Luận văn: Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam - Pdf 12

Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 1- SVTH: Trần Văn Thiết
Luận văn
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh
của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 2- SVTH: Trần Văn Thiết

tại Việt Nam” để nhằm phác họa lên bức tranh đạo đức kinh doanh của các doanh
nghiệp hiện nay, qua đó đề ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao cũng
như hạn chế những hành động thiếu đạo đức của các doanh nghiệp đang và sắp
diễn ra.
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 3- SVTH: Trần Văn Thiết
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 4- SVTH: Trần Văn Thiết
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.1 Mục tiêu chung:
Nêu lên vấn đề đạo đức trong kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó
đánh giá tình hình và đề ra giải pháp để góp phần nâng cao cũng như hạn chế
những khuyết điểm mà các doanh nghiệp đang đối mặt.
1.2 Mục tiêu cụ thể
 Phác họa thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại
Việt Nam hiện nay.
 Phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh đến xã
hội và doanh nghiệp.
 Đề ra những giải để nâng cao đạo đức trong kinh doanh tại Việt
Nam trong tương lai.
1.3 Phạm vi nghiên cứu:
1.3.1. Không gian: Phạm vi nghiên cứu trên toàn Việt Nam.
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các doanh nghiệp đang kinh
doanh tại Việt Nam.
1.4. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 5/2011 đến 7/2011
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp.
Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh - do kinh
doanh là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện
trong ứng xử về đạo đức không hoàn toàn giống các hoạt động khác: tính thực
dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh doanh
nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế … hoặc sang các
quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ, con cái thì đó là những thói xấu bị xã
hội phê phán. Song cần lưu ý rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi
phối bởi một hệ thống giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung.
1.1.1.2 Các nguyên tắc của đạo đức kinh doanh
 Tính trung thực
Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ lời hứa, giữ
chữ tín trong kinh doanh. Nhất quán trong nói và làm. Trung thực trong chấp
hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế,
không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ
có hại cho thuần phong mỹ tục. Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao
dịch, đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng: không làm hàng giả, khuyến mại giả,
quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 7- SVTH: Trần Văn Thiết
quyền, phá giá theo lối ăn cướp. Trung thực ngay với bản thân, không hối lộ,
tham ô, thụt két, "chiếm công vi tư".
 Tôn trọng con người
Đối với những người cộng sự và dưới quyền, tôn trọng phẩm giá, quyền
lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân
viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp
khác.
Đối với khách hàng: tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng.
Đối với đối thủ cạnh tranh: tôn trọng lợi ích của đối thủ. Gắn lợi ích của

lắngnghe khách hàng.
 Chăm sóc khách hàng
Là tất cả những gì cần thiết mà doanh nghiệp phải làm để thoả mãn nhu
cầu và mong đợi của khách hàng, tức là phục vụ khách hàng theo cách mà họ
mong muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết thiết để giữ các khách
hàng đang có. Khách hàng mong muốn dịch vụ cốt lõi trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thực sự đáp ứng nhu cầu của họ. Khách hàng luôn mong
đợi dịch vụ hậu mãi sau bán hàngcủa doanh nghiệp thực sự tiện lợi.
Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, hãy xây dựng một môi trường kinh
doanh thực sự chú trọng cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Đây là
cách tốt nhất để tăng cường lợi thế cạnh tranh của mình. Cạnh tranh hiện nay
không chỉ là cạnh tranh về sản phẩm mà còn phải làm tốt công tác chăm sóc
khách hàng. Chăm sóc khách hàng không chỉ là nhiệm vụ của nhân viên bán
hàng mà bất kỳ cá nhân nào trong doanh nghiệp cũng phải thực hiện nhiệm vụ
nào đó cho một số người khác trong doanh nghiệp của mình, tức là ai cũng có
khách hàng và đó là khách hàng nội bộ của doanh nghiệp. Việc chăm sóc khách
hàng phải bắt nguồn từ sự cam kết của lãnh đạo cấp cao nhất và nhất quán trong
mọi phòng ban.
 Tạo sự an tâm của khách hàng đối với nhãn hiệu
Vì người mua thường cảm thấy an tâm khi mua những nhãn hiệu mà mình
đã từng biết, từng nghe nói đến nhiều. Một nhãn hiệu nghe lạ tai ít có cơ may
được khách hàng quan tâm đến.
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 9- SVTH: Trần Văn Thiết
 Sự trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu của doanh
nghiệp
Thông qua việc giữ chân khách hàng dễ dàng hơn, nhất là khi khách hàng
đã thỏa mãn với nhãn hiệu của doanh nghiệp. Khách hàng thường vẫn có tâm lý
ngại thay đổi nhãn hiệu, thậm chí còn quảng cáo không công cho nhãn hiệu đã

trên. Do khan hiếm hầu hết hàng hóa tiêu dùng, để mua được đã là rất khó, nên
không ai có thể phàn nàn về chất lượng hàng hóa. Vì cầu vượt quá cung, chất
lượng phục vụ trong mạng lưới cung cấp vô cùng thấp nhưng ít người dám than
phiền. Vào thời gian đó, các ngành công nghiệp của Việt Nam chưa phát triển, có
rất ít nhà sản xuất và hầu hết đều thuộc sở hữu nhà nước, nên không cần quan
tâm đến vấn đề thương hiệu hay sở hữu trí tuệ. Hầu hết lao động đều làm việc
cho nhà nước, nơi mà kỷ luật và chế độ lương thưởng đều thống nhất và đơn
giản. Mọi hoạt động trong xã hội đều phải tuân thủ quy định của Nhà nước nên
những phạm trù trên là không cần thiết.
Thời gian gần đây, do áp lực của tiến trình toàn cầu hóa, đã có khá nhiều bài
báo trên các báo và tạp chí như: Chúng ta (Tạp chí lưu hành nội bộ của công ty
FPT, website: www.chungta.com) hay báo Diễn đàn doanh nghiệp (tờ thời báo
cho giới doanh nhân Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
- VCCI phát hành, website: www.dddn.com.vn) và một số báo và tạp chí khác
như: Saigon Times, Thời báo kinh tế Sài Gòn, báo Lao động. Nhưng các bài báo
này thường chỉ dừng ở việc nhận định về những sự kiện gần đây ở Việt Nam có
liên quan đến đạo đức kinh doanh hoặc cung cấp về một số vụ việc trên các sách
báo nước ngoài, chứ không tiến hành khảo sát hay đưa ra một khái niệm cụ thể
nào về đạo đức kinh doanh. Hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng dạy về kinh
doanh ở Việt Nam đều chưa có môn học này, hoặc nếu có cũng chỉ dừng ở hình
thức môn tự chọn. Trong nội dung của các môn học có liên quan như kinh doanh
quốc tế hay quản trị kinh doanh cũng chưa đề cập đến khái niệm này, hoặc nếu
có thì nội dung cũng quá sơ sài. Ví dụ, trong giáo trình môn Văn hóa kinh doanh
tại một trường Đại học Kinh tế ở Việt Nam có giành một chương cho Đạo đức
kinh doanh nhưng lại coi đạo đức kinh doanh là việc tuân thủ pháp luập trong
kinh doanh. Quan niệm như vậy là quá hạn hẹp, chưa đánh giá hết tầm quan
trọng của khái niệm này. Do áp lực của tiến trình toàn cầu hóa, các phương tiện
thông tin đại chúng ở Việt Nam đề cập khá nhiều đến vấn đề này nhưng lại
không đưa ra được một khái niệm chuẩn mực nào. Chính vì vậy, mặc dù thường
được nghe về đạo đức kinh doanh nhưng cách hiểu của người dân, của các doanh

như người tiêu dùng vẫn không thể có cách nào để bảo vệ mình trước các trò gian
lận của những chủ cây xăng thiếu đạo đức kinh doanh. Chưa có một lĩnh vực tiêu
dùng nào mà người mua buộc phải nhắm mắt trước các trò gian xảo mà người
bán bày ra như xăng dầu.
Tỉnh Bình Dương là địa phương đầu tiên cả nước công bố danh tính các
cây xăng gian lận lên báo. Một thống kê giật mình là có đến 62% cây xăng được
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 12- SVTH: Trần Văn Thiết
kiểm tra là có gian lận. Riêng chuyện đo đếm, theo quy định sai số là 0,5% trong
khi các cây xăng sai số này là từ 1 - 8%. Trong quá khứ, Bình Dương cũng từng
phát hiện có cây xăng ăn gian đến 12,9% khi bơm xăng cho khách. "Ba năm nay,
tình hình dường như không có cải thiện gì. Chủ cây xăng cứ ăn gian còn người
tiêu dùng cứ phải chịu thiệt" một cán bộ trong đoàn kiểm tra xăng dầu của Bình
Dương nói. Theo danh sách mới được công bố thì trên địa bàn tỉnh Bình Dương
có đến 9 doanh nghiệp nằm trong "danh sách đen" Ngoài ra, thủ đoạn có vẻ thủ
công nhưng vẫn còn nhiều cây xăng áp dụng là cưa rãnh đầu vít - bộ điều khiển
xung - vừa đủ nhỏ để tháo dây kẹp chì, điều chỉnh sai số rồi lắp lại. Thủ đoạn này
tương đối dễ phát hiện đối với lực lượng kiểm tra song vẫn là "bất khả phát hiện"
đối với người tiêu dùng.
Cho đến thời điểm này người tiêu dùng thực sự bó tay trước các thủ đoạn
ngày càng tinh vi của nhà kinh doanh xăng dầu gian dối. Qua vụ việc aceton
trong xăng vừa rồi người tiêu dùng lại càng thêm thất vọng.
 Người lao động
Đảm bảo điều kiện lao động an toàn là hoạt động có đạo đức nhất trong
vấn đề bảo vệ người lao động. Người lao động có quyền làm việc trong một môi
trường an toàn. Mặt khác xét từ lợi ích, khi người làm công bị tai nạn, rủi ro thì
không chỉ ảnh hưởng xấu đến bản thân họ mà còn tác động đến vị thế cạnh tranh
của công ty.
Tuy nhiên, việc cung cấp những trang thiết bị an toàn cho người lao động

nhân, đại diện của cấp trên, giám sát viên trong một lĩnh vực khác hoặc là một
đồng nghiệp.
 Thuế
Tiền thuế được thu để phục vụ trở lại xã hội và duy trì bộ máy nhà nước
để quản lý và phục vụ xã hội. Do đó, hành vi trốn thuế dù dưới bất kỳ hình thức
nào thì cũng đã vi phạm "đạo đức kinh doanh", chỉ có điều là nhiều hay ít. Còn
trốn thuế như thế nào thì nó muôn hình vạn trạng, vụ mới nhất là ô tô VAN, nếu
để nguyên chiếc thì chịu thuế ngất trời vì là xe hơi, nhưng nhà nhập khẩu chỉ cần
tháo 1 chiếc ghế ra thì đã biến nó thành xe tải, được hưởng thuế ưu đãi.
Ngoài trốn thuế như đã nêu trên thì tránh thuế là hành vi cũng liên quan
tới vấn đề đạo đức kinh doanh.
Một số hành vi gian lận thuế có thể kể tới như :
+ Gian lận sổ sách bằng cách tạo ra 2 hệ thống ghi
+ Trả lương bằng tiền mặt. Khi trả lương bằng tiền mặt thì không thể ghi
nhận được các hoạt động này và thu nhập không phải báo cho thanh tra thuế.
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 14- SVTH: Trần Văn Thiết
+ Trao đổi hiện vật, khi trao đổi bằng hiện vật thì theo luật vẫn phải đánh
thuế nhưng người ta ít khai báo dạng thu nhập này do khó theo dõi quy mô. Bằng
việc làm khó các thanh tra thuế, hành vi tránh thuế được thực hiện. Ngoài ra còn
có việc sử dụng các tài khoản ngân hàng không chính thức, rửa tiền, hoặc phân
bổ vào các nguồn thu nhập không chính thức khác.

1.2 CÁC VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.2.1 Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và xã hội
1.2.1.1 Thương hiệu doanh nghiệp và khách hàng
Từ trước đến nay các nghiên cứu sự trung thành của khách hàng ở các
nước cũng như ở Việt nam mới chỉ đánh giá sự trung thành về hành vi và nó
không thể giải thích mối quan hệ bất đối xứng giữa sự thoả mãn và sự trung

1.2.1.2 Doanh nghiệp và xã hội
Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi
từ khách hàng ngày càng cao và xã hội do đó có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn
đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì các
doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những
chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, thậm chí siêu lợi
nhuận mà cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao
động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, quyền
lợi đào tạo và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm
cả các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện…
Cụ thể tất cả nội dung trên trong thời hội nhập toàn cầu hoá kinh tế hiện
nay có thể hiểu như sau:
(i) Trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng;
(ii) Trách nhiệm về bảo vệ môi trường;
(iii) Trách nhiệm với người lao động
Liên lết
thương
hiệu

cam kết
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 16- SVTH: Trần Văn Thiết
(iv) Trách nhiệm chung với cộng đồng.
Như vậy, nội hàm bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của
doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp, từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu thụ, tiêu dùng đến các
nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ, từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến
các cổ đông của doanh nghiệp. Trong đó, có cả trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên,
môi trường mà thực chất cũng là có trách nhiệm chung với lợi ích cộng đồng xã
hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự
phát triển chung của đất nước.
Những người lãnh đạo doanh nghiệp thời nay do đó phải là những người có
tầm nhìn xa trông rộng để hướng tới mục tiêu hoạt động toàn diện không chỉ giới
hạn bởi thặng dư, lợi nhuận kinh tế đơn thuần. Thước đo thành công của họ bắt
nguồn từ những tác động mà họ tạo ra đối với nhu cầu xã hội. Các doanh nhân
này cần tìm kiếm những giải pháp để thay đổi xã hội theo chiều hướng ngày càng
tốt hơn và ngược lại, các doanh nghiệp của họ sẽ có những điều kiện để phát triển
bền vững hơn. Lợi ích dài hạn chủ yếu của CSR là cho chính nội bộ doanh
nghiệp như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ nhân
viên thôi việc, tăng năng suất lao động. Ngoài ra, còn giúp nâng cao uy tín của
doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và các đối tác, tạo ra ưu thế trong
cạnh tranh và thuận lợi trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.

1.2.2 Vấn đề sở hữu trí tuệ
1.2.2.1 Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ
Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn
bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-
2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát

chủ thể của tội phạm hầu hết là những người có điều kiện kinh tế, trình độ
chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao, am hiểu những lĩnh vực mình đang quản lý,
một số người còn có chức vụ, quyền hạn nhất định. Bên cạnh đó, sự bùng nổ của
khoa học, công nghệ đã tạo nhiều thiết bị, công cụ, phương tiện phạm tội ngày
càng tinh vi nên rất khó phát hiện. Các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ đã gây ra
hoặc đe dọa đến thiệt hại nền kinh tế của cả nước cũng như từng lĩnh vực, từng
ngành, ảnh hưởng đến tài sản, sức khoẻ và tính mạng con người, tác động đến
với cả cộng đồng, triệt tiêu sức sáng tạo và khiến giới đầu tư e ngại.
Tuy nhiên, việc xử lý tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn gặp nhiều
khó khăn và bất cập. Các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra ngày một gia tăng
nhiều hơn nhưng khó bị phát hiện và khi bị phát hiện thì thường chỉ bị xử lý bằng
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 18- SVTH: Trần Văn Thiết
các biện pháp dân sự hoặc hành chính. Điều này cho thấy, công tác đấu tranh
phòng chống tội xâm phạm sở hữu trí tuệ hiện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu bảo quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả trước các hành vi xâm
phạm ngày một gia tăng và phức tạp, cũng như trước các yêu cầu cấp thiết khi
Việt Nam tham gia vào các điều ước quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong
tiến trình hội nhập thương mại quốc tế của mình.
1.2.2.2 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ
ngày một gia tăng. Thứ nhất, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm sở
hữu trí tuệ luôn tạo ra “siêu lợi nhuận” nên rất có sức hút, lôi kéo được nhiều đối
tượng tham gia, kể cả những người lao động thuần túy, trên nhiều địa bàn và
nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thứ hai, trong quá trình hội nhập, ngoài những tác động tích cực góp phần
làm nên những kết quả đáng kể trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, còn phát sinh những yếu tố tiêu cực xâm nhập vào nền kinh tế nhiều thành
phần với tính cạnh tranh cao và diễn biến phức tạp của nước ta. Các mặt hàng nội

giả tinh vi đến mức chính doanh nghiệp sản xuất cũng không phát hiện được, đến
khi biết, tuy có một số biện pháp khắc phục nhưng không đáng kể, coi như “chấp
nhận sống chung với hàng giả”.
Thứ tư, các quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ còn
chưa tập trung, mà rải rác trong quá nhiều văn bản, như: Hiến pháp năm 1992,
Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1997 (sửa đổi bổ sung
năm 2002, 2008), Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Luật
Khoa học và Công nghệ năm 2000, Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Tố tụng dân sự năm 2005, Luật Hải quan
năm 2002… và trong nhiều văn bản hướng dẫn, thi hành các luật, pháp lệnh nêu
trên.
Trong khi đó, những quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu
trí tuệ lại chưa thật đầy đủ, chưa đồng bộ, đặc biệt là những quy định về các biện
pháp và chế tài xử lý mới chủ yếu dừng ở các hình thức xử lý hành chính, chưa
phù hợp với tình hình thực tế, chưa đủ sức răn đe đối tượng vi phạm. Chế tài về
hình sự chỉ được áp dụng với cá nhân, trong khi nhóm tội về sở hữu trí tuệ chủ
yếu là do tổ chức thực hiện, vì vậy, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự với
pháp nhân được. Các quy định về yếu tố cấu thành của tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp, tội xâm phạm quyền tác giả, tội sản xuất, buôn bán hàng giả
chưa cập nhật được những nội dung mới trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005,
chưa phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 20- SVTH: Trần Văn Thiết
tham gia, như Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và các hiệp định của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Thứ năm, trên thực tế, tổ chức và hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm
đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu đồng bộ và
chồng chéo, nhiều tầng nấc xử lý khiến hiệu lực thực thi bị phân tán, phức tạp.
Hiện có tới 6 loại cơ quan (UBND các cấp, thanh tra khoa học và công nghệ,

nghiệp sản xuất đồ chơi trẻ em phải tính toán việc pha trộn hóa chất vào sản
phẩm nhựa có ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em hay không. Chủ đầu tư các cơ sở
sản xuất giấy, bột ngọt phải xem xét việc xử lý nước thải có ảnh hưởng đến môi
trường sống chung quanh khu vực nhà máy hay không Đây là trách nhiệm tự
nguyện của doanh nghiệp đề ra để định hướng hoạt động của mình, thể hiện cái
chúng ta gọi là đạo đức kinh doanh.
Rà soát lại các doanh nghiệp, hiện nay có bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động theo
mô thức đó? Chắc chắn là không nhiều

2.1.2 Đạo đức kinh doanh đối với môi trường
Việc Bộ Tài nguyên - Môi trường xử lý nhẹ tay với Công ty Vedan (chỉ
xử phạt, không đình chỉ sản xuất) làm nhiều người thất vọng, không đủ sức răn
đe với những doanh nghiệp đang hủy hoại môi trường. Mặt khác, trong bối cảnh
bộ khung luật pháp về môi trường còn nhiều thiếu sót, việc thực thi còn lơi lỏng,
xã hội cần nhấn mạnh cả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như một công cụ
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 22- SVTH: Trần Văn Thiết
bổ sung để ngăn chặn sự xuống cấp đang diễn ra nhanh chóng trong môi trường
sống của người dân
 Thực trạng ô nhiễm môi trường:
- Môi trường đất: Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết
các vi sinh vật cạn và là nền móng cho các công trình xây dựng, đặc biệt là một
nước Nông nghiệp như Việt Nam đất rất quan trọng trong việc canh tác, trồng
trọt. Tuy nhiên hiện nay bên cạnh việc tăng tăng dân số quá nhanh thì các khu
công nghiệp mọc lên nhằm phục vụ cho sản xuất làm cho diện tích canh tác ngày
càng bị thu hẹp, diện tích đất bình quân trên đầu người giảm. Cần có biện pháp
can thiệp của nhà nước nhằm cân bằng giữu nông và công nghiệp trong việc sử
dụng tài nguyên đất.
- Môi trường nước: Các doanh nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phí một cách

sức khỏe của người dân sống quanh vùng, Vedan đã và đang bị cộng đồng trừng
phạt. Các đối tác lớn phân phối sản phẩm của Vedan như các hệ thống siêu thị:
Coop Mart, Vinatext, Citimart, Maximart từ chối phân phối cho tất cả các sản
phẩm của Vedan. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng phẫn nộ không kém và
hành động bằng cách tảy chay sản phẩm của họ. Vẫn biết tiết kiệm chi phí để
tăng lợi nhuận nhưng không vì thế mà doanh nghiệp lại suy đồi đạo đức, tìm cách
lách luật. Quay sang tập đoàn Mai Linh, ở đây ta nói về lĩnh vực vận tải, với đội
ngũ nhân viên chuyên nghiệp luôn đưa khách hàng lên hàng đầu , tận tình phục
vụ. Bên cạnh không ngừng thực hiện những cộng việc vì môi trường và xã hôi.
Vì vậy luôn được sựu ưu ái, và tin tưởng từ khách hàng.

2.2.2 Ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh đến các nhà đầu tư của
doanh nghiệp
Đây là vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam do thị trường chứng khoán Việt
Nam còn rất non trẻ nên những quy định về tính trung thực trong báo cáo tài
chính, công khai thông tin với các nhà đầu tư của doanh nghiệp,… vẫn còn chưa
chặt chẽ. Vì vậy, thời gian qua đã xuất hiện hiện tượng các doanh nghiệp đưa ra
những thông tin chưa chính xác để trục lợi, gây lao đao cho nhiều nhà đầu tư.
Vụ việc nghiêm trọng đầu tiên là việc Joint stock Bien Hoa Confectionery
Company (Bibica) gian dối trong việc khai báo kết quả kinh doanh năm 2002 và
6 tháng đầu năm 2003. Bibica là một trong 21 công ty đăng ký lên sàn đầu tiên ở
Đánh giá thực trạng đạo đức kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

GVHD: Trương Hòa Bình - 24- SVTH: Trần Văn Thiết
Việt Nam và là công ty niêm yết đầu tiên trong ngành bánh kẹo. Vì vậy, các nhà
đầu tư trông đợi rất nhiều vào lợi nhuận của công ty sau khi niêm yết. Để nâng
cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, thời gian này công ty đã đồng loạt triển
khai các dự án đầu tư mới nhằm mở rộng sản xuất - kinh doanh, đầu tư phát triển
các sản phẩm mới (bánh trung thu, Layer Cake, chocolate), xây dựng Nhà máy
Bánh kẹo Biên Hòa 2… nên số nợ ngân hàng gia tăng. Thêm vào đó, giá nguyên

nhất ở đây chính là các nhà đầu tư, những người đã bị thu hút bởi những thông
tin sai lệch mà Ban Giám đốc công ty Thiên Việt đưa ra.
Vì vậy, những vụ việc như vậy vẫn có nguy cơ xảy ra bất cứ lúc nào vì
luật pháp cũng như ý thức của các nhà kinh doanh Việt Nam về vấn đề này còn
chưa đầy đủ. Trong kinh doanh việc gặp khó khăn hay rủi ro là khá thường
xuyên. Khi gặp tình huống này, những công ty uy tín trên thế giới thường chọn
cách thông báo rộng rãi cho các cổ đông để kêu gọi sự hợp tác của họ nhằm giúp
công ty vượt qua khó khăn. Mặc dù tiềm ẩn nhiểu rủi ro nhưng cách này giúp
công ty giữ được lòng tin của các nhà đầu tư, và thoát khỏi nguy cơ bị bỏ rơi khi
thông tin bại lộ. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam lại thường không làm
như vậy.

2.2.3 Vấn đề thương hiệu và lợi nhuận
2.2.3.1 Giá trị thương hiệu và đạo đức kinh doanh
Các thương hiệu luôn xuất hiện, cạnh tranh và tồn tại trong những phân
khúc giá khác nhau. Bên cạnh đó vấn đề lợi nhuận và đạo đức trong kinh doanh
luôn làm đau đầu các nhà lãnh đạo. Thương hiệu trong nền kinh tế thị trường:
theo cơ chế cạnh tranh của thị trường tự do, trong bất cứ ngành hàng nào, từ hàng
tiêu dùng nhanh, hàng điện máy, ngành quần áo thời trang hay các ngành dịch
vụ,…các thương hiệu luôn xuất hiện, cạnh tranh và tồn tại trong những phân
khúc giá khác nhau. Lấy ví dụ tại thị trường Việt Nam. Trong ngành dầu gội, giá
bán của Clear đắt gần gấp 2 lần giá bán của dầu gội đầu Rejoice. Trong ngành
điện máy, giá bán của tivi Sony đắt gấp đội so với giá của nhãn hiệu nội địa
Darling. Trong ngành dịch vụ quảng cáo hay trong dịch vụ về luật, giá dịch vụ
của các hãng nước ngoài đắt hơn từ 3 đến 10 lần so với giá của các công ty của
Việt Nam. Tuy có mức chênh lệch giá rất lớn giữa các thương hiệu ở phân khúc
thấp so với phân khúc cao cấp, nhưng càng ngày, chất lượng sản phẩm (hay dịch
vụ) giữa các phân khúc càng bớt khác biệt. Ngày nay, nếu bỏ nhãn hiệu đi và cho
người khách hàng dùng thử, nhiều loại sản phẩm và dịch vụ có giá rất chênh
nhau những lại hầu như không tạo ra sự khác biệt. Trên thực tế các tập đoàn đa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status