệu đã đến lúc phải làm rõ chuyện “bóc lột trắng trợn”
của những người chủ thương hiệu đối với người tiêu dùng? Theo như những gì
đang xảy ra, liệu các chủ thương hiệu có quá nhẫn tâm và tham lam khi nâng
mức giá lên cao quá mức như vậy? đạo đức kinh doanh trong việc tìm cách bắt
người tiêu dùng phải trả thêm tiền chỉ bởi sản phẩm được gắn thêm một cái tên
“khác biệt”?
 Sự thật phía sau những cảm nhận đắt giá

Số liệu thực tế cho thấy, sự trung thành của người tiêu dùng (hay nói cách
khác là sự lệ thuộc của họ) vào các thương hiệu đắt tiền luôn bền vững và ngày
càng tăng. Theo bài nghiên cứu “ Thực trạng và giải pháp đạo đức kinh doanh tại
Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh, khi trả lời cho câu hỏi: “nếu được
thoải mái lựa chọn thì bạn sẽ chọn loại bia nào?”, hơn 70% người được hỏi đã trả
lời Heineken. Quả thật là các thương hiệu mạnh luôn có giá cao hơn hẳn những
đối thủ cạnhtranh cùng ngành hàng. nếu tìm hiểu kỹ lưỡng thì sẽ thấy rằng, các
sản phẩm “cao cấp” đắt tiền luôn được ưa chuộng, và ngày càng được ưa chuộng
hơn. Trong một đợt phỏng vấn bỏ túi với khoảng 60 phụ nữ được hỏi ý kiến, tất
cả mọi người đều chọn Sunsilk làm dầu gội thay vì chọn một nhãn dầu nội địa
khác có chất lượng tốt và giá rẻ hơn. Dựa trên những phân tích về giá trị của sản
phẩm và giá trị của thương hiệu, chúng ta dễ thấy được là một sản phẩm mang
GVHD: Trương Hòa Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status