LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn
Thị Lương, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm
luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn Lí luận
ngôn ngữ và khoa Ngữ văn trường ĐHSPHN đã quan tâm và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học.
Cuối cùng, xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và những người thân
yêu đã luôn động vên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 22 tháng 07 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Ngọc Anh
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Theo GS. Đỗ Hữu Châu ngôn ngữ văn học có thể được xem là một
hệ thống tín hiệu bao gồm các tín hiệu thông thường và các tín hiệu thẩm mĩ.
Các tín hiệu thông thường chỉ thực hiện chức năng tái tạo hiện thực (thực hiện
chức năng giao tiếp lí trí là chủ yếu. Có thể gọi đó là các chữ rỗng, các chữ
bao bì). Các tín hiệu thẩm mĩ luôn chứa đựng những tư tưởng, những ý nghĩa
nào đó của tác giả thông qua quá trình khái quát hóa, biểu trưng hóa nghệ
thuật. Vì vậy, tín hiệu thẩm mĩ là cơ sở giải mã hình tượng, lí giải tính hàm
súc, biểu trưng, giàu sức gợi của ngôn ngữ nghệ thuật…
Một tín hiệu thẩm mĩ phải hội tụ đủ các nhân tố sau: 1. Cái biểu hiện,
đây là hình thức vật chất nghệ thuật. 2. Cái được biểu hiện là các giá trị ý
nghĩa thẩm mĩ. 3. Chủ thể sáng tạo (thế giới phát ngôn và tiếp nhận). 4. Thuộc
một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ nhất định.
Chính vì vậy, tìm hiểu các tín hiệu văn chương là phải tìm hiểu các yếu
tố ngôn ngữ giúp biểu hiện nó. Khi phân tích một tín hiệu văn chương, chúng
ta phải bám sát vào tổ hợp ngôn ngữ biểu hiện nó để phân tích. Để hiểu và
(một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút
ký, tiểu luận, phê bình văn học.
Xuân Diệu được coi là: “Ông hoàng của thơ tình” nên có lẽ biểu tượng
“trăng” trong thơ Xuân Diệu cũng lai láng tình, say men tình và nồng nàn
tình. Trăng là biểu tượng cho tình yêu thì “gió” là chất xúc tác cho tình yêu,
không có “gió” thì tình yêu không có vị, không có hương. Theo “Từ điển
biểu tượng văn hóa thế giới”, gió mang đặc tính náo động, do đó nó là biểu
tượng cho tính phù lưu hay thay đổi. Nó còn được coi là biểu tượng cho một
2
lực lượng siêu nhiên thần bí có thể mang lại những điều tốt lành nhưng cũng
có thể gánh tai họa cho con người.
Với người Trung Quốc, gió là hiện tượng chứa bao điều huyền bí và
huyền diệu: gió (phong) chứa đựng trong nó cả sự hồi sinh và tàn lụi của vạn
vật, nó mang trong mình niềm vui của tình yêu đang trỗi dậy giữa lúc xuân về
và cả nỗi buồn của đau khổ, biệt li thu tàn, đông lại. Gió còn là hiện hữu của
những rung động giao cảm giữa khí cơ thể, sức sống tinh thần con người với
vũ trụ bao la thăm thẳm của thái cực vô thủy, vô chung. Từ xưa đến nay, gió
vốn dĩ là hình ảnh phổ biến trong văn học. Nhưng trong thơ ca, có lẽ không có
ai viết về gió nhiều như Xuân Diệu, không ai miêu tả sắc thái trữ tình cũng
như ý nghĩa biểu trưng về gió phong phú như Xuân Diệu.
Bởi vậy, trong luận văn này chúng tôi muốn: “Tìm hiểu tín hiệu thẩm
mĩ “gió” trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng trên ba bình diện: kết
học, nghĩa học, dụng học”, nhằm góp phần khẳng định một cách tiếp cận
mới các hình tượng văn học từ góc độ lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ trên ba
bình diện để làm tăng thêm tiếng nói ca ngợi tài năng xuất chúng của nhà thơ,
đồng thời phục vụ cho việc giảng dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường
hiện nay.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương có rất nhiều hướng
đi, song những năm gần đây, nhiều vấn đề của văn học đang được soi rọi dưới
điểm qua hiện tượng gió với ý nghĩa biểu tượng cho thời gian: “Thi nhân ao
ước có “cặp hài vạn dặm” để đi khắp không gian trong chốc lát và quan trọng
hơn là đi ngang với tốc độ của ngọn - gió - thời - gian: Ta theo gió mạnh, gió
nhanh/ Gió hung dữ, gió sát sanh, gió cuồng! Chỉ có thể chế ngự được thời
4
gian thì mới chế ngự được sự phai tàn của đường nét, màu sắc, âm thanh và
lòng người”.
Nhưng nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ “gió” trong thơ Xuân Diệu
trước Cách mạng trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học thì chưa
thấy có đề tài nào, vì vậy chúng tôi muốn tiếp tục tìm hiểu về thơ của Xuân
Diệu dưới cái nhìn của ngôn ngữ học.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn này nhằm mục đích tìm hiểu các đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ
“gió” trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng trên ba bình diện: kết học, nghĩa
học, dụng học.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích: Tìm hiểu các đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ
“gió” trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng trên ba bình diện: kết học,
nghĩa học, dụng học, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm kiếm, thu thập nguồn ngữ liệu.
- Khảo sát, thống kê, phân loại nguồn ngữ liệu.
- Phân tích, miêu tả các dạng thức cấu tạo và ý nghĩa của “gió” thông
qua các kiểu kết hợp.
- Tổng hợp các giá trị chính của tín hiệu nghệ thuật “gió” dựa trên các
nội dung: ý nghĩa được thể hiện, các giá trị về mặt dụng học.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tín hiệu thẩm mĩ có ý nghĩa quan trọng trong phong cách thơ tình Xuân
Diệu nói riêng và trong dòng văn học lãng mạn nói chung là tín hiệu “gió” -
5.2.2. Phương pháp phân tích ngữ cảnh
Phương pháp phân tích ngữ cảnh được sử dụng chủ yếu khi cần làm sáng
tỏ cái hay, cái đẹp trong khả năng thể hiện nghĩa của tín hiệu nghệ thuật “gió”.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
6.1. Về mặt lí luận
Trên cơ sở sử dụng các lí thuyết trong nghiên cứu ngôn ngữ (tín hiệu,
tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật; các nhân tố tham
gia và chi phối hoạt động giao tiếp bằng văn bản; ba bình diện trong nghiên
cứu ngôn ngữ; lý thuyết chiếu vật), luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm cho lí
thuyết dựa trên những kết quả nghiên cứu thực tế qua văn bản.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả của luận văn góp phần vào việc đọc, hiểu tác phẩm thơ của
Xuân Diệu - khám phá hình ảnh thơ chứa đầy yếu tố lãng mạn, tình cảm.
Luận văn còn mong muốn sẽ đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển
chuyên ngành Việt ngữ học trong lĩnh vực tín hiệu thẩm mĩ văn chương vốn
còn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn có cấu trúc ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết
luận. Nội dung được trình bày qua ba chương với các vấn đề cơ bản sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Tín hiệu thẩm mĩ “gió” xét trên bình diện kết học
Chương 3: Tín hiệu thẩm mĩ “gió” xét trên bình diện ngữ nghĩa và
bình diện ngữ dụng
.
7
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Bất cứ một đề tài nào cũng cần có một cơ sở lí thuyết làm nền móng để
xây dựng và đó là tiền đề lí luận để phát triển nội dung.
những cảm thụ nghệ thuật, mọi ý chí )”.
Theo Đỗ Hữu Châu định nghĩa rộng của P. Guiraud có tác dụng phát
hiện ra những đặc trưng tín hiệu học của các tín hiệu ngôn ngữ cao hơn.
Nhưng dù hiểu theo nghĩa nào thì khái niệm tín hiệu vẫn là một khái niệm
quan hệ, không phải là một khái niệm vật tự thân. Trong cuốn “Cơ sở ngôn
ngữ học và tiếng Việt”, nhà xuất bản Giáo Dục, 2006 đã đơn giản cách hiểu
về tín hiệu đó là: “Tín hiệu là một sự vật (hoặc một thuộc tính vật chất, một
hiện tượng) kích thích vào giác quan của con người, làm cho người ta tri giác
được và lí giải suy diễn tới một cái gì đó ngoài sự vật ấy”.
Ví dụ: Các biển trên đường giao thông, mây đen báo hiệu sắp mưa, khói
báo hiệu có lửa, mùi khét báo hiệu sự cháy của vật gì đó, gió to báo hiệu bão
Các nhà nghiên cứu về lí thuyết thông tin gọi đó là những yếu tố mang
tin, còn các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi là những yếu tố mang nghĩa kế thừa
thành quả của những người đi trước, Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra những đặc tính
như là dấu hiệu nhận biết của một tín hiệu, gồm các nhân tố sau:
(1) Nó phải có một hình thức cảm tính: Cảm nhận bằng giác quan.
9
(2) Nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó (phải
mang một nội dung ý nghĩa), “Một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa
các biểu đạt và cái được biểu đạt (ý nghĩa)”.
(3) Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó.
(4) Phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định.
Về phân loại tín hiệu, các tác giả cũng đã đưa ra nhiều cách phân loại
khác nhau dựa vào các tiêu chí khác nhau.
Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa ra bảng phân loại tín hiệu theo quan điểm
của riêng mình. Theo ông tín hiệu là một thực thể đa diện cho nên căn cứ vào
các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau.
Mỗi lần vận dụng các tiêu chí phân loại sẽ cho ra một kết quả phân loại.
Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là:
(1) Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện.
(1) Quan hệ đồng nhất đối lập quan hệ khác biệt
(2) Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến.
Trong ngôn ngữ học hiện đại, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến các
loại quan hệ khác như: quan hệ tôn ti (giữa bình diện trừu tượng và bình diện
cụ thể; giữa điển dạng và hiện dạng).
- Quan hệ đồng nhất - đối lập: Ngay trong quan hệ cấp độ và quan hệ
hàng ngang, quan hệ hàng dọc cũng đã có quan hệ đồng nhất và đối lập (quan
hệ đồng nhất ở các yếu tố cùng một cấp độ, bản thân các yếu tố thuộc cùng
quan hệ dọc cũng có sự đồng nhất ở một mức độ nhất định.). Quan hệ này là
song song tồn tại, tức là cùng với sự đồng nhất bao giờ cũng có sự khác biệt
và ngược lại. Đồng nhất và đối lập chi phối toàn bộ tổ chức của hệ thống
11
ngôn ngữ. Nhưng tùy theo từng cấp độ, từng bình diện mà sự đồng nhất hoặc
đối lập mang nội dung cụ thể.
. Ở bình diện ngữ âm, đồng nhất và đối lập thể hiện ở đặc trưng bản
thân ý nghĩa một từ.
. Ở bình diện ngữ nghĩa, đồng nhất và đối lập tồn tại trong bản thân ý
nghĩa một từ.
. Ở bình diện ngữ pháp sự đồng nhất và đối lập tồn tại trong cả lĩnh vực
từ pháp và lĩnh vực cú pháp
- Quan hệ hình tuyến: Là quan hệ nối kết các đơn vị ngôn ngữ thành
chuỗi khi ngôn ngữ đi vào hoạt động. Cơ sở của nó chính là tính hình tuyến
của ngôn ngữ. Tính chất này bắt buộc các đơn vị ngôn ngữ phải nối tiếp nhau
lần lượt trong ngữ lưu để cho ta những kết hợp gọi là ngữ đoạn (Syn tagmes).
Nhưng các yếu tố kế tiếp nhau và cùng có mặt trong lời nói, không nhất thiết
là có quan hệ ngữ đoạn với nhau. Muốn có quan hệ ngữ đoạn, các yếu tố đó
phải cùng nhau thực hiện một chức năng về ngữ nghĩa hoặc về nội dung giao
tiếp. Quan hệ ngữ đoạn có thể tồn tại ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống
ngôn ngữ. Ngữ đoạn có thể hiểu với nghĩa là một tổ hợp gồm nhiều yếu tố
ngôn ngữ, có thể phân biệt ngữ đoạn bên trong, ngữ đoạn bên ngoài, ngữ đoạn
có quan hệ dọc luôn luôn có quan hệ liên tưởng với nhau. Ngược lại, các yếu
tố có quan hệ liên tưởng không hẳn có quan hệ trục dọc với nhau, không hẳn
có thể thay thế được cho nhau.
Các yếu tố ngôn ngữ có quan hệ dọc với nhau theo các mức độ khác
nhau. Mức độ giống nhau càng cao thì càng có khả năng thay thế các yếu tố.
Chính quan hệ của các yếu tố ngôn ngữ trên trục dọc là cơ sở cho sự
nhận xét, phân tích, bình giá của người đọc, người nghe hoặc của những
người làm công tác nghiên cứu.
13
Như vậy, chính các nguyên tắc đồng nhất và đối lập, kết hợp (hay tuyến
tính) và liên tưởng (hay trực tuyến), điển dạng (hay hằng thể) và hiện dạng
(hay biến thể) trong hệ thống ngôn ngữ sẽ là những cơ sở lí thuyết quan trọng
giúp chúng ta lí giải về các tín hiệu ngôn ngữ trong quá trình hoạt động thực
hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp, trong đó có giá trị nghệ
thuật (giá trị của văn học) có liên quan đến những nhiệm vụ mà đề tài luận
văn này cần giải quyết.
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ đã được
Đỗ Hữu Châu đặt trong chức năng xã hội của ngôn ngữ, sự hiện thực hóa
chức năng xã hội của ngôn ngữ được biểu hiện trong hoạt động của toàn bộ hệ
thống, qua những mối quan hệ ngang (tuyến tính ngữ đoạn, tiếp đoạn cú đoạn,
khả năng kết hợp của các yếu tố ngôn ngữ với nhau để tạo nên một đơn vị cao
hơn) và mối quan hệ giữa các cấp độ của hệ thống ngôn ngữ trong các kết hợp
cụ thể, mối quan hệ giữa hình thức ngôn ngữ (cái biểu đạt) và ý nghĩa (cái
được biểu đạt) rất khác nhau.
Ví dụ: Tín hiệu “bến” trong những kết hợp sau rất khác nhau.
(1) “Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”
(Ca dao)
(2) Để lòng anh hóa bến
Nghe thuyền em ra đi.
tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ”.
15
Văn chương nghệ thuật xây dựng tín hiệu thẩm mĩ bằng ngôn ngữ
thông thường. Do đó, nhà văn cần sáng tạo các tín hiệu thẩm mĩ trên cơ sở tín
hiệu ngôn ngữ tự nhiên.
1.3.2. Quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên và tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu ngôn ngữ là chất liệu để tạo nên tín hiệu thẩm mĩ trong văn
chương. Để làm điều đó cần có quá trình chuyển hóa nhờ sự sáng tạo của
nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả.
IU.M Lotman viết: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn
ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư
cách là hệ thống thứ hai. Bởi vậy mà người ta xác định nó như là hệ thống mô
hình hóa thứ hai Từ điều đã nói trên suy ra rằng, nghệ thuật ngôn từ dù cũng
dựa vào ngôn ngữ tự nhiên, nhưng lại chỉ với điều kiện là để cải biến nó thành
thứ ngôn ngữ của mình - ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ của nghệ thuật.”
Tín hiệu ngôn ngữ có hai mặt: Cái biểu đạt là âm thanh (ở dạng viết là
chữ viết) và cái được biểu đạt là nội dung nhận thức, tư tưởng, tình cảm của
con người. Khi cấu tạo tín hiệu thẩm mĩ tổng thể hai mặt của tín hiệu ngôn
ngữ đóng vai trò cái biểu đạt cho tín hiệu thẩm mĩ, còn cái được biểu đạt của
tín hiệu thẩm mĩ lại là một ý nghĩa thẩm mĩ, được chuyển hóa từ tác động qua
lại của nhiều nhân tố từ ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, từ ngữ cảnh, từ sự cảm
thụ của độc giả. Từ tín hiệu ngôn ngữ, thành tín hiệu thẩm mĩ đã có sự thay
đổi về vật chất. Có thể chia sẻ với ý nghĩa kiến của L.Hjemslev mà tác giả Đỗ
Hữu Châu cũng đồng quan niệm khi trích dẫn: “Trong tác phẩm văn học, cả
cái hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường
trở thành (đóng vai trò) cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới”
Ví dụ: Hình ảnh “thuyền” và “bến” trong ca dao trở thành tín hiệu
thẩm mĩ.
16
“Thuyền về bến có nhớ chăng
Như vậy, trong tín hiệu thẩm mĩ, mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái
được biểu hiện là quan hệ có tính lí do và là lí do liên hội.
17
Tính liên hội đã giúp hình thức nghệ thuật trong văn học luôn thoát
khỏi những giới hạn ngữ nghĩa thuần ngôn ngữ, trở thành những yếu tố có sức
khái quát lớn về nội dung tư tưởng nghệ thuật [35,141].
1.3.3. Các cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ bao gồm hai cấp độ vi mô (tín hiệu đơn) và cấp độ vĩ
mô (tín hiệu phức).
- Các tín hiệu thẩm mĩ đơn là những tín hiệu thẩm mĩ được cấu tạo trên
cơ sở một từ hay một ngữ. Mỗi từ trong ngôn ngữ thông thường khi đi vào tác
phẩm văn chương mang một ý nghĩa thẩm mĩ và trở thành tín hiệu thẩm mĩ vi
mô (đơn).
Ví dụ: “Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
(Xuân Diệu)
Ở câu thơ trên của Xuân Diệu có nhiều tín hiệu thẩm mĩ đơn, ở tầm vi
mô như các danh từ: thi sĩ, gió, trăng, mây; các động từ: làm, ru, mơ, theo,
các tính từ: vơ vẩn mỗi từ đó không chỉ có nghĩa ngôn ngữ thông thường mà
có ý nghĩa thiên nhiên như: gió, mây, trăng đã nâng lên tầm ý nghĩa thẩm mĩ
cao hơn đó là trở thành bạn với thi sĩ thông qua các động từ như: làm, ru, mơ,
theo, cùng. Chỉ có tâm hồn thi sĩ mới coi thiên nhiên là bạn, là những gì để
nhà thơ trút bầu tâm sự và gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình vào trong đó.
- Các tín hiệu thẩm mĩ phức được hình thành từ cả một tập hợp hay từ
tất cả các từ ngữ trong một văn bản nghệ thuật. Trong các tác phẩm văn
chương, tín hiệu thẩm mĩ ở tầm vĩ mô thường được gọi là hình tượng nghệ
thuật. Tín hiệu thẩm mĩ phức là kết quả của sự tổ hợp, kết tinh của nhiều tín
hiệu thẩm mĩ đơn. Mỗi tín hiệu như vậy được tác giả xây dựng, đồng thời độc
giả tiếp nhận, lĩnh hội và thực hiện hóa để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ. Nếu không
có độc giả tín hiệu thẩm mĩ chỉ ở trạng thái tiềm tàng trong văn bản tác phẩm
Bởi vì, giá trị thẩm mĩ của một tín hiệu trong tác phẩm là giá trị của sự
lựa chọn thì cơ chế lựa chọn cần phân tích chính là nằm ở những mối quan hệ
của tín hiệu với những nhân tố bên ngoài văn bản đó. Từ đó hình thành những
đường liên hệ giữa một ngôn ngữ nghệ thuật với các nhân tố của quy trình
sáng tạo.
- Tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật với tất cả những yếu tố còn lại trong
văn bản tác phẩm.
- Tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật với hệ thống cảm xúc nhà văn.
- Tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật với điều kiện lĩnh hội của bạn đọc.
Do vậy, để phân tích giá trị thẩm mĩ của tín hiệu, phải đặt nó trong mối
quan hệ điều chỉnh lẫn nhau giữa các nhân tố đó.
Trong rất nhiều đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật, chúng tôi
đặc biệt quan tâm đến một số đặc tính sau:
- Tính biểu trưng: F. De. Saussure dưới góc độ tín hiệu học đã khẳng
định “biểu trưng không hoàn toàn có tính võ đoán, nó không phải là cái rống
rỗng”. Hoàng Tuệ coi “biểu trưng là loại tín hiệu” (Singe) (Hoàng Tuệ, Tín
hiệu và biểu trưng, báo văn nghệ số ra 12/05/1977).
Tính biểu trưng là đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật xét trong
mối quan hệ hai mặt: Cái biểu hiện - Cái được biểu hiện đó là mối quan hệ
“có lý do” liên quan đến năng lực “biểu trưng hóa”, đến khả năng của tín hiệu
ngôn ngữ nghệ thuật là vừa có tính chất biểu thị, chỉ ra, nói lên một cái gì, vừa
có tính chất hàm nghĩa - sự thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn. Cái được biểu
hiện của nó có ít nhất hai thành phần nghĩa liên thông nhau: Bề nổi được bộc
lộ, bề chìm luôn tiềm ẩn, gắn với những dự cảm, những vô thức cá nhân, vô
thức tập thể.
20
Ch. S. Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó
chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn
cảnh nào đó nghĩa đó là do con người trong cộng đồng đặt ra mà thôi” tính
chất ước lệ này chỉ ra những lí do về mặt lịch sử xã hội trong việc sử dụng cái
một dân tộc nhất định, trong một nền văn hóa nhất định đều sự chi phối của nền
văn hóa dân tộc đó. Cho nên tín hiệu thẩm mĩ có những nét chung đồng thời
cũng có những nét riêng cho mỗi dân tộc. Các tín hiệu thẩm mĩ đều được khai
thác từ hiện thực nên qua chúng người ta có thể nghe được hơi thở của dân
tộc mình.
Tính cách tân thể hiện ở sự đổi mới, sáng tạo khi sử dụng tín hiệu thẩm
mĩ song cách tân phải quan hệ biện chứng hữu cơ với truyền thống. Chính
trong tương quan với truyền thống, những nét mới mẻ, độc đáo của mỗi tín
hiệu thẩm mĩ mới được bộc lộ. Cách tân có thể là việc sáng tạo một tín hiệu
trước đây chưa từng có. Nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cải tạo, đổi mới các tín
hiệu sẵn có.
“Xuân Diệu mới nhất trong các nhất thơ Mới”. Chính sự cách tân, sáng
tạo rất riêng biệt trong thơ ông mà Xuân Diệu đã chiếm một vị trí không nhỏ
trong thơ Việt Nam. Hơn sáu mươi năm trước, lần đầu tiên thơ ca Việt Nam có
những câu thơ vừa hết sức mới mẻ, vừa thuần thục, tiếp thu được tinh hoa của
tâm hồn và ngôn ngữ dân tộc lại có một dáng vẻ hiện đại, tươi trẻ và duyên dáng.
Xin cùng đọc một khổ thơ đẹp của bài “Thơ duyên”
“Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
Hoa lạnh chiều mưa sương xuống dần”
22
Một cách cảm nhận, một phác thảo chưa từng xuất hiện trước đấy về
mùa thu trên đồng quê nước Việt. Chút bâng khuâng thanh dịu, một vẻ đẹp
đượm buồn kín đáo thấm nhẹ nhàng vào lòng người. Tâm hồn người đọc như
được lay động pha chút vỗ về, thanh lọc. Điều kì diệu đằng sau câu chữ ấy
phải chăng là cái hồn, cái thần thái Việt nam mà chính Xuân Diệu cho là:
“khó diễn tả ra cho rõ” và “phải có một thứ cảm xúc riêng để cảm nghe”.
Cảnh vật mùa thu ấy thì đã có từ ngàn đời nhưng cách cảm nhận thì
hoàn toàn mới: cái phân vân của cánh cò, đôi cánh chim giang rộng thêm dưới