1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, như màu sắc đối với hội họa,
âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc. Nói cho cùng, văn học là
nghệ thuật của ngôn ngữ và những nhà văn lớn đều là những nhà có tài sử dụng
ngôn ngữ điêu luyện. Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ
đóng vai trò quan trọng khiến tín hiệu ngôn ngữ trở thành tín hiệu thẩm mĩ
(THTM). THTM trong văn học là một lãnh địa mới mẻ và trừu tượng để khám
phá, nghiên cứu nó không hề đơn giản nhưng chính vì thế nó vô cùng lôi cuốn,
hấp dẫn người nghiên cứu. Mỗi phát hiện dù là nhỏ nhất trong lĩnh vực này đều
có khả năng tạo ra nhiều khoái cảm thẩm mĩ mới lạ.
Việc tìm hiểu thơ Hàn Mặc Tử là một quá trình lâu dài. Hàn Mặc Tử được
coi là một hồn thơ dị thường nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại. Cả cuộc đời ông
đã tạo nên như một huyền thoại và trải qua nó với tất cả trái tim, cả niềm đam
mê trong sáng tạo. Với tâm hồn siêu thoát, luôn khát vọng vươn tới sự huyền bí,
vô thường, thế giới thơ ca của Hàn Mặc Tử luôn ám ảnh bởi trăng, hồn, máu.
Đặc biệt hơn cả, đó là hình ảnh trăng được xuyên suốt trong cảm hứng thi ca
của ông, tạo ra một hình tượng nghệ thuật đặc sắc và đó chính là một THTM. Có
thể nói, trăng là mô típ chủ đạo trong thơ Hàn Mặc Tử thể hiện thế giới mơ ước,
thế giới lí tưởng ở ông.
Tài năng Hàn Mặc Tử trong lĩnh vực ngôn ngữ là mảnh đất còn hoang sơ,
còn nhiều điều phải khám phá. Ở đây, chúng tôi muốn bàn về trăng trong thơ
Hàn Mặc Tử dưới góc độ là một THTM nhằm góp phần khẳng định một cách
tiếp cận mới các hình tượng văn học từ góc độ lí thuyết về THTM để góp thêm
tiếng nói ca ngợi tài năng xuất chúng của nhà thơ, đồng thời phục vụ cho việc
giảng dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường hiện nay, và ở mức độ nhất
định góp phần nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mĩ các thi phẩm của Hàn Mặc
Tử nói riêng, các tác phẩm thơ ca nói chung.
Với tất cả lí do trên, chúng tôi quyết định đi tìm hiểu, nghiên cứu về: Tín
họa phong cách ngôn ngữ của thí sĩ này.
3.2. Nhiệm vụ
Với khóa luận này, chúng tôi tiến hành theo những bước sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu chung về THTM.
Thứ hai: Tiến hành khảo sát thơ ca Hàn Mặc Tử, tìm ra những bài thơ,
câu thơ có sử dụng THTM trăng.
Thứ ba: Phân loại, thống kê THTM trăng theo đặc điểm cấu tạo.
Thứ tư: Phân tích giá trị nghệ thuật của THTM trăng trong việc biểu đạt
nội dung, ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của nhà thơ Hàn Mặc Tử.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
3
Chúng tôi lấy THTM trăng trong thơ Hàn Mặc Tử làm đối tượng nghiên
cứu chính.
4.2. Phạm vi
Phạm vi khảo sát của khóa luận chúng tôi theo cuốn Hàn Mặc Tử tác
phẩm phê bình và tưởng niệm do GS. Phan Cự Đệ biên soạn đây là bản mà các
sáng tác của nhà thơ được tập hợp một cách tương đối đầy đủ và hệ thống hơn
cả bao gồm:
- Thơ văn xuôi: chơi giữa mùa trăng.
- Lệ thanh thi tập.
- Gái quê.
- Đau thương bao gồm: hương thơm; mật đắng; máu cuồng và hồn điên.
- Xuân như ý.
- Thượng thanh khí.
- Cẩm châu duyên.
- Thơ kịch: Duyên kì ngộ, Quần tiên hội (trích).
- Những bài thơ khác
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận có cấu trúc gồm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề chung.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trăng trong thơ Hàn
Mặc Tử.
Chương 3: Ý nghĩa thẩm mĩ của tín hiệu thẩm mĩ trăng trong thơ Hàn
Mặc Tử.
Ngoài ra, khóa luận còn có phần mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục. 5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Cơ sở lí thuyết
1.1.1. Tín hiệu ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm tín hiệu ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, cũng giống như tín hiệu, ngôn
ngữ gồm có hai mặt: mặt biểu đạt (mặt âm thanh), mặt được biểu đạt (mặt ý
nghĩa). Nhưng hệ thống tín hiệu rất phức tạp, đa dạng bao gồm các yếu tố đồng
loại và không đồng loại, với số lượng không xác định. Ngôn ngữ có rất nhiều
phần dưới trước hết hay trên cùng của một sự vật nào đó.
Như vậy, tính võ đoán của tín hiệu ngôn ngữ không mang mức tuyệt đối.
b. Mang tính chất đa trị
Ở nhiều loại tín hiệu mang tính đơn trị tức là mối hình thức tín hiệu
thường chỉ biểu thị một nội dung. Ví dụ, trong tín hiệu đèn giao thông: màu
xanh chỉ ứng với nghĩa được đi, màu đỏ chỉ biểu đạt nghĩa dừng lại, màu vàng
chỉ nghĩa chuẩn bị. Còn tín hiệu ngôn ngữ có tính đa trị , nghĩa là có thể có các
trường hợp:
- Một tín hiệu ngôn ngữ biểu thị nhiều nội dung khác nhau, như trường
hợp các từ nhiều nghĩa, đồng âm. Chẳng hạn, cùng hình thức âm thanh đánh,
theo Từ điển tiếng Việt có đến 27 nghĩa.
- Nhiều tín hiệu ngôn ngữ biểu thị một nội dung, như trường hợp các từ
đồng nghĩa.
- Nội dung của mỗi tín hiệu ngôn ngữ, ngoài phần hiện thứ khách quan
còn có thể gợi ra những tình cảm, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá…đối với các
sự vật, hiện tượng (nghĩa biểu cảm). Ví dụ, xét trong các tín hiệu đồng nghĩa:
chết, từ trần, ngoẻo…, các tín hiệu này cùng chỉ trạng thái (mất khả năng sống,
không còn biểu hiện của sự sống), nhưng giữa chúng có sự khác nhau về phần
tình cảm, cách đánh giá con người.
Các phương tiện đồng âm, đồng nghĩa, nhiều nghĩa cũng như các sắc thái
kèm theo của các tín hiệu ngôn ngữ thường xuất hiện trong các tác phẩm văn
học. Vì vậy, khi tiếp cận các tác phẩm văn chương, chúng ta cần nên chú ý đến
các phương tiện đó.
c. Mang tính hình tuyến
Mặt biểu đạt các ngôn ngữ là âm thanh. Khi sử dụng, các âm thanh ngôn
ngữ diễn ra lần lượt, kế tiếp nhau trong thời gian. Nói cách khác, các tín hiệu
ngôn ngữ có tính hình tuyến rất chặt chẽ. Tính hình tuyến của các tín hiệu ngôn
ngữ thể hiện rõ, khi chúng ta ghi lại bằng chữ viết (dùng tuyến không gian của
tín hiệu văn tự thay cho sự kế tiếp trên tuyến thời gian).
Chính tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ dẫn đến một hệ quả: thứ tự
(có thể chung về hình thức, có thể chung về nội dung). Tất cả các yếu tố có cái
gì đó chung tức là chúng có quan hệ đồng nhất với nhau.
Ví dụ1: các từ chạy, bò, đi, trườn, xô, đẩy, ném, lao ,quăng, phóng… đều
giống nhau về nét nghĩa : hoạt động dời chỗ.
Giữa các yếu tố có quan hệ đối lập khi chúng đã có quan hệ đồng nhất
nhưng lại có gì khác nhau, trái ngược nhau (có thể trái ngược về hình thức, trái
ngược về nội dung) tức là các quan hệ đó có quan hệ đối lập nhau.
8
Ví dụ 2: ở ví dụ 1 thể hiện sự trái ngược nhau, khác nhau ở những từ hiển
thị cùng nét nghĩa hoạt động dời chỗ: trườn, bò, chạy, đi chỉ hoạt động tự dời chỗ
của chủ thể; xô, đẩy, ném, lao quăng, bắn chỉ hoạt động làm cho dời chỗ; chạy, đi
là dời chỗ bằng tư thế thẳng đứng; bò, trườn dời chỗ bằng tư thế nằm ngang.
Như vậy quan hệ đồng nhất và đối lập có quan hệ quy định lẫn nhau. Trên
cơ sở sự đồng nhất mà chúng ta tìm ra cái đối lập. Từ đối lập lấy đó làm đồng
nhất tìm ra cái đối lập.
c. Quan hệ ngang - dọc
Quan hệ ngang là quan hệ giữa các yếu tố trong dòng âm thanh. Khi nói
đến quan hệ ngang là nói đến giá trị phân biệt các yếu tố khi chiếm giữ các vị trí
khác nhau trên quan hệ ngang. Quan hệ này không phải là quan hệ bất kì, không
phải là sự sắp xếp bất kì. Quan hệ ngang là những quan hệ có thể phân biệt được
các yếu tố với nhau.
Ví dụ 1: Trong Tiếng Việt, âm tiết |tam| do 3 âm tố tạo thành. Ba âm tố
này đi với nhau thành quan hệ ngang |t| ở vị trí 1, |a| ở vị trí 2, |m| ở vị trí 3. Như
vậy, 1,2, 3 là những vị trí trên quan hệ ngang và chúng ta có thể phân biệt các
âm tố thành từng loại khác nhau như : không có dạng âm tiết |atm| hoặc |mat|
hay |mta|. Như vậy, không phải tất cả các âm tố của tiếng việt đều có thể giữ bất
kì vị trí nào trong âm tiết.
Quan hệ dọc là quan hệ giữa các yếu tố có thể thay thế cho nhau ở một vị
trí trên quan hệ ngang. Tức là, quan hệ xâu chuỗi một yếu tố xuất hiện với
thống tác động thẩm mĩ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt,
có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giời tinh thần của chúng ta. Trong nhận
định này, khái niệm THTM được dùng với nghĩa “ tín hiệu ngôn từ tthực hiện
chức năng thẩm mĩ trong văn chương”.
Trên cơ sở tiếp thu những người đi trước, chúng tôi chọn khái niệm
THTM của Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa như sau “Tín hiệu thẩm mĩ
là những tín hiệu được sử dụng để thực hiện chức năng thẩm mĩ: xây dựng hình
tượng trong tác phẩm nghệ thuật” [9. tr. 270].
THTM được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, lấy ngôn
ngữ tự nhiên làm chất liệu biểu hiện. Do đó, nếu coi ngôn ngữ tự nhiên là hệ
thống tín hiệu nguyên cấp (hệ thống tín hiệu thứ nhất) thì tín hiệu ngôn ngữ
nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ cấp (hệ thống tín hiệu thứ hai). Cái biểu đạt
của THTM bao gồm cả hình thức ngữ âm và ý nghĩa sự vật – lôgic của ngôn ngữ
tự nhiên. Cái được biểu đạt là lớp ý nghĩa hình tượng. Như vậy, THTM là một
tín hiệu phức hợp. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt
của THTM không phải là mối quan hệ võ đoán mà mang tính có lí do. Có thể
miêu tả bản chất tín hiệu học của THTM như sau: 10
Tín hiệu thẩm mĩ
Cái biểu đạt
Cái được biểu đạt
Tín hiệu ngôn ngữ
Ý nghĩa thẩm mĩ
Âm thanh
Ý nghĩa sự vật- lôgic
Như vậy, giá trị của một THTM chủ yếu được quy định bởi những mối
quan hệ bên ngoài ngôn ngữ. Sự thực hiện chức năng của THTM là sự thống
nhất của mối quan hệ ngữ đoạn, quan hệ tuyến tính trong văn bản ngôn từ và các
Với phương thức ẩn dụ, để xây dựng THTM, các tác giả cần trải qua một
quá trình với nhiều công đoạn:
- Quan sát, nhận thức, cảm nhận, phát hiện, ra đối tượng hàm chứa sự
tương đồng với ý nghĩa thẩm mĩ định thể hiện
- Lựa chọn và sử dụng từ ngữ (tín hiệu ngôn ngữ) gọi tên đối tượng trong
hiện thực.
- Chuyển hóa tín hiệu ngôn ngữ thành THTM: giữ nguyên cái biểu đạt,
nhưng chuyển cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ thành cái được biểu đạt
của THTM.
b. Hoán dụ: Là phương thức chuyển nghĩa (lấy tên gọi của đối tượng này gọi
cho đối tượng khác) dựa trên mối quan hệ tương cận, tức là thường xuyên đi
đôi, gần gũi với nhau. Chẳng hạn, miệng, chân, tay … vốn là từ chỉ bộ phận cơ
thể người có thể dùng để chỉ người: Nhà có năm miệng ăn; Anh ta có chân trong
ban quản trị công ty; Anh ta là một tay cừ khôi về bóng bàn…
Ví dụ: Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời.
(Mẹ Tơm- Tố Hữu)
Tim là một tín hiệu thẩm mĩ được xây dựng theo phương thức hoán dụ để
chỉ những người mẹ như mẹ Tơm giàu tình thương yêu các chiến sĩ cách mạng,
giàu lòng yêu nước.
Tóm lại, hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chủ yếu để
xây dựng THTM từ các tín hiệu thẩm ngôn ngữ. Nhưng để có được giá trị và
hiệu quả thẩm mĩ cao thì bên cạnh việc thực hiện hai phương thức trên còn phải
phối hợp với một số biện pháp nghệ thuật khác như: các biện pháp về ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp.
1.1.2.3. Chức năng của THTM
a. Chức năng biểu hiện
Những kết quả nghiên cứu văn học từ góc độ tín hiệu học như: R.
Jaokovson, R. Barthes, Y. Lotman… có thể cung cấp cho chúng ta một cái nhìn
đầy đủ hơn về cái gọi là chức năng phản ánh của tín hiệu. Trong tác phẩm nghệ
a. Tính truyền thống và tính cách tân
Tính tuyền thống và tính cách tân của THTM liên quan đến vấn đề cái
mới của nó. Theo G.s. Đỗ Hữu Châu : “truyền thống và cách tân là hai phương
diện biện chứng của THTM”. [4. tr. 559].
Tính truyền thống hay chính là tính dân tộc. Tính dân tộc trước hết được
thể hiện ở chất liệu đậm đà bản sắc dân tộc của nó, đó chính là ngôn ngữ dân
13
tộc. Văn chương được sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc, bằng các tín hiệu của
ngôn ngữ dân tộc, do đó mang tính dân tộc.
Ví dụ: Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã dùng chất liệu ngôn ngữ
dân tộc là chữ Nôm để sáng tác, dùng thể loại thơ lục bát cũng của dân tộc và dùng
rất nhiều THTM của dân tộc việt nam để đưa vào trong tác phẩm.
Ngoài ra, THTM mang tính dân tộc còn thể hiện trên bình diện ngữ nghĩa
của các THTM. Nguồn gốc của các THTM là các sự vật, sự việc, hiện tượng,
trạng thái tâm lí của con người. Những đối tượng đó chính là thuộc về môi
trường tự nhiên hay xã hội của một cộng đồng dân tộc, gắn bó mật thiết với
cộng đồng dân tộc.
Ví dụ: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi,
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu, có bạn, can chi tủi,
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.
(Muốn làm thằng Cuội – Tản Đà)
Các THTM cá thể rõ rệt, thể hiện cá tính và phong cách nghệ thuật của
Tản Đà: hồn thơ ngông. Nhưng các tín hiệu đó mang bản sắc dân tộc sâu sắc, rõ
nét. Ngay từ ngữ, lối nói thể hiện hồn dân tộc ( chị, em; đã… chửa…; có bầu có
cảm nhận bằng thị giác, vị giác. Vì thế, Đoàn Phú Tứ xây dựng thành công một tín
hiệu thẩm mĩ độc đáo, có sức truyền cảm mạnh mẽ, khó quên.
Có những THTM được nhiều tác giả sử dụng từ cùng một nguồn gốc hiện
thực, từ cùng một tín hiệu ngôn ngữ, nhưng chúng vẫn là THTM khác nhau,
mang nét riêng, và có giá trị nghệ thuật riêng.
Ví dụ: cùng là tín hiệu tre nhưng ở bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy
và bài kí Cây tre Việt Nam của nhà văn Nguyễn Tuân lại mang nét riêng cả về
mặt cái biểu hiện và cả về cái được biểu hiện.
Trong bài thơ Tre Việt Nam – Nguyễn Duy, THTM tre thể hiện
hình ảnh con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với tất cả những biểu hiện đặc
trưng từ ngàn đời nay như: tính chịu thường, chịu khó ( Rễ siêng không ngại đất
nghèo – Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù), sự đùm bọc, che chở, tương than
tương ái (Bão bùng than bọc lấy thân – tay ôm tay níu tre gần nhau hơn), về ý
chí bất khuất, kiên cường (Nòi tre đâu chịu mọc cong – chưa lên đã thẳng như
chông lạ thường),….
15
Ở bài kí Cây tre Việt Nam của Nguyễn Tuân thì THTM tre, qua phong
cách riêng của tác giả đã hiện lên một cá thể, một người bạn mà tác giả rất quen
thuộc, thân thiết về tích cách: Anh rất cứng rắn, thẳng thắn, đồng thời lại cũng rất
bền bỉ, dẻo dai. Lúc thẳng thì làm một cái hình ảnh người quân tử, thì làm một cái
mũi tên. Vừa cứng dắn, vừa mềm mại, cái sào tre đực đã thắng được những dòng
nước ngược, lúc chống đẩy những chiếc phà chở hang tấn hang trên nước lũ. Lúc
vòng cong thì thành một cái cạp thuyền. Lúc mềm dẻo làm một sợi dây, thì “lại
mềm buộc chặt”. Anh rất tinh tế nhưng cũng rất giản dị…
(Cây tre việt nam, dẫn theo Tư liệu Ngữ
văn 6, NXB Gíao dục, 2003, tr. 93)
Có khi, những tín hiệu có cùng một cái biểu đạt, do cùng một tác giả tạo
ra những trong những ngữ cảnh khác nhau, vẫn mang những nét riêng, không
lặp lại, để thể hiện những ý nghĩa thẩm mĩ khác nhau.
b. Tính biểu trưng
Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xem xét trong mối quan hệ
giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, đây là mối quan hệ có lí do. Liên quan
đến năng lực biểu trưng hóa các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được
đưa vào làm THTM trong tác phẩm.
Ch. S. Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ
qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh
nào đó… nghĩa là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi” [10. tr.186 ].
Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng
nào đó được quy chiếu từ hiện thực. Mặt khác, đó là những ý nghĩa xã hội nào đó
đươc cả cộng đồng chấp nhận. Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này
chính là tính có lí do trong THTM nói chung. Đặc tính này còn cho thấy lối tư
duy, quan niệm xã hội… gắn với một cộng đồng chấp nhận như vừa được nói tới.
Ví dụ: Hình ảnh con cò trong ca dao Việt Nam thường gắn với thân phận
thấp bé:
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Hay gắn với đức tính chịu thương, chịu khó:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Có khi lại được biểu hiện là thân phận người phụ nữ trong xã hội phong
kiến xưa vất vả, lam lũ một nắng hai sương lo cho chồng con
Cũng có tính biểu trưng mà hiệu lực, giá trị của THTM thuộc vào các tri
nhận, cách giải thích theo một thiên hướng nào đấy, một quy ước nào đấy của cả
cộng đồng mà có khi lại trái ngược với cộng đồng khác.
17
Ví dụ: Đối với cộng đồng Ấn Độ giáo, Phật giáo như Nhật Bản, Việt
Nam, biểu trưng hoa sen được hiểu theo ý nghĩa đạo đức trong trắng, tiết độ,
cứng rắn, một hình ảnh đức hạnh, biểu hiện của người hiền. Nhưng với cộng
- Biến thể kết hợp: Là tất cả những từ ngữ cùng một trường nghĩa với
hằng thể và có thể kết hợp theo trục ngang với từ ngữ - hằng thể. Về mặt từ loại,
biến thể kết hợp có thể là danh từ, cụm danh từ, động từ, cụm động từ, tính từ,
cụm tính từ,… Về mặt ý nghĩa, các biến thể kết hợp của một hằng thể tuy cùng
trường nghĩa với hằng thể, nhưng có những ý nghĩa cụ thể đa dạng.
Ví dụ: Đối với THTM mắt, biến thể kết hợp có thể là những từ ngữ biểu
hiện:
Hình dáng của mắt: mắt lá răm, mắt phượng, mắt ốc nhồi, mắt bồ câu,
mắt lươn, mắt dài, mắt ti hí…
Những người con mắt là răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
(Ca dao)
Màu sắc của mắt: mắt xanh, mắt huyền, mắt nâu, mắt đen…
Người khôn con mắt đen sì,
Người dại con mặt nửa chì nửa thau.
(Ca dao)
Cô bé nhà bên – (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi).
(Giang Nam)
Trạng thái của mắt: mắt tinh, mắt lòa, mắt mù, mắt đui…
Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
(Nguyễn Đình Chiểu)
Hoạt động của mắt: nhìn, trông, liếc, ngó, nhòm…
Thiếp danh đưa đến lầu hồng
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa.
(Truyện Kiều)
hết nhà cửa tự nguyện vào Quy Nhơn chăm sóc cho Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử
chết ở nhà thương Quy Hoà vào ngày 11-11-1940, khi ấy anh mới 28 tuổi.
Hàn Mặc Tử, một con người có tài văn thơ từ rất sớm. Có những bài thơ
như “Cửa sổ đêm khuya’’ sáng tác lúc mới 17-18 tuổi; điều độc đáo của bài thơ
này là có đến 6 cách đọc (đọc xuôi, đọc ngược, cắt bỏ hai chữ đầu, cắt bỏ hai
chữ cuối). Cụ Phan Bội Châu cũng đã ca ngợi Hàn Mặc Tử và đã có lần họa thơ
20
cùng. Cụ đã viết đại ý rằng: “Từ khi về nước đến nay, được xem nhiều thơ văn
quốc âm song chưa được bài nào hay đến thế. Hồng nam nhạn bắc, ước ao có
ngày gặp gỡ bắt tay cười to một tiếng cho thoả hồn thơ đó’’. Hàn Mặc Tử ra
Huế thăm cụ Phan Bội Châu bị mật thám theo dõi và do thế bị gạch tên trong
danh sách những người đi Pháp học. Rồi những cái tên như Mai Đình, Hoàng
Cúc, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc đó là những người con gái đi qua đời
Tử có những mốt tình chỉ thoáng qua, có những mối tình sâu đậm nhưng đều
trong vô vọng, đều trong sự tiếc nuối. Vì vậy, họ đã đi vào thơ Hàn Mặc Tử như
một lẽ dĩ nhiên, như một nỗi niềm được gửi gắm thông qua hình ánh trăng với
nhiều cung bậc cảm xúc mới lạ, độc đáo.
Con người Hàn Mặc Tử phải trải qua nhiều khổ đau. Trước hết là nói đến
nỗi khổ chung của dân tộc cũng giống như các nhà thơ mới thời đó vì yêu dân
tộc có tân hồn yêu đất nước ngay từ thuở còn thiếu niên nhưng rơi vào bế tắc vì
vậy nên luôn tìm vào thơ để giãi bày tâm sự. Nhưng điều đáng chú ý là cái đau
khổ của riêng nhà thơ: thi sĩ mắc phải một trong “ tứ chứng nan y”- bệnh hủi.
Bệnh này làm cho người bệnh không sống được trong cuộc sống bình thường.
Là một thanh niên đang độ đắm say cuộc sống, đang độ căng tràn nhiệt huyết,
yêu gia đình, yêu mẹ, tha thiết yêu đương nhưng vì bệnh tật mà Tử phải cách li
xã hội, với gia đình, với cả người yêu.
Ban đầu gia đình giấu Tử trong gác xép trong nhà (20 đường Khải Định),
sau phải đưa đi sống riêng trong một túp lều tranh ở trong động cát ngoài bãi
biển, sau phải đưa thi sĩ vào bệnh viện Quy Nhơn, cuối cùng phải đưa vào nhà
Hàn Mặc Tử. Đây chính là cơ sở lí thuyết khoa học là tiền đề, nền móng vững
chắc để ta soi chiếu vào trong các thi phẩm của tác giả nhằm có cái nhìn và
phương pháp khoa học để phân tích và hiểu rõ hơn THTM trăng trong thơ ông. 22
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO TÍN HIỆU THẨM MĨ TRĂNG TRONG THƠ
HÀN MẶC TỬ
2.1. Kết quả khảo sát, phân loại, thống kê
Việc thống kê tín hiệu trăng của chúng tôi dựa vào bản Thơ Hàn Mặc Tử -
phê bình và tưởng niệm do GS. Phan Cự Đệ biên soạn, đây là bản tập hợp đầy
đủ và tương đối hệ thống các sáng tác của Hàn Mặc Tử. Dựa vào kết quả thống
kê này, chúng tôi xem xét quá trình biến thái cũng như những đặc điểm cấu tạo
của tín hiệu trăng qua ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử. Sau đây là khảo sát những câu
thơ và tiêu đề bài thơ có xuất hiện THTM trăng cũng như các biến thể của nó
trong thơ Hàn Mặc Tử:
2.1.1. THTM trăng xuất hiện trong những câu thơ
STT
THTM trăng
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ
(%)
1
0,37
9
Con trăng
1
0,37
10
Cầm nguyệt
1
0,37
11
Cầm trăng
1
0,37
12
Cung cầm nguyệt
1
0,37
23
13
Cung hằng
1
0,37
14
Cung thiềm
2
0,74
15
Cung Quế
1
Đêm trăng
3
1,1
24
Đường trăng
2
0,74
25
Đuổi trăng
1
0,37
26
Giọt mật trăng
1
0,37
27
Hằng nga
1
0,37
28
Hằng ngự trị
1
0,37
29
Hoa nguyệt
1
0,37
30
Hòn trăng
1
0,37
38
Mơ trăng
1
0,37
39
Mua trăng
1
0,37
40
Mùi trăng
1
0,37
41
Một nửa trăng
2
0,74
42
Nàng trăng
3
1,1
43
Niềm trăng
1
0,37
44
Nường hằng
1
0,37
45
0,74
53
Nguyệt gẫm
1
0,37
54
Nguyệt hoa
1
0,37
55
Nguyệt thiềm
1
0,37
56
Quảng Hằng
1
0,37
25
57
Say trăng
1
0,37
58
Sông Hằng
1
0,37
59
Sông trăng
1
Trăng bay lả tả
1
0,37
68
Trăng cổ độ
2
0,74
69
Trăng của rạng ngời
1
0,37
70
Trăng chạy
1
0,37
71
Trăng choáng váng
1
0,37
72
Trăng dồn
1
0,37
73
Trăng đầu hạ
1
0,37
74
Trăng đọng
1