tín hiệu thẩm mĩ đất trong thơ nguyễn duy - Pdf 24

Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tín hiệu thẩm mĩ là vấn đề được sự quan tâm của tất cả các ngành nghệ
thuật nói chung và của văn học nói riêng. Nghiên cứu, giải mã tín hiệu thẩm
mĩ là một công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều tâm sức của các nhà nghiên cứu
và cũng đã gây ra không Ýt tranh luận về vấn đề này. Trong văn học, nghiên
cứu tín hiệu thẩm mĩ tức là tiếp cận tác phẩm văn học từ phương diện ngôn
ngữ học, từ góc độ văn bản tác phẩm. Vì vậy mà sẽ cho chóng ta những nhận
xét chính xác, khách quan về tác phẩm văn học, không phải là những suy diễn
dội từ bên ngoài vào nh trong một số ngành nghiên cứu văn học từ phương
diện xã hội học, lịch sử,
Theo GS. Đỗ Hữu Châu ngôn ngữ văn học có thể được xem là một hệ
thống tín hiệu bao gồm các tín hiệu thông thường và các tín hiệu thẩm mĩ.
Các tín hiệu thông thường chỉ thực hiện chức năng tái tạo hiện thực (thực
hiện chức năng giao tiếp lí trí là chủ yếu. Có thể gọi đó là các chữ rỗng, các
chữ bao bì). Các tín hiệu thẩm mĩ luôn chứa đựng những tư tưởng, những ý
nghĩ nào đó của tác giả thông qua quá trình khái quát hoá, biểu trưng hoá
nghệ thuật. Vì vậy tín hiệu thẩm mĩ là cơ sở giải mã hình tượng, lý giải tính
hàm súc, biểu trưng, giàu sức gợi của ngôn ngữ nghệ thuật.
Nhà thơ Nguyễn Duy mang đến cho nền thơ ca một bản sắc riêng, một
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật riêng, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả và
giới nghiên cứu phê bình. Nhìn chung các tác giả đều đánh giá cao tài năng
thơ Nguyễn Duy với phong cách sử dụng ngôn ngữ riêng, độc đáo, đậm chất
dân tộc, giản dị, thô mộc, gần gũi với cuộc sống thường ngày. Trong thơ
Nguyễn Duy có một số tín hiệu thẩm mĩ xuất hiện với tần số khá cao như gió,
trăng, đất Chúng tôi lựa chọn tín hiệu thẩm mĩ đất vì với tín hiệu thẩm mĩ
này thể hiện rất rõ tài năng thơ Nguyễn Duy trong việc sử dụng ngôn ngữ và
chất thô mộc, bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lao động
đặc biệt là của những người dân quê. Tìm hiểu giá trị biểu trưng của tín hiệu

thấy những cách tân, sáng tạo mang dấu Ên riêng của tác giả.
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
Có thể kể đến một vài nhận xét đáng chú ý về phương diện ngôn ngữ :
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khẳng định sự thành công của Nguyễn
Duy trên nhiều phương diện trong đó có phương diện ngôn ngữ, đó là việc
vận dụng, chắt lọc rất tinh tế ngôn ngữ đời thường để tạo lời thơ, làm cho
Tiếng Việt thêm giàu đẹp "Thơ Nguyễn Duy đậm tính dân tộc và nhuần
nhuyễn ngôn ngữ dân gian, lời thơ đơn sơ gần với khẩu ngữ "( Nguyễn
Quang Sáng - Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy. Phụ lục tập " Mẹ và
em").
Lê Trí Viễn chỉ ra thơ Nguyễn Duy vừa mang âm hưởng ca dao dân ca
ngọt ngào thân mật vừa vang vọng của thơ ca bác học sâu lắng và trí tuệ (Lê
Trí Viễn - Đến với bài thơ hay. NXB Giáo dục, 1997).
Anh Ngọc khi phân tích bài "Vợ ốm" nhận ra "cái thứ khẩu ngữ của
thập loại chúng sinh" cùng với "cách tạo từ mới có nội lực sống" làm bật lên
tiếng cười nhưng lại khiến mủi lòng, thêm nặng tình thương mến với vợ.
Lê Quang Hưng khẳng định tài năng thơ Nguyễn Duy trong việc chọn
chữ khi thể hiện và cũng rất tiết kiệm lời.(Lê Quang Hưng - Thơ Nguyễn Duy
và Ánh trăng. Tạp chí văn học số 3.1986).
Phạm Thu Yến trong công trình nghiên cứu "Nguyễn Duy - Ca dao
vọng về" đã phát hiện ra thơ Nguyễn Duy có lối tả, kể gần với ngôn ngữ đời
thường, giàu sức gợi cảm và sắc màu hiện đại( Phạm Thu Yến - Nguyễn Duy
"Ca dao vọng về", tạp chí văn học số 7, 1998).
Các tác giả của ba luận án: Mai Thị Nguyệt với "Phong cách thơ
Nguyễn Duy"; Nguyễn Thị Minh Tâm với "Chủ đề quê hương đất nước trong
thơ Nguyễn Duy" và Nguyễn Thị Bích Nga với "Thơ lục bát của Nguyễn
Duy", trong công trình nghiên cứu của mình các tác giả đã chỉ ra các đặc điểm
ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy đậm chất dân tộc,
giản dị, thô mộc, gồ ghề, gần với ngôn ngữ thường ngày.

nghệ thuật, một ý chí).
Dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì khái niệm tín hiệu vẫn là
một khái niệm quan hệ, không phải là một khái niệm tự thân. Có nghĩa là một
sự vật (hay thuộc tính) muốn trở thành tín hiệu phải nằm trong quan hệ với
những sự vật khác. Và bản chất của tín hiệu bao gồm hai mặt hình thức và nội
dung, hai mặt đó gắn bó mật thiết, biện chứng với nhau.
1.2. TÝn hiệu ngôn ngữ
Ngôn ngữ là mét hệ thống tín hiệu đặc biệt, cũng giống nh tín hiệu, tín
hiệu ngôn ngx cũng gồm hai mặt, mặt âm thanh và mặt ý nghĩa, tức là cái
biểu hiện và cái được biểu hiện. Nhưng hệ thống tín hiệu ngôn ngữ rất phức
tạp, bao gồm những đơn vị đồng loại nh âm vị, hình vị, từ . Khác với các loại
tín hiệu khác, mặt nội dung trong tín hiệu ngôn ngữ quan hệ với hình thức
không phải bao giờ cũng chỉ có quan hệ trực tiếp khái niệm và âm thanh. Hệ
thống ngôn ngữ là hệ thống nhân tạo, xã hội, có chức năng quan trọng nhất là
chức năng giao tiếp. Văn tự là kí hiệu của ngôn ngữ.
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
Đối với tác phẩm văn học, hình thức vật chất của tín hiệu thẩm mĩ
chính là ngôn ngữ. Cấu trúc đặc biệt của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cho phép
chứa đựng trong mỗi ngôn từ của tác phẩm văn học một phạm vi nào đó của
đời sống hiện thực được phản ánh (làm thành ý nghĩa biểu vật, biểu niệm của
từ). Với ngôn ngữ, có thể tiếp nhận từ văn học những hiện thực trực tiếp
“thông qua ý nghĩa của ngôn ngữ”. Chính vì thế “ngôn ngữ không chỉ là
phương tiện mà còn là chất liệu của văn học”.
2. TÍN HIỆU THẨM MĨ
2.1. Nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ
- Quan niệm về tín hiệu thẩm mĩ: Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu: tÝn hiệu
thẩm mĩ là phương tiện quan trọng nhất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói
chung và văn học nói riêng. Đó là “Phương tiện sơ cấp (primaire) của văn
học là các tín hiệu thẩm mĩ… Rồi cái tín hiệu thẩm mĩ đó mới được thể hiện

ngô đồng…trong văn học trung đại Việt Nam là những tín hiệu nh vậy:
- Khi về hỏi liễu Chương Đài
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
- Sương nh búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
(Đặng Trần Côn, Chinh phụ ngâm)
2.2. Đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ
* Tính chất hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ:
- Hình thức biểu hiện(cái biểu hiện): tín hiệu thẩm mĩ phải có cái phần tri
giác được, phần có thể nhận biết được bằng các giác quan. Nó là âm thanh trong
âm nhạc, là màu sắc trong hội họa, là ngôn từ trong văn học…Nghệ thuật không
thể phản ánh hiện thực bên ngoài những phương tiện vật chất của nó.
- Nội dung ý nghĩa(cái được biểu hiện): tín hiệu thẩm mĩ phải thông
tin về một cái gì đó trong đời sống hiện thực, nó mới thể hiện được chức năng
phản ánh nghệ thuật của mình. Thông qua hiện thực được phản ánh, nội dung
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
tư tưởng nghệ thuật được toát lên. Bởi vậy, ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ
chính là ý nghĩa thẩm mĩ.
* Mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu của tín hiệu thẩm mĩ:
- Tín hiệu thẩm mĩ thuộc loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa hai mặt
biểu hiện và được biểu hiện là quan hệ hoàn toàn có lý do.
- Tín hiệu thẩm mĩ tham gia vào một hoạt động tinh thần độc đáo của
con người: hoạt động sáng tạo nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ liên quan đến
những vấn đề về cảm xúc, liên tưởng…Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu của cáI
đẹp, của những giá trị nghệ thuật, đầy tính sáng tạo và luôn đòi hỏi khả năng
liên tưởng của cả người sáng tạo lẫn chủ thể tiếp nhận.
2.3. Vai trò của Èn dụ, hoán dụ, tượng trưng trong việc cấu tạo các
tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ nghệ thuật

kiểu quan hệ tương đồng, mối quan hệ giữa các cấp độ của cái được biểu đạt
thường có một sự dứt đoạn, chìm khuất, gián cách. Trong kiểu quan hệ kế cận
lại có một độ chênh, khoảng lệch pha, khúc xạ giữa các cấp độ ý nghĩa.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng Èn dụ và hoán dụ cũng nh tất cả các thủ
pháp biểu đạt khác không có vai trò quyết định hoàn toàn đối với giá trị của
tác phẩm. Nghệ thuật cần đến những thủ pháp nhưng chúng ta đã thấy quá rõ
ràng rằng nghệ thuật không phải là thủ pháp.
2.4. TÝnh chất của tín hiệu thẩm mĩ
a) Tính nhân loại, tính dân tộc, tính lịch sử của tín hiệu thẩm mĩ
- Tính nhân loại: các tín hiệu thẩm mĩ trong các tác phẩm văn học là sự
chuyển hoá của các mẫu gốc, các biểu tượng. Vì vậy các hướng nghĩa biểu
trưng mà nó gợi lên có tính chất chung cho toàn nhân loại. Đó là những mẫu số
chung mà một tín hiệu thẩm mĩ có thể gợi lên. Ví dụ “Mặt trời” là một mẫu gốc
trong văn hoá nhân loại với hướng nghĩa biểu trưng chung tượng trưng cho
quyền uy tối thượng, cho vẻ đẹp tuyệt đối. Các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm
văn học xuất phát từ mẫu gốc mặt trời: ban mai, rạng đông, vừng đông, hoa
hướng dương đều có chung mét ý nghĩa nh ý nghĩa của mẫu gốc mặt trời.
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
Đi liền với tính nhân loại là tính cộng đồng. Các mẫu gốc đi liền với
nền văn hoá khác nhau sẽ sản sinh ra những biến thể cái biểu đạt và cái được
biểu đạt do ảnh hưởng của những điều kiện về địa lí, tôn giáo.
- Tính dân tộc: các mẫu gốc khi đi vào các nền văn hoá khác nhau sẽ
sản sinh ra những biến thể cái biểu đạt và biến thể cái được biểu đạt do ảnh
hưởng của những điều kiện địa lí, kinh tế, tôn giáo.
Ví dô: NƯỚC: mẫu gốc của văn hoá nhân loại, khi đi vào các nền văn
hoá khác nhau sản sinh ra những biến thể:
- Biến thể cái biểu đạt làm thành hệ biểu tượng trong văn hoá Hi Lạp:
biển- bọt biển-vỏ sò- nữ thần Aphrodite-nàng tiên cá- con thuyền lớn…; trong
văn hoá Ên Độ: nước- bùn - hoa sen - cõi Niết Bàn….

c) Tính hình tuyến
Trong ngôn ngữ văn học, các tín hiệu thẩm mĩ đều phải được tổ chức
lại dựa trên tính hình tuyến chặt chẽ của ngôn từ. Tín hiệu thẩm mĩ trong tác
phẩm văn học cũng mang tính hình tuyến. Các tín hiệu thẩm mĩ lần lượt được
thể hiện trên trục thời gian, chỉ có thể xuất hiện từng yếu tố nối tiếp nhau chứ
không thể đồng thời xuất hiện nhiều yếu tố.
2.5. Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ
a) Chức năng biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học
Trong phạm vi tác phẩm văn học, chức năng biểu hiện đối tượng và xây
dựng hình tượng của tín hiệu thẩm mĩ luôn luôn phải là một sự tương tác của
các kiểu quan hệ, các cấu trúc. Chức năng này theo V.X.Soloviev có thể thực
hiện theo 3 cách cơ bản:
+ Biểu hiện trực tiếp (trong thơ trữ tình thuần tuý)
+ Biểu hiện gián tiếp: tức là thông qua sự tăng cường, làm mạnh lên cái
đẹp hiện hữu, tái tạo những hiện tượng của đời sống dưới hình thức tập trung,
được thanh lọc và lý tưởng hoá (trong hầu hết các thể loại trữ tình và bi kịch)
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
+ Biểu hiện gián tiếp thông qua những phản xạ của thực tại cần có, thực
tại mang tính lý tưởng khỏi đời sống hiện hữu không tương ứng (trong tác
phẩm tự sự, hài kịch, thơ trào phúng )
b) Chức năng tác động của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm nghệ thuật
Nghệ thuật luôn tác động đến cảm xúc của con người, nhưng đó là
trạng thái cảm xúc có khả năng thanh lọc những cảm xúc thông thường trở
thành những giá trị tinh thần cần phải có, xứng đáng được hiển lộ trong thế
giới tâm hồn con người.
Tóm lại, tín hiệu thẩm mĩ là một giá trị ngôn ngữ trong nghệ thuật nói
chung và trong văn học nói riêng. Tín hiệu thẩm mĩ có những đặc trưng, chức
năng riêng, Và để hiểu được ý nghĩa, giá trị của tín hiệu thẩm mĩ cần phải đặt
nó trong ngữ cảnh tu từ, trong mối quan hệ với nghĩa gốc của từ đất.

gió nữa
Gửi từ vùng gió Phan
Rang
22. Anh về nơi cuối ĐẤT Tình ca nơi cuối đất
23. Anh gác nơi cuối ĐẤT
24. Mòi ĐẤT đầu mũi súng
25. đợi anh nơi cuối ĐẤT
26. bùn ĐẤT tiếp tục dời chất phác Lời ru từ mũi Cà Mau
27. quả ĐẤT bỗng nghèo nàn đi mất Nhịp điệu bóng đá
28. Với việc đoạt huy chương vàng dưới ĐẤT
29. Để cho dưới ĐẤT đám người chạy mưa Đám mây dừng lại trên
trời
30. ĐẤT đai cằn khô chưa bao giờ bình yên Nấp vào bóng mình
31. rơi ĐẤT cát rơi rơm rạ Rơi và nhặt
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
32. ĐẤT chẳng dưới chân trời chẳng trên đầu Yêu là yêu
33. Tuổi trẻ anh áo nâu chân ĐẤT Gửi về trường Lam Sơn
34. Cha cói lom khom tìm gì trong lòng ĐẤT kia? Với đồng bằng
35. Mẹ cói lom khom tìm gì trong lòng ĐẤT kia?
36. Bà cói lom khom tìm gì trong lòng ĐẤT kia?
37. Em cói lom khom tìm gì trong lòng ĐẤT kia?
38. cho dù ĐẤT sái ĐẤT vôi bạc màu Tre Việt Nam
39. rễ siêng không ngại ĐẤT nghèo
40. ĐẤT xanh tre mãi xanh màu tre xanh
41. ĐẤT im lặng dưới chân ta Bài hát người làm gạch
42. lắng nghe có tiếng hát thầm - ĐẤT thôi
43. Hòn ĐẤT là hòn ĐẤT rời
44. hòn ĐẤT là hòn ĐẤT mềm
45. hòn ĐẤT là hòn ĐẤT nâu

76. Này, ĐẤT nước của ba miền cày ruộng
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
77. Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách ĐẤT
78. lũ trẻ chúng tôi vầy ĐẤT tối ngày
79. Thuở tới trường cũng đầu trần chân ĐẤT
80. đừng quên ĐẤT nước mình nghèo
81. khắp ĐẤT nước
82. mộ đấy ư bằng phẳng nh mặt ĐẤT Thăm nghĩa trang Talin
83. và hình dung một lần chui xuống ĐẤT Trong đất
84. Những tên người sâu trong lòng ĐẤT
85. thành tên ĐẤT sâu trong lòng người
86. Mặt ĐẤT trên mặt ta rung rinh
87. tâm tưởng ta mộng du lòng ĐẤT
88. Ai đưa em lìa ĐẤT nước Giã từ Arêkhôvơ
89. Hình như ĐẤT dư thừa mọi thứ Tí tẹo Bắc Âu
90. ĐẤT bày biện phơi
91. Người trái ĐẤT bay xoay tít mù ngoài trái ĐẤT Đường hầm qua biển
Mancha
92. ĐẤT ngàn độ dung nham kia có địa ngục Diêm
Vương
Thắp nhang và khấn
93. Nén nhang khấn ĐẤT
94. cúi đầu xuống gặp chân mình lấm ĐẤT Trăng sông Tiền
95. Quả ĐẤT nóng dần lên Kim mộc thuỷ hoả thổ
1.2. Tần số xuất hiện và khả năng kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ đất
trong thơ Nguyễn Duy
* Tín hiệu thẩm mĩ đất trong thơ Nguyễn Duy xuất hiện 102 lần / 205
bài thơ; nh vậy trung bình có khoảng 49,76 lần / 1 bài thơ.
* Khả năng kết hợp của từ đất:

mang 2 chức năng:
- Miêu tả cụ thể hình dáng, tính chất của đất. Với nghĩa này, đất là môi
trường sống, là nơi để con người trú ngụ, làm nhà cửa, trồng trọt.
- Từ đất khơi gợi liên tưởng đến những công việc khó khăn, vất vả, đến
cuộc sống của con người.
1.3.2. Dùng với nghĩa biểu trưng hoàn toàn. Tín hiệu thẩm mĩ đất
mang giá trị biểu trưng hoàn toàn, chỉ tình cảm của con người ở nhiều cung
bậc, nhiều sắc thái khác nhau, chỉ bề dày lịch sử, văn hoá của đất nước, chỉ sự
trường tồn, vĩnh cửu, bất biến.
2. Ý NGHĨA CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ ĐẤT TRONG THƠ NGUYỄN DUY
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
2.1. Nghĩa của từ đất trong từ điển
Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, các tác giả đã chỉ ra
nghĩa gốc và 5 nét nghĩa chuyển. Cụ thể:
Nghĩa gốc: Đất là chất rắn làm thành lớp trên cùng của bề mặt trái đất,
ở trên đó người và các loài động vật đi lại, sinh sống, có thể trồng cấy được.
Với nghĩa gốc này, từ đất gợi sự ổn định, cố định và những lợi Ých do đất
mang lại.
Trong Từ điển, các tác giả đã chỉ ra 5 nét nghĩa chuyển xuất phát từ
nghĩa gốc:
- Chỉ cuộc sống ổn định, bình yên (trong thành ngữ đất bằng nổi sóng.
Trong thành ngữ này, trong mối quan hệ với sóng chỉ sự biến đổi, đất chỉ sự
ổn định). Nét nghĩa chuyển này dựa trên nét nghĩa gốc đất là chất rắn tạo sự
chắc chắn, vững chãi của sự vật.
- Chỉ cuộc sống thuận lợi, công việc làm ăn thì dễ dàng, nhiều người tìm
đến sinh sống (trong thành ngữ đất lành chim đậu). Nét nghĩa chuyển này dùa
trên cơ sở Ých lợi của đất là nơi có thể trồng cấy tạo ra nguồn sống cho con
người.
- Chỉ phong tục, tập quán riêng của từng địa phương, khó thay đổi, có

- đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ
- Làng tôi xưa toàn nhà tranh vách đất
- quả đất bỗng dưng nghèo nàn đi mất
Với những kết hợp từ: hầm đất, trắng đất, đất nứt nẻ, vách đất đã thể
hiện cuộc sống nghèo nàn, vất vả, khó khăn của con người. Phải ở trong hầm
đất, sống trong căn nhà vách đất nghèo nàn, biểu hiện cho cuộc sống khốn
khó. Và những thiên tai, lũ lụt, hạn hán đã khiến cho tiềm lực đất trở nên kiệt
quệ, cuộc sống của con người trở nên khó khăn. Đất trong những kết hợp từ
trên là những hình ảnh của cuộc sống thực được miêu tả cụ thể, sống động và
mang ý nghĩa biểu trưng cho cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn. Nét nghĩa biểu
trưng này xuất phát từ đặc điểm của đất, từ màu của đất, đất có thể là chất liệu
làm nhà được nhưng căn nhà Êy là căn nhà của sự nghèo khổ, nghèo đói.
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
+ Đất biểu trưng cho cuộc sống lam lũ, lấm láp, nghèo khó:
- chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
- thuở tới trường cũng đầu trần chân đất
- Tuổi trẻ anh áo nâu chân đất
- cúi đầu xuống gặp chân mình lấm đất
- lũ trẻ chúng tôi vầy đất tối ngày
- bụi đÊt bốc cao phủ khói một vùng đồ
- từ gương mặt hồng hào bụi đất
Với kết hợp từ chân đất đã thể hiện cuộc sống lấm láp, nghèo khổ.
Cuộc sống gắn liền với thời tuổi thơ, một thời kì nghèo đói, khó khăn, những
đứa trẻ phải chịu cuộc sống thiếu thốn về vật chất, chỉ có thể lấy "vầy đất"
làm trò chơi, làm niềm vui của mình. Cuộc sống nghèo nàn, niềm vui của con
người cũng toát lên một sự nghèo khổ. Cuộc sống lam lũ, lấm láp Êy bao trùm
lên con người ở mọi phương diện. Hình ảnh: bụi đất bốc cao phủ khói một
vùng đồi là hình ảnh được miêu tả thực. đồng thời có giá trị biểu trưng cho
cuộc sống lấm láp, lam lũ và nghèo khổ. Hình ảnh: cúi đầu xuống gặp chân

Với những kết hợp từ đất sỏi, đất vôi, đất đá, đất nghèo, đất mang nét
nghĩa biểu trưng cho những khó khăn, thiếu thèn của cuộc sống con người,
Nét nghĩa biểu trưng này xuất phát từ kết hợp từ cụ thể, được hiểu trong câu
thơ cụ thể của bài Tre Việt Nam mang ý nghĩa biểu trưng cho cuộc sống, cho
phẩm chất của con người Việt Nam.
+ Đất biểu trưng cho cuộc sống nhiều nhiều biến động, thăng trầm:
- Mặt đất trên mặt ta rung rinh
thành phố sống mấy khoảng đời dữ dội
mấy lần xây lên đổ sập xuống mấy lần
- đất đai cằn khô chưa bao giờ bình yên.
Đất là nơi chứng kiến những mọi sự biến đổi, kể cả những biến thiên
dữ dội nhất của lịch sử, của cuộc sống con người. Sự biến đổi của mặt đất cho
thấy sự biến đổi trong cuộc sống con người. Đất và người có sự gắn bó dường
nh là máu thịt. Nói đến sự biến đổi của đất cũng là nói đến sự biến đổi của
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
cuộc sống con người. Dân tộc ta, đất nước ta chịu nhiều biến động của lịch sử
trong sự đói nghèo triền miên, dai dẳng.
+ Đất biểu trưng cho cuộc sống giàu có, đầy đủ:
- Hình như đất dư thừa mọi thứ
- Đất bày biện phơi.
Xuất phát từ nét nghĩa đất có thể trồng cấy đem lại nguồn lợi cho con
người được, ở đây đất biểu trưng cho cuộc sống đầy đủ, Êm no, dư thừa
+ Đất biểu trưng cho nhu cầu, ham muốn, đòi hỏi của con người:
- đất ghiền phân vô cơ nh người ghiền á phiện
Với thủ pháp so sánh, Nguyễn Duy đã đồng nhất đất và người. Nhu
cầu của đất là thường xuyên và vô tận, có giá trị tượng trưng cho những nhu
cầu, đòi hỏi của con người cũng thường xuyên và nhiều vô tận.
b) Biểu trưng cho công việc khó khăn, nặng nhọc
- Em dạy nhạc cho tôi khác nào đi vỡ đất

- Bà đi tìm hạt gạo.
Em cói lom khom tìm gì trong đất kia?
- Em đi tìm hạt gạo.
Hạt gạo nuôi sống con người và đất tiềm tàng khả năng làm ra những
hạt ngọc quý giá kia. Tiềm Èn trong đất khả năng vô tận, nguồn sống dồi dào
nếu nh con người biết khai thác, biết tìm tòi trong lao động.
+ Đất biểu trưng cho tiềm lực của đất nước. Nhà thơ muốn "Đánh
thức tiềm lực", muốn khơi dậy khả năng tiềm tàng vô tận của đất đai:
- Hãy thức dật đất đai
- lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?
Không phải ngẫu nhiên mà câu thơ:"Hãy thức dậy đất đai" được đặt ở
đầu bài thơ. Nguồn lực, tiềm lực mà nhà thơ muốn khơi dậy, muốn đánh thức
nhất chính là đất đai. Điều đó cho thấy đất đai có một vị trí, một ý nghĩa to
lớn trong đời sống của dân tộc Việt Nam, không chỉ là nguồn sống vật chất
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
mà đất đai trong thơ Nguyễn Duy còn có ý nghĩa tinh thần, chứa đựng được
cả lịch sử, văn hoá của cả dân tộc.
Đất trong các câu thơ:"lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?" thể
hiện một sự trăn trở, day dứt. Đất trong câu thơ này có hai ý nghĩa biểu trưng.
Thứ nhất là trong kết hợp từ lòng đất, đất biểu trưng cho tiềm lực, cho nguồn
sống vô tận, dồi dào của tự nhiên, của đất nước. Thứ hai là trong kết hợp từ
mặt đất, đất biểu trưng cho cuộc sống nghèo nàn, thiếu thốn của con người.
Hai ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ đất này trái ngược nhau nhưng
cùng được thể hiện trong một câu thơ thể hiện sự trăn trở, day dứt cùng nỗi
đau lòng trước hiện trạng của đất nước.
Sự trăn trở này còn thể hiện ở một nỗi ám ảnh đầy day dứt:
- Đất tân sinh ngỡ ngọt ngào trên mặt
Cũng giống nh nghĩa biểu tượng trong văn hoá nhân loại, đất tượng
trưng cho chức năng người mẹ, cho thiên tính nữ "ngọt ngào". Nhưng cái ngọt

cuộc sống đầy đủ, sạch sẽ, khang trang. Từ trong sâu thẳm của những ngôi nhà
gạch mái ngói là tiếng hát thầm của đất, tiếng hát của cuộc sống đầy đủ, Êm no:
- Đất im lặng dưới chân ta
lặng nghe có tiếng phố nhà vang ngân
xôn xao mái ngói tầng tầng
lắng nghe có tiếng hát thầm đất thôi!
2.2.2. Nghĩa biểu trưng hoàn toàn
Khi từ đất được sử dụng với nghĩa biểu trưng hoàn toàn, nó có các ý
nghĩa sau:
a) Biểu trưng cho phạm vi không gian sinh sống của dân tộc với bề
dày lịch sử, cội nguồn văn hoá.
+ Đất biểu trưng cho phạm vi không gian sinh sống của một dân
tộc.Với kết hợp từ đất nước, từ đất chỉ miền đất đai, trong quan hệ với dân tộc
làm chủ và sống trên đó. Trong cấu trúc của từ này, từ đất đã hoàn toàn mang
ý nghĩa biểu trưng hoàn toàn, có ý nghĩa khái quát chỉ phạm vi không gian
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt - K54A
Ngữ văn
sinh sống của một dân tộc. Tuy nhiên kết hợp từ này ở trong mỗi câu thơ cụ
thể có ý nghĩa khác nhau:
- Đất nước mình những năm nhiều gian khổ
- có ai trên đất nước này
- Này, đất nước của ba miền cày ruộng.
- đừng quên đất nước mình nghèo
- khắp đất nước.
Xuất phát từ nét nghĩa đất nước chỉ phạm vi đất đai của một dân tộc,
một cộng đồng người, hình ảnh đất nước trong câu thơ: "Đất nước mình
những năm nhiều gian khổ" có ý nghĩa cụ thể chỉ cuộc sống khó khăn, bề bộn
của con người.
Từ đất nước được sử dụng nhiều nhất trong bài thơ Đánh thức tiềm
lực, được sử dụng trong ba câu thơ đều có chung ý nghĩa khái quát nhưng ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status