1
Khảo sát định ngữ tỉnh thái trong câu Tiếng
Việt trên ba bình diện:
Kết học, Nghĩa học, Dung học
Trần Hoàng Hương
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Nghd. : GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Tổng quan cơ sở lý thuyết về định ngữ trong câu khi được nhìn nhận với
tư cách là một thành phần câu thực thụ và vấn đề tình thái, vì đây là một khái niệm
có nhiều cách quan niệm khác nhau, cần có một quan điểm làm cơ sở. Khảo sát
kiểu câu có Định ngữ tình thái trên bình diện Kết học. Phân tích câu có chứa định
ngữ tình thái trên bình diện kết học thông qua việc phân chia chúng thành các tiểu
loại khác nhau. Nghiên cứu kiểu câu có Định ngữ tình thái trên bình diện Nghĩa
học. Trình bày những ý nghĩa tình thái khác nhau của định ngữ tình thái trên cơ sở
nguồn tư liệu thu thập và các trường hợp cụ thể. Tìm hiểu kiểu câu có Định ngữ
tình thái trên bình diện dụng học. Phân tích tầm tác động của định ngữ tình thái trên
các bình diện: trong câu, liên kết văn bản và hiệu quả giao tiếp.
Keywords. Ngôn ngữ học; Tiếng Việt; Kết học; Nghĩa học; Dung học
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong giao tiếp hàng ngày có những kiểu câu mà với sự xuất hiện của một thành
tố khác, tình thái của câu đã thay đổi, dẫn đến kết quả là mục đích cũng như hiệu
thống kê, phân loại, miêu tả, Phương pháp phân tích dựa vào ngữ cảnh. Một số thủ
pháp khác như cải biến, thay thế, bổ sung…cũng được sử dụng linh hoạt.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lí luận: Kết quả của luận văn sẽ góp phần củng cố tính đúng đắn và
năng lực giải thích, miêu tả của trường phái ngữ pháp ngữ pháp chức năng.
- Về mặt thực tiễn: Điểm mới của luận văn là sẽ tập trung làm rõ định ngữ
tình thái đầu câu trên 3 bình diện: kết cấu, ngữ nghĩa và dụng học; giúp cho các nhà
nghiên cứu có một cái nhìn toàn diện hơn về thành tố này với tư cách là một thành
phần câu. Đồng thời giúp ích cho việc biên soạn của giáo trình dạy ngữ pháp cho
người Việt Nam và cho người nước ngoài theo quan điểm giao tiếp.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Vấn đề tình thái trong tiếng Việt
Tình thái là một trong những khái niệm được thừa nhận là phức tạp nhất, gây
nhiều tranh cãi nhất của ngôn ngữ học hiện đại. Để biểu thị tình thái ngôn ngữ có
thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, từ phương tiện ngữ âm đến phương tiện
từ vựng và phương tiện ngữ pháp.
Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, Tuy nhiên các nhà ngôn ngữ
học vẫn có một điểm chung khi nhất trí cho rằng tình thái là một bộ phận quan trọng
của câu; một phạm trù ngữ nghĩa phức tạp, phản ánh những mối quan hệ khác nhau
của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực tế; cũng như những quan
điểm, thái độ đánh giá và những thông tin định tính khác nhau của người nói đối với
nội dung hiện thực được đề cập đến trong câu, với đối tượng giao tiếp và hoàn cảnh
giao tiếp. Do vậy, việc nghiên cứu tính tình thái của phát ngôn phải tính đến sự
3
tương tác phức tạp, khúc xạ qua nhiều tầng bậc, trong mối liên hệ của các yếu tố
CHƢƠNG 2: KHẢO SÁT ĐỊNH NGỮ
TÌNH THÁI TRÊN BÌNH DIỆN KẾT HỌC
2.1. Dẫn nhập
2.2. Đặc điểm cấu tạo của định ngữ tình thái
Dựa trên số lượng thành tố cấu tạo, chúng tôi chia định ngữ tình thái trong
câu thành 3 nhóm:
- Định ngữ tình thái gồm 1 thành tố đơn nhất cấu thành
- Định ngữ tình thái gồm 2 thành tố cấu thành
- Định ngữ tình thái gồm 3 thành tố trở lên
Trong đó định ngữ tình thái do 2 thành tố cấu thành chiếm đa số.
4
Ví dụ:
Thật họ tự nhiên hơn cả vợ chồng
Thú thật rằng: tôi có hơi ích kỷ, xét theo một vài phương diện…
Nói của đáng tội thì con bé cũng mũm mĩm, hay hay mà lẳng lắm
- Số lượng các định ngữ có 3 thành tố trở lên không nhiều, đa phần là kết quả
của việc cải biến từ hai thành tố.
- Các định ngữ này được nhiều nhà nghiên cứu xếp vào loại quán ngữ tình
thái nhưng khi đặt trong cấu trúc của câu, nó có quan hệ với nòng cốt câu, có đặc
điểm ngữ pháp và tầm tác động riêng.
2.3. Về vị trí xuất hiện của định ngữ tình thái
2.3.1. Định ngữ tình thái đứng đầu câu
- Mô hình khái quát: Định ngữ tình thái + P
- Có 2 đặc điểm rút ra:
Theo sau định ngữ tình thái là một mệnh đề hoàn chỉnh, tức mệnh đề này có
đầy đủ các bộ phận của một cấu trúc câu và truyền đạt hoàn chỉnh một sự tình.
Theo Nguyễn Văn Hiệp, những phát ngôn có định ngữ tình thái đứng đầu câu là
những phát ngôn có thông báo gộp. Ông cho rằng: “Khi đứng trước nòng cốt câu, định
dung phần báo, tức thông tin mới.
- Ví dụ:
Việc ấy giá thực hành được thì cũng hay hay, nhưng sợ y mang tiếng với San
→ Thay đổi vị trí của định ngữ tình thái ta có phát ngôn sau:
Giá việc ấy cũng thực hành được thì cũng hay hay, nhưng sợ y mang tiếng
với San (3, 128)
Nhận xét: khi thay đổi Giá lên đầu câu thì nội dung sự tình không thay đổi,
vẫn bày tỏ mong muốn của người nói về sự tình. Trong ví dụ trên “việc ấy” đã thay
thế cho sự tình đã được biết đến trước đó, nên khi đặt “giá” ở giữa hai phần đề
thuyết, thì “giá” có vai trò của một tác tử phân giới nêu báo, thu hút sự chú ý của
người nghe vào phần thông tin mới của phần báo.
2.4. Tiểu kết
CHƢƠNG 3: KHẢO SÁT ĐỊNH NGỮ
TÌNH THÁI TRONG CÂU TRÊN BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC
3.1. Dẫn nhập
Trong quá trình khảo sát 865 câu tư liệu văn học, chúng tôi thấy:
- Định ngữ câu biểu thị tình thái nhận thức xuất hiện với tần suất cao (668
trường hợp), chiếm gần 78%.
- Định ngữ câu biểu thị tình thái đạo nghĩa có 197 trường hợp, chiếm 22,8%.
Sau đây là một số định ngữ câu thường gặp và bước đầu phân loại của
chúng tôi:
Tình thái
nhận thức
Người ta nói, Nghe đồn….
Tình thái
đạo nghĩa
Ai bảo, ai đời, miễn là, đã đành, tội già, phúc
làm sao, phen này, tốt hơn , làm như, khốn
nỗi, chi bằng, đằng thẳng ra, công bằng mà
nói, cốt sao…
Mơ hồ
về tình
thái
Giá, giá như, cũng may, đáng nhẽ, chẳng
may…
Nhận xét:
Sự phân loại thành các kiểu ngữ nghĩa cũng chỉ mang tính tương đối, vì như
Nguyễn Văn Hiệp đã viết “Trong ngôn ngữ tự nhiên, thường thấy có sự mơ hồ về
các chỉ tố đánh dấu tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Một sự mơ hồ về tình
thái như vậy cũng tìm thấy ở các định ngữ câu”.
3.2. Định ngữ câu biểu thị tình thái nhận thức
Nói đến tình thái nhận thức là nói đến mức độ cam kết của người nói đối với
điều được nói ra trong phát ngôn dựa trên cơ sở dữ liệu, bằng chứng mà người đó
nắm. Tùy thuộc vào mức độ chính xác của cơ sở suy luận mà người nói hoàn toàn
có thể khẳng định, cam kết tính xác thực của sự tình, khẳng định sự tình đó là hoàn
toàn đúng, đương nhiên không cần bàn cãi hoặc cũng có thể nói sự tình đó là không
đúng, hoặc để đưa ra một đoán định về sự tình (đoán định đó có thể đúng hoặc sai;
sự tình đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra).
Trong phần này, đề tài sẽ đi vào làm rõ, phân tích các tiểu loại của tình thái
nhận thức gồm: i) Định ngữ câu biểu thị tình thái thực hữu; ii) Định ngữ câu biểu
thị tình thái không thực hữu và iii) Định ngữ câu biểu thị tình thái phản thực hữu.
3.2.1. Định ngữ câu biểu thị tình thái thực hữu
Thông qua định ngữ câu, người nói tiền giả định tính chân thực của sự tình
Dù sao, Dẫu sao, Đằng nào, Thế nào….+ P”.
- Nội dung: Nhận định về tính đương nhiên, tất yếu của sự tình. Nó khác với
nhóm định ngữ phía trên ở chỗ đây là một sự tình thông tin nằm trong phần thuyết
của phát ngôn.
3.2.1.3. Nhóm định ngữ câu xác nhận một sự tình trên cơ sở mối quan hệ tương
phản
- Mô hình: Thật ra, Thực ra, Thực tế là, Sự thực là….+ P.
- Nội dung: Tạo sự liên kết giữa hai sự tình có tính chất đối lập, trái ngược
nhau.
- Ví dụ:
- ( Đó là theo cái giọng của Mô. Nghe nó nói thì ra nó ghét con Lân lắm. Nó
mỉa mai và hằn học). Thật ra thì cu cậu cũng thèm rỏ dãi.
Nhận xét: Người nói nêu ra một sự tình là thái độ của Mô với con Lâm là
ghét bỏ, mỉa mai và hằn học. Tuy nhiên, sau khi đã có bằng chứng thì người nói
khẳng định cái sự tình đó là sai mà thực tế phải là “Thật ra thì cu cậu cũng thèm rỏ
dãi”. Ở đây, có 2 nội dung cần chú ý, thứ nhất là người nói bác bỏ cái sự tình được
giả định trước phát ngôn có định ngữ câu và thứ hai là khẳng định thực tế, là sự tình
trong phát ngôn có chứa định ngữ tình thái.
3.2.1.4. Định ngữ câu xác nhận một sự tình trên cơ sở giải thích
- Mô hình: Hóa ra/ Té ra/ Thì ra/ Thảo nào/ Hèn gì/ Hèn chi + P
- Nội dung: Người nói muốn xác nhận một sự tình mà trước đó người nói
còn có sự băn khoăn, không chắc chắn vì không có đủ cơ sở, chứng cứ để khẳng
định.
- Ví dụ: (Chúng tôi cơm đùm, cơm nắm đi luôn bốn hôm giời mà chẳng gặp
ma nào đón). Thì ra lúa mạn Đông năm nay chín sớm.
8
Nhận xét: Vế trước nêu ra một sự tình thực hữu (đi mãi mà không gặp
được người thuê gặt lúa), còn vế sau thì là giải thích cho cái sự băn khoăn ấy (do
lúa mạn Đông năm nay chín sớm).
- “Có lẽ”: Điểm khác biệt giữa “có lẽ” và “có thể” là khi dùng “có lẽ” thì tính
cân nhắc khi đưa ra đánh giá về tính chân thực của sự tình đã được người nói chú ý
hơn.
- “Có khi”: cũng thể hiện suy đóan về tính chân thực của một sự tình nhưng
còn hàm ý khẳng định dè dặt. So với 2 trường hợp “có lẽ” và “có thể” thì mức độ
cam kết về tính chân thực của sự tình thấp hơn.
3.2.2.1.b. Cấu trúc Hẳn là/ Ắt là/ Ắt hẳn là + P
- Các phát ngôn trên xuất hiện trong ngữ cảnh mà trước đó người nói đã đưa
ra các chứng cớ, cơ sở có liên quan đến tính chân xác của sự tình.
9
- “Hẳn/ ắt hẳn” đứng đầu câu vừa tạo cho câu hình thức của một câu hỏi,
người nói chất vấn người nghe và chờ đợi một sự khẳng định.
3.2.2.1.c. Cấu trúc Chắc/ Chắc hẳn là + P
"Chắc/ chắc hẳn là + P" cho biết người nói dựa vào bằng chứng, suy luận,
cảm giác hoặc kinh nghiệm thực tiễn để nghiêng về khẳng định tính chân thực của
P.
3.2.2.1.d. Cấu trúc Hay/ Hay là + P
- Nét nghĩa thứ nhất : biểu thị điều mà câu sắp nêu ra là một khả năng mà
người nói thấy chưa thể khẳng định, còn đang hồ nghi và khả năng này khác biệt
với cái nội dung đã được tiền giả định trước đó. .
- Nét nghĩa thứ hai : biểu thị điều sắp nêu ra là một giải pháp mà người nói
nghĩ là nên nhưng không khẳng định mà muốn biết ý kiến của người đối thoại.
3.2.2.1.e. Cấu trúc Dường như/ Hình như/ Có vẻ như + P
Do sự xuất hiện của “Hình như/ Dường như/ Có vẻ như” đầu phát ngôn làm
cho kết luận đó mang sắc thái không chắc chắn về tính chân thực của sự tình. Sự
không chắc chắn này dựa trên cơ sở cảm giác của người nói.
3.2.2.1.g. Cấu trúc Chả lẽ/ Không lẽ/ Chẳng lẽ/ Lẽ nào + P
Các định ngữ tình thái biểu thị sự ngạc nhiên của người nói khi sự tình P
khác với sự chờ đợi chủ quan của người nói. Nếu P phù hợp với thực tế thì theo
- Nhóm định ngữ câu dựa trên cơ sở nhóm tin đồn đãi không xác định rõ chủ
thể.
Mô hình chung: “Nghe+ X” (nghe nói, nghe đâu, nghe đồn) tạo cho câu sắc
thái không chắc chắn về nguồn thông tin.
Vai trò: Việc sử dụng các tổ hợp này, người nói biểu thị ý phỏng đoán một
cách dè dặt về sự tình, dựa trên những gì đã nghe được, biết được, tuy nhiên lại
không chắc chắn.
Ví dụ: Nghe đâu cách đây 5 năm, có một người trong họ tôi dắt lão đến
vay tiền.
- Nhóm tin do chủ thể khác mang lại
Mô hình chung: “Người ta nói/ Người ta bảo/ Có người nói + X”
Vai trò: So với các trường hợp trên thì tính chất đồn đãi ở trường hợp này cũng
không ít hơn. Thêm vào đó, với việc quy chiếu chủ thể cho thông tin, người nói muốn
dồn trách nhiệm “đúng- sai” của sự tình về phía một cá nhân, một chủ thể ngôi số 3.
Ví dụ: Ngƣời nói chị đã hy sinh rồi, hy sinh trong chiến dịch năm 1975. Ngƣời
nói chị đã lấy chồng và sau đó hai vợ chồng cùng chuyển lên rờ công tác.
3.2.3. Định ngữ câu biểu thị tình thái phản thực hữu
Đặc điểm chung của các định ngữ biểu thị tình thái phản thực hữu là sự
khẳng định “P phản thực hữu”, nhấn mạnh sự tình P là không chân thực, giả dối,
không có trong hiện thực.
3.2.3.1. Nhóm các định ngữ tình thái phản thực hữu gồm Suýt nữa P, Tí nữa P,
Tí nữa thì P, Chút nữa thì P.
Những tổ hợp tình thái này biểu thị hai nét nghĩa khả năng:
Thứ nhất : chỉ một sự tình đã không xảy ra và sự tình này có thể gây bất lợi
cho chủ thể.
Nét nghĩa thứ hai là chỉ người nói có thể, có khả năng đạt được một mong
muốn nào đó nhưng đã không thực hiện được.
Ví dụ: Tí nữa thì tôi được cuộc thắng ông làng mình đấy, bà ạ!
Nhận xét: Định ngữ tình thái xuất hiện trong câu trên thể hiện nội dung: Tôi
đủ.
- “Đã đành”: biểu thị một sự tình được coi là dĩ nhiên, người nói nhằm bổ
sung một điều khác quan trọng hơn.
- “Chi bằng”: Tổ hợp nhấn mạnh điều nói ra là việc cần làm hơn cả.
- “Cốt sao”: Biểu thị P là điều chủ yếu, mục tiêu quan trọng nhất cần đạt
được, những điều khác không cần thiết nữa.
3.4. Một số trƣờng hợp mơ hồ về tình thái
- Nhóm 1: Ƣớc gì P, Giá P, Giá nhƣ P, Phải chi P
Với sự xuất hiện của các tổ hợp tình thái đầu câu cho thấy nội dung sự tình P
là một điều mong ước, mong muốn của người nói không có thật ở hiện tại và quá
khứ, thậm chí cả tương lai. Điều được nói đến trong các phát ngôn trên là một giả
định phi hiện thực với sắc thái đánh giá P phù hợp mong muốn, có lợi, tích cực và
người nói mong ước P diễn ra trong thực tế nhưng P đã không diễn ra. Thêm vào
đó, các định ngữ này còn tạo cho câu sắc thái của sự tiếc nuối.
Do đặc tính thể hiện mong ước không có thật nên các định ngữ tình thái
thuộc nhóm này được mở rộng ở khả năng xuất hiện trong các kiểu câu ghép điều
kiện- kết quả như: Giá mà P , Ước gì P…, Phải chi P…
Ví dụ:
12
Phải chi giờ đây tôi được ôm xiết khuôn mặt hốc hác kia vào ngực được hôn
lên hai đốm sáng quen thuộc đó
- Nhóm 2: Cấu trúc Lẽ ra/ Đáng ra/ Đáng lí/ Đáng lẽ ra/ Đáng lí ra/ Biết
thế này + P
Với sự xuất hiện của các tổ hợp tình thái đầu câu như trên, người nói thể hiện
sắc thái đánh giá sự tình P là hợp lí, có lợi hơn sự tình tồn tại trong thực tế, thái độ
của người nói là tiếc nuối, hối tiếc hoặc hối hận vì P đã không diễn ra hoặc hàm ý
người nói trách móc, phê phán vì P đã không có thực. Các tác tử của nhóm này
cũng có thể xuất hiện trong các câu ghép điều kiện- kết quả kiểu như Lẽ ra P thì Q,
Đáng lẽ P thì Q.
chuyển đổi vị trí tiếp nhận của mình, phải đứng ở vị trí của người tiếp nhận một lập
luận.
13
Những phát ngôn có định ngữ tình thái đầu câu rất hiếm khi giữ vai trò là câu
mở đầu một đoạn văn bản, mà thường là sự tiếp nối của một câu đi trước nó. Sự
xuất hiện của phát ngôn có định ngữ tình thái nhằm nhấn mạnh vào thái độ của
người phát ngôn. Sự xuất hiện của những phát ngôn này chứng tỏ sự luân phiên
giữa các lượt lời trong lúc đối thoại hoặc là để tiền giả định một sự tình nào đó
trong câu đi trước. Dựa vào sự xuất hiện của định ngữ tình thái mà người nghe có
thể suy đoán được nội dung của phát ngôn là bổ sung, đối lập hay hỗ trợ thông tin
với phát ngôn đi trước.
4.2.3. Định ngữ tình thái với vai trò đảm bảo liên kết và mạch lạc văn bản
Các định ngữ tình thái trong nhiều trường hợp đóng vai trò của một yếu tố
nối, tạo sự nối kết giữa các câu, liên kết trong văn bản. Sự liên kết này có thể mang
tính chất đồng nhất, hoặc có khi là sự liên kết giữa hai nội dung tương phản trái
ngược.
Do vị trí đầu câu cho nên trong nhiều trường hợp các định ngữ tình thái có
tác dụng của những kết tố. Những yếu tố tình thái này nhờ phần tiền giả định của nó
làm cho câu chứa đựng nó được liên kết với câu đi trước một cách chặt chẽ. Theo
Cao Xuân Hạo, những câu mở đầu bằng yếu tố tình thái như vậy khó lòng có thể là
câu đầu tiên của một văn bản hay một cuộc đối thoại, tuy nó có thể mở đầu cho một
đoạn văn.
4.3. Chức năng dụng học của định ngữ tình thái trong mối quan hệ với chủ
ngôn
- Định ngữ tình thái thể hiện mong muốn chủ quan tích cực của người nói
Tính tích cực mà đề tài đề cập đến ở đây có nghĩa là các định ngữ này thể
hiện một tình thái nhận thức, trong đó người nói thể hiện mong muốn của mình về
một sự tình P tác động tốt đến người nghe. Việc sử dụng các quán ngữ tình thái tích
cực phải luôn đi với mệnh đề mang sắc thái ý nghĩa tích cực, là những điều mà chủ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát gần 1000 câu tư liệu trong đó có 865 câu là
tư liệu được trích từ các văn bản, truyện ngắn ; hơn 100 câu còn lại là tư liệu thực tế
được thu thập trong quá trình giao tiếp bình thường. Thực tế, định ngữ tình thái
không phải là một khái niệm mới mẻ trong ngôn ngữ học. Về bản chất từ loại, đây
chính là các quán ngữ tình thái đã được nghiên cứu trong nhiều công trình. Điểm
khác của đề tài là đặt các quán ngữ này trong một phát ngôn và coi chúng là một bộ
phận của câu với tên gọi Định ngữ tình thái của câu. Từ trước đến nay, các nhà
nghiên cứu thường không chú ý nhiều đến vai trò, chức năng của thành phần này
trong câu như thế nào. Tuy nhiên khảo sát, phân loại và những đánh giá của chúng
tôi mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu ban đầu, để làm rõ hơn, cần có những
nghiên cứu tiếp tục ở bậc cao hơn./.
References.
TƢ LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Thị Kim Anh, 2005. Vai trò của các tiểu từ tình thái cuối câu trong
việc hình thành hiệu lực tại lời của phát ngôn, Luận văn thạc sỹ khoa Ngôn ngữ
học.
2. Diệp Quang Ban, 1981. Bàn về vấn đề khởi ngữ hay chủ đề trong tiếng
Việt, NXB Đại học và THCN.
3. Diệp Quang Ban, 1987. Câu đơn tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
4. Diệp Quang Ban, 1989. Khả năng xác lập mối liên hệ giữa phân đoạn ngữ
pháp và phân đoạn thực tại câu tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 4/ 1989.
5. Diệp Quang Ban, 1998. Về mạch lạc văn bản, Tạp chí ngôn ngữ số
1/1998.
6. Diệp Quang Ban, 2002. Giao tiếp- Văn bản- Mạch lạc- Liên kết- Đoạn
văn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Nguyễn Tài Cẩn, 2004. Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Hà
Nội.
8. Nguyễn Hồng Cổn, 2001. Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng
Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2001.
24. Nguyễn Văn Hiệp, 2006. Nghĩa chủ đề và những cách tiếp cận về nghĩa
chủ đề, tạp chí ngôn ngữ số 11/2006.
25. Nguyễn Văn Hiệp, 2008. Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháo, NXB Giáo
dục Việt Nam
26. Nguyễn Văn Hiệp, 2009. Cú pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt
Nam.
27. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, So sánh đối chiếu cấu trúc ngữ nghĩa của hiện
tượng đảo ngữ trong tiếng Anh, Luận văn tiến sĩ tại khoa Ngôn ngữ học, Hà Nội.
28. Nguyễn Hòa, 2001. Về tính giao tiếp và tính ký hiệu của diễn ngôn, Tạp
chí ngôn ngữ số 8/2011.
29. Nguyễn Hòa, 2002. Ngữ cảnh trong phân tích lý luận diễn ngôn, Tạp chí
ngôn ngữ số 11/2002.
30. Đào Thanh Lan, 2002. Phân tích câu đơn tiếng Việt theo cấu trúc Đề-
Thuyết, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội.
16
31. Đào Thanh Lan, 2004. Cách tiếp cận câu tiếng Việt theo 3 bình diện Kết
học- Nghĩa học- Dụng học, Tạp chí ngôn ngữ số 10/ 2004.
32. Trần Hữu Mạnh, 2004. Cấu trúc thông tin ở cấp độ câu, Tạp chí ngôn
ngữ số 10/2004.
33. Trần Thị Mỹ. Các yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp
- Những biểu đạt tương ứng trong câu tiếng Việt, Luận văn Tiến sĩ khoa ngôn ngữ
học.
34. Nguyễn Thị Thúy Nga. Khảo sát những phương tiện ngôn ngữ biểu thị sự
đánh giá bất thường trong câu tiếng Việt, Luận văn Thạc sỹ khoa ngôn ngữ học.
35. Bùi Trọng Ngoãn, Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt, Luận
văn thạc sỹ khoa ngôn ngữ học.
36. Huỳnh Thị Ái Nguyên, 2005. Nghiên cứu phương tiện nhấn mạnh trong
tiếng Anh, có liên hệ với tiếng Việt, Luận án tiến sĩ tại Hà Nội.
37. Hoàng Phê, 1998. Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.