TÍN HIỆU THẨM MĨ XUÂN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ NHUNG

TÍN HIỆU THẨM MĨ XUÂN
TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

trong tổ Tiếng Việt, khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây Bắc, cùng sự động viên,
ủng hộ của các bạn sinh viên.
Nhân dịp khóa luận được công bố tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.
Bùi Thanh Hoa, ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo, các bạn sinh
viên đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Trần Thị Nhung CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

TH : Tín hiệu
THNN : Tín hiệu ngôn ngữ

1.1.2.1. Ẩn dụ 11
1.1.2.2. Hoán dụ 12
1.1.3. Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ 12
1.1.3.1. Chức năng biểu hiện 12
1.1.3.2. Chức năng tác động 13
1.1.4. Những đặc trưng tiêu biểu của tín hiệu thẩm mĩ 13
1.1.4.1. Tính truyền thống và tính cách tân 13
1.1.4.2. Tính biểu trưng 14
1.1.5. Các biến thể của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật 15
1.1.5.1. Biến thể từ vựng 15
1.1.5.2. Biến thể kết hợp 15
1.2. Những nhân tố của ngữ cảnh tác động đến tín hiệu thẩm mĩ xuân trong
thơ Nguyễn Bính 16
1.2.1. Tiểu sử 16
1.2.2. Quê hương và thời đại 18
Tiểu kết 19
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ XUÂN
TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 20
2.1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại 20
2.2. Biến thể kết hợp 21
2.3. Biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ Nguyễn Bính 22
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA THẨM MĨ CỦA TÍN HIỆU XUÂN TRONG THƠ
NGUYỄN BÍNH 26
3.1. Nghĩa của xuân theo từ điển 26
3.2. Các nét nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ xuân trong thơ Nguyễn Bính 26
3.2.1. Nghĩa thực – chỉ thời gian 26
3.2.2. Nghĩa biểu trưng 32
3.2.2.1. Biểu trưng cho tuổi trẻ và khát vọng tình yêu 32
3.2.2.2. Biểu trưng cho bước đi của thời gian, thể hiện nỗi buồn, sự cô đơn 36
3.2.3. Tín hiệu thẩm mĩ xuân và những sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Bính . 42

cận mới các hình tượng văn học từ góc độ lí thuyết về THTM, để góp thêm
tiếng nói ca ngợi tài năng xuất chúng của nhà thơ, đồng thời phục vụ cho
việc giảng dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường hiện nay, và ở mức độ
nhất định góp phần nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mĩ các thi phẩm Nguyễn
Bính nói riêng, các tác phẩm thơ ca nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Từ khi xuất hiện trên thi đàn thơ ca lãng mạn 1930 – 1945 Nguyễn Bính đã
trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bạn văn, bạn thơ và giới phê bình
nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu, bình luận về thơ của Nguyễn Bính ở
nhiều phương diện đã xuất hiện: người nói về phong cách thơ Nguyễn Bính, nội
dung thơ Nguyễn Bính, người nói về bút pháp nghệ thuật thơ Nguyễn Bính hay
con người trong thơ Nguyễn Bính…. Có thể điểm qua một số tác giả nổi tiếng
nghiên cứu về Nguyễn Bính như: Hoài Thanh, Chu Văn Sơn, Hà Minh Đức,
Đoàn Đức Phương, Tô Hoài, Thanh Việt, Mã Giang Lân, Vương Trí Nhàn,

2
Hoàng Như Mai Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Nguyễn Bính mới tập trung
vào tìm hiểu các tác phẩm của ông từ góc độ văn học, những công trình nghiên
cứu các tác phẩm của ông từ góc độ ngôn ngữ học còn chưa nhiều. Thực tế cho
thấy, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính từ góc độ lí thuyết THTM nói chung,
đặc biệt THTM xuân trong thơ ông hầu như cho đến nay vẫn chưa thấy có công
trình chuyên khảo nào. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề này để tiến hành
nghiên cứu.
3. Đối tượng vàphạm vinghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ đạo của chúng tôi trong đề tài này là đặc điểm
cấu tạo và ý nghĩa biểu trưng của THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính qua đó
khẳng định phong cách thơ ông trong thi đàn thơ Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiến hành đề tài này chúng tôi khảo sát, nghiên cứu tất cả các tập thơ của

từ theo ngữ cảnh sử dụng: Phương pháp này được áp dụng khi khảo sát sự xuất
hiện của các từ ngữ chỉ xuân cùng với các từ ngữ khác xuất hiện kèm theo ở
những ngữ cảnh khác nhau trong thơ Nguyễn Bính với tư cách là những THTM
văn chương, phân tích ý nghĩa của các từ ngữ đó trong từng hoàn cảnh sử dụng,
đối tượng sử dụng.
3. Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống để tìm sự khác biệt ngữ nghĩa giữa
các từ đồng nghĩa: Các từ ngữ cùng chỉ xuân tuy là đồng nghĩa nhưng ở mỗi ngữ
cảnh sử dụng từ chúng lại có sự khác nhau về ý nghĩa, về sắc thái biểu cảm –
đánh giá và phạm vi sử dụng.
6. Đóng góp của khóa luận
6.1. Ý nghĩa lí luận
Khóa luận góp phần tìm hiểu thêm về THTM xuân trong thơ Nguyễn Bính.
Đây là TH đặc biệt được sử dụng rất nhiều lần trong ngôn ngữ nghệ thuật, tạo
nên những giá trị đặc sắc cho những tác phẩm văn chương, ngôn ngữ văn
chương nói chung và ngôn ngữ của tác giả trong đó có Nguyễn Bính nói riêng.
Việc tìm ra những ý nghĩa biểu trưng của mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính
nhằm giúp bổ sung kiến thức về THTM trong văn chương được đầy đủ, toàn
diện hơn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Lí luận và thực tiễn cách nhau một khoảng rất lớn. Chúng ta thấy rõ điều đó
ở phần lớn các giờ giảng môn Ngữ văn trong nhà trường THPT và THCS, giáo
viên và học sinh chưa đi phân tích sâu và tỉ mỉ THTM xuân trong thơ Nguyễn
Bính. Vì thế phân tích, giảng dạy các tác phẩm thơ của Nguyễn Bính giáo viên
hầu như chưa giúp học sinh cảm nhận và thấy được tác dụng, ý nghĩa, cái hay,
cái đẹp của THTM xuân trong thơ ông.

4
Trong điều kiện có thể khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh
viên khi tìm hiểu THTM văn chương đặc biệt là THTM xuân trong thơ Nguyễn
Bính.

giác quan con người) và mặt được biểu đạt (nội dung, ý nghĩa mà con người tiếp
nhận TH lĩnh hội thông qua mặt biểu đạt).
Phải nằm ngay trong một hệ thống TH nhất định để xác định tư cách TH
của mình cùng với các tín hiệu khác.
Ngôn ngữ có lịch sử phát triển lâu đời và được quan tâm nghiên cứu. Xét
trong bình diện TH học trong nghiên cứu ngôn ngữ người ta cũng cho rằng ngôn
ngữ là một hệ thống THNN, mang bản chất TH.
Theo GS. Bùi Minh Toán, ngôn ngữ: “là tiếng nói của con người (có thể
ở dạng nói hay dạng viết) dùng để con người tư duy, giao tiếp và sáng tạo nghệ
thuật”. [30, 12]
Như vậy, ngôn ngữ đảm nhiệm nhiều chức năng trọng đại trong đời sống
con người và xã hội loài người, trong đó có hai chức năng cơ bản nhất là: chức
năng tư duy và chức năng giao tiếp. Để thực hiện điều đó, ngôn ngữ đã được tổ
chức theo những nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc TH và nguyên tắc hệ thống,
nói cách khác ngôn ngữ là một hệ thống TH. THNN là chất liệu để tạo nên

6
THTM trong văn chương. Để làm được điều đó cần có quá trình chuyển hóa
nhờ sự sáng tạo của nghệ sĩ và sự lĩnh hội, cảm thụ của độc giả.
Trong cuốn Ngôn ngữ với văn chương GS. Bùi Minh Toán bàn về TH
ngôn ngữ như sau: “THNN nói riêng và TH nói chung đều là những dạng vật
chất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội
được một nội dung ý nghĩa cần thiết về hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, hành động
hay cảm xúc”. [30, 125]
Trong số rất nhiều các TH mà con người sử dụng hiện nay, THNN có lịch
sử lâu đời và phổ biến rộng khắp nhất. Từ khi ra đời cho đến nay, ở mọi lúc, mọi
nơi, mọi lĩnh vực của đời sống, con người đều dung đến THNN. Có thể nói ngôn
ngữ là hệ thống TH đặc biệt, là hệ thống TH phổ biến nhất, lâu đời nhất và quan
trọng nhất đối với cuộc sống con người.
THNN có các tính chất cơ bản sau:

là mối quan hệ võ đoán, tức là không có lí do. Song, trong THNN có một số
trường hợp mức độ võ đoán thấp, nghĩa là tính có lí do. F. De. Saussure trong
Giáo trình ngôn ngữ học đại cương NXB KHXH, H, 1973, ông đã nêu ra các
trường hợp tính có lí do:
Thứ nhất: có lí do về âm thanh (từ tượng thanh), tức là hình thức âm thanh
của chúng là do mô phỏng âm thanh tự nhiên: rào rào, róc rách, gâu gâu, tắc
kè…
Thứ hai: có lí do về nghĩa (chuyển nghĩa), tức là giữa nghĩa chuyển ở từ
đa nghĩa với nghĩa gốc và với âm thanh của từ đã có mối quan hệ có lí do: giống
nhau ở một hay một số nét nghĩa nào đó. Ví dụ như từ đơn đầu (nghĩa gốc: bộ
phận trên cùng của người hay bộ phận trước hết của con vật, có chứa bộ não,
điều khiển cơ thể) so sánh nghĩa của nó với các tổ hợp: đầu bàn, đầu bút, đầu
cành… (phần trước tiên của đồ vật); đầu núi, đầu sông, đầu làng… (phần trước
tiên của không gian)… Chúng ta thấy nghĩa của đầu trong các cách dùng sau có
tính kí do: đều chỉ phần dưới trước hết hay trên cùng của một sự vật nào đó.
Như vậy, tính võ đoán của THNN không mang tính tuyệt đối.
* Tính chất đa trị
Ở nhiều loại TH mang tính đơn trị, tức là mỗi hình thức TH thường chỉ
biểu thị một nội dung. Chẳng hạn, TH đèn giao thông: màu xanh chỉ ứng với
nghĩa được đi, màu đỏ biểu đạt nghĩa dừng lại, màu vàng chỉ nghĩa chuẩn bị.
Còn THNN có tính đa trị, nghĩa là có thể có các trường hợp:
- Một THNN biểu thị nhiều nội dung khác nhau, như trường hợp các từ
nhiều nghĩa, đồng âm. Ví dụ, cùng hình thức âm thanh đánh, theo Từ điển tiếng
Việt có 27 nghĩa.
- Nhiều THNN biểu thị một nội dung, như trường hợp các từ đồng nghĩa.

8
- Nội dung của mỗi THNN, ngoài phần hiện thực khách quan còn có thể
gợi ra những tình cảm, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá… đối với các sự vật,
hiện tượng (nghĩa biểu cảm).

hiện những chức năng khác nhau, và quan hệ với nhau rất phức tạp. Vì vậy
ngôn ngữ không đơn giản là tập hợp cơ học các đơn vị độc lập với nhau mà là

9
một hệ thống có tổ chức, tương tác với nhau, hỗ trợ nhau một cách chặt chẽ và
có hiệu quả.
Các mối quan hệ thường được nhắc đến trong hệ thống ngôn ngữ là: quan
hệ cấp độ, quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ dọc (đối vị liên tưởng), quan
hệ ngang (tuyến tính, ngữ đoạn). Các quan hệ này, một mặt, có tác dụng khu biệt
giá trị của từng yếu tố trong hệ thống, mặt khác quy định chức năng chung của
toàn bộ hệ thống. Sự khu biệt các yếu tố trong hệ thống dựa trên quan hệ đồng
nhất và đối lập giữa các TH trên trục liên tưởng của ngôn ngữ. Chẳng hạn, xét
một dãy đồng nghĩa: ăn, tọng, đớp, hốc… đều mang nghĩa chung (là hành động
đưa thức ăn vào miệng), nhưng mặt đối lập của các đơn vị từ vựng chính là màu
sắc tu từ của từng đơn vị. Như vậy giá trị của một THNN tự nhiên được xác định
bởi mối quan hệ trong nội bộ hệ thống.
Từ đó có thể khẳng định, bản chất hệ thống của THNN đảm bảo cho ngôn
ngữ thực hiện những chức năng trọng đại trong tư duy và giao tiếp của con
người trong cộng đồng ngôn ngữ.
Ngoài các tính chất trên, ngôn ngữ nói chung và THNN nói riêng còn
mang tính biểu cảm, dân tộc.
1.1.1.2. Tín hiệu thẩm mĩ
Mỗi loại hình nghệ thuật luôn có một chất liệu riêng để biểu hiện tư
tưởng, cảm xúc thẩm mĩ của tác giả. Các nhà nghiên cứu gọi chung những chất
liệu ấy bằng khái niệm: tín hiệu thẩm mĩ (THTM). Như vậy, khái niệm này có
thể hiểu theo hai cách:
Thứ nhất (nghĩa rộng): THTM là chất liệu để xây dựng nên hình tượng
nghệ thuật của tất cả các ngành nghệ thuật nói chung. Chẳng hạn, TH của hội
họa là đường nét, màu sắc, bố cục; của âm nhạc là âm thanh, tiết tấu; của điện
ảnh là hình ảnh; của sân khấu là hành động. Trong văn học người nghệ sĩ dùng

âm và ý nghĩa sự vật – logic của ngôn ngữ tự nhiên. Cái được biểu đạt là lớp ý
nghĩa hình tượng. Đây chính là trường hợp mà hệ thống thứ nhất sẽ được dùng
làm bình diện thể hiện hoặc làm cái biểu đạt cho hệ thống thứ hai”. [11, 10]
Như vậy, THTM là một TH phức hợp. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cái
biểu đạt và cái được biểu đạt của THTM không phải là mối quan hệ võ đoán mà
mang tính có lí do. Có thể miêu tả bản chất TH học của THTM như sau:
Âm thanh
Cái biểu đạt: Tín hiệu ngôn ngữ
Ý nghĩa sự vật, lô gic
THTM
Cái được biểu đạt: Ý nghĩa thẩm mĩ
Như vậy, giá trị của một THTM chủ yếu được quy định bởi những mối
quan hệ bên ngoài ngôn ngữ. Sự thực hiện chức năng của THTM của các mối

11
quan hệ ngữ đoạn, quan hệ tuyến tính trong văn bản ngôn từ và các nhân tố này.
Tuy nhiên, khác với ngôn ngữ tự nhiên, những mối quan hệ này là quan hệ mang
tính hàm ẩn, không biểu hiện một cách trực tiếp, tường minh.
1.1.2. Phương thức cấu tạo của tín hiệu thẩm mĩ trong văn bản nghệ thuật
THTM hình thành từ hai cơ sở: Ý nghĩa và giá trị thực thể của các thực
thể văn hóa và ý nghĩa bản thể trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên. Sự tổ chức lại
các TH tự nhiên thành các THTM để nâng cấp hoạt động nhận thức và biểu hiện
thế giới trong thế giới tinh thần của con người là một bước tiến quan trọng nhất
trong tư duy con người, biểu hiện sự kết hợp giữa tư duy lí tính và tư duy biểu
tượng: “Con người không chỉ phản ứng một cách trực tiếp và thô sơ trong phạm
vi những nhu cầu thực dụng, trái lại, những mối liên hệ đầy ý nghĩa của các sự
vật, đối tượng luôn bao bọc thế giới của con người. Nói cách khác, phản ứng
của một con người, trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào ý nghĩa biểu
trưng của sự vật, hơn thế con người còn khác xa với loài vật ở chỗ không chỉ
nhận biết ý nghĩa mối liên hệ của các sự vật riêng biệt mà luôn cố gắng sáng

(Mẹ Tơm – Tố Hữu)
Tim là một THTM được xây dựng theo phương thức hoán dụ để chỉ
những người mẹ như mẹ Tơm giàu tình thương yêu các chiến sĩ cách mạng, giàu
lòng yêu nước.
Tóm lại, ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chủ yếu để xây dựng
THTM từ các TH ngôn ngữ. Nhưng để có được giá trị và hiệu quả thẩm mĩ cao
thì bên cạnh việc thực hiện hai phương thức trên còn phải phối hợp với một số
biện pháp nghệ thuật khác như: các biện pháp về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
1.1.3. Chức năng của tín hiệu thẩm mĩ
1.1.3.1. Chức năng biểu hiện
Những kết quả nghiên cứu văn học từ góc độ TH học như: R. Jakovson,
R. Barthes, Y. Lotman… có thể cung cấp cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn
về cái gọi là chức năng phản ánh của TH. Trong tác phẩm nghệ thuật, sự phản
ánh bản chất của đối tượng luôn đi liền với vai trò xây dựng hình tượng nghệ
thuật. Vì vậy, khái niệm chức năng biểu hiện bộc lộ rõ hơn mối quan hệ mật
thiết giữa: tác giả - đối tượng - TH- hình tượng nghệ thuật.
Trong phạm vi tác phẩm văn học, chức năng biểu hiện đối tượng và xây
dựng hình tượng của THTM phải luôn luôn là một sự tương tác của các kiểu
quan hệ, các cấu trúc. Do đó, THTM luôn được tổ chức theo các cấp độ mà ở cơ
sở là từ ngữ rồi đến các quan hệ cú đoạn và văn bản. Bên cạnh đó, đối tượng văn
học mà tác phẩm văn học biểu hiện không phải là một đối tượng mang tính
khách quan mà luôn là một đối tượng đã được chủ quan hóa, tinh thần hóa ở các
mức độ khác nhau. Cho nên, cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện
không phải là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái của đời sống mà là toàn bộ thế
giới cảm xúc và tri nhận về đời sống ấy, đặc điểm ấy của một chủ thể nhất định.

13
Chẳng hạn: trong truyện ngắn của Nam Cao, giá trị biểu hiện là cảm quan hiện
thực của chính tác giả trước toàn bộ những hình ảnh đời sống đói khổ của người
nông dân Việt Nam trước Cách mạng với nạn đói năm 1945 và trình bày cảm

nhất định về mặt liên tưởng giúp cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm. Phải
bắt nguồn từ ca dao thì những câu thơ sau của Nguyễn Du mới có sức lay động
lòng người đến như vậy: Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi

14
dặm trường. Nếu theo truyền thống thì ca dao chỉ diễn tả được quy luật như một
lẽ thường, đó là cảnh chia lìa xuôi ngược. Song Nguyễn Du đã cách tân ở chỗ
dùng lẽ thường ở đời đó mà khơi sâu được bi kịch tình yêu hết sức nghiệt ngã
giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, khi hai người chia tay nhau để chàng Thúc về quê
thưa chuyện với Hoạn Thư mong được lấy nàng Kiều làm vợ lẽ. Đây cũng chính
là cuộc chia tay chưa biết ngày gặp lại, chưa biết sự thể sẽ thế nào nên nó thấm
đẫm màu sắc tâm trạng. Những yếu tố truyền thống mang tính cố định, ổn dịnh
như điển cố, những ước lệ, tượng trưng khi được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ
có sức khơi gợi thẩm mĩ rất lớn. Cái mới trong cách sử dụng THTM có thể được
thể hiện ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là sự
cách tân các THTM, ở việc đổi mới các THTM có sẵn trong truyền thống, mang
lại cho chúng những YNTM mới. Điều này chỉ có được thông qua sự sáng tạo
của người nghệ sĩ.
1.1.4.2. Tính biểu trưng
Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái
biểu hiện và cái được biểu hiện. Đây là mối quan hệ có lí do, liên quan đến năng
lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa
vào làm THTM trong tác phẩm Tiếng Việt. Theo Nguyễn Thái Hòa: “Tính biểu
trưng là khả năng gợi ra một đối tượng khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu
hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận”. [12, 103]
Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ thể, cái biểu hiện nó là một đối
tượng nào đó được quy chiếu từ hiện thực. Mặt khác, đó là ý nghĩa xã hội nào đó
được cả cộng đồng chấp nhận. Tính chất ước lệ chung cho cái biểu hiện này
chính là tính có lí do trong THTM nói chung. Đặc tính này còn cho thấy lối tư
duy, quan niệm xã hội… gắn với một cộng đồng nào đó, từ đó hình thành ý

(Theo Từ điển tiếng Việt, Sđd, tr. 619)
1.1.5.2. Biến thể kết hợp
BTKH là tất cả những từ ngữ cùng thuộc một trường nghĩa với hằng thể và
có thể kết hợp theo trục ngang với từ ngữ - hằng thể. Về mặt từ loại, BTKH có
thể là danh từ, động từ, tính từ, hoặc các cụm danh, cụm động, cụm tính… Về
mặt ý nghĩa, các BTKH của một hằng thể tuy cùng trường nghĩa với hằng thể,
nhưng có những ý nghĩa cụ thể đa dạng.
Ví dụ, đối với THTM mắt, BTKH có thể là những từ ngữ biểu hiện:
- Hình dáng của mắt: mắt lá răm, mắt bồ câu, mắt ốc nhồi, mắt
phượng, mắt lươn, mắt dài, mắt tròn, mắt ti hí…
Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
(Ca dao)
- Màu sắc của mắt: mắt xanh, mắt huyền, mắt đen, mắt nâu…

16
Người khôn con mắt đen sì,
Người dại con mắt nửa chì nửa thau.
(Ca dao)
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ)
Cũng vào du kích.
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi).
(Giang Nam)
- Trạng thái của mắt: mắt tinh, mắt lòa, mắt sáng, mắt mù, mắt đui, mắt
kèm nhèm…
Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
(Nguyễn Đình Chiểu)
1.2. Những nhân tố của ngữ cảnh tác động đến tín hiệu thẩm mĩ xuân trong

thần đồng thơ, ông từng tham gia nhiều cuộc thi thơ và giành giải nhất trong
cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng. Mảnh đất quê hương cùng với
truyền thống gia đình thực sự là nơi đã hun đúc, nuôi dưỡng thành công một
nhân tài thơ cho đất nước đó là Nguyễn Bính.
Trong Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược, Nguyễn Bính hoạt động ở Nam Bộ, nhà thơ tham gia mọi hoạt động
công tác và được giao những trách nhiệm trọng yếu. Tại Rạch Giá, Ông lập hội
“Văn hóa cứu quốc” và làm Phó Chủ Tịch “Tổng bộ Việt Minh”. Về sau ông
chuyển lên công tác ở Ban văn nghệ khu 8 tại Đồng Tháp Mười.
Tháng 11 – 1954 theo quy định của Hiệp định Giơnevơ tạm thời chia đôi
đất nước trong hai năm, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc và tiếp tục công tác tại “Hội
nhà văn Việt Nam”. Năm 1956, ông làm chủ tịch báo “Trăm hoa”, báo ra được
mấy số thì đình bản vì không có tiền tự túc để mua giấy in báo… Tới năm 1958,
Nguyễn Bính quay về Nam Định làm việc ở Ty văn hóa Thông tin Nam Định
dưới sự kèm cặp của nhà văn Chu Tấn và quan chức địa phương. Cách mạng
tháng Tám thành công, mặt trận Việt Minh giới thiệu, ông trúng cử đại biểu
Quốc hội khóa I ở tỉnh Nam Định.
Đến đầu năm 1964, Nguyễn Bính về làm việc ở Ty văn hóa Nam Hà cũ,
những năm tháng ngược xuôi trong Nam ngoài Bắc nhà thơ đã cống hiến và
đóng góp không ít cho sự trưởng thành của nền văn học hiện đại còn non trẻ.
Những thành công trên con đường sự nghiệp và cả những thăng trầm trong
những đoạn đường ấy đã khẳng định tài năng của Nguyễn Bính trong lĩnh vực
văn học nghệ thuật.
Nguyễn Bính mất khi mới tròn 48 tuổi – cái tuổi sung mãn nhất của đời
người, đời thơ. Đó là chiều 30 Tết năm 1966, khi ông đang dạo chơi trong nhà
một người bạn ở Lý Nhân – Hà Nam. Cái chết của ông để lại nhiều đau xót, tiếc

18
thương cho người thân và hơn hết là những bạn văn, bạn thơ của ông, công
chúng độc giả sẽ không còn có cơ hội đọc tiếp những dòng thơ ông viết nhưng

mình trong không gian làng quê, hấp thụ những giá trị văn hóa dân gian, dân tộc
nơi thôn dã. Tình cảm gắn bó mặn nồng với quê nghèo mà Nguyễn Bính thể
hiện cụ thể, rõ nét nhất ở mảng đề tài mùa xuân đã tạo nên những rung cảm chân
thành trong thơ ông, làm xao xuyến tâm hồn bao độc giả. Có thể nói rằng, mùa

19
xuân như một định mệnh đầy duyên nợ, nó luôn luôn gắn với hồn thơ Nguyễn
Bính và cũng chính tại bởi sinh ra vào những ngày đầu xuân đẹp đẽ nên mùa
xuân của ông mang phong vị rất riêng, không ai có thể bắt chước được. Nguyễn
Bính đã có công phát hiện vẻ đẹp thuần hậu, nhẹ nhàng mà tinh tế khó quên của
mùa xuân nơi làng quê, mùa xuân đến thì ai cũng biết, nhưng cảm nhận được
từng hơi thở của xuân đất Bắc thì không phải ai cũng có tài năng ấy.
Tiểu kết
THTM là những TH được sử dụng để thực hiện chức năng thẩm mĩ là xây
dựng hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật. Vì vậy có thể coi THTM là phương
tiện quan trọng nhất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung và văn học nói
riêng. THTM được xây dựng trên cơ sở THNN tự nhiên, lấy ngôn ngữ tự nhiên
làm chất liệu biểu hiện. Giá trị của một THTM chủ yếu được quy định bởi
những mối quan hệ bên ngoài ngôn ngữ. Sự thực hiện chức năng của THTM là
sự thống nhất của mối quan hệ ngữ đoạn, quan hệ tuyến tính trong văn bản ngôn
từ và các nhân tố này. Hai phương thức cấu tạo cơ bản của THTM trong tác văn
bản nghệ thuật chính là ẩn dụ và hoán dụ, nhưng để có được giá trị và hiệu quả
thẩm mĩ cao thì bên cạnh việc thực hiện hai phương thức này còn phải phối hợp
với các biện pháp nghệ thuật khác. THTM có hai chức năng chủ yếu là chức
năng biểu hiện và chức năng tác động. THTM trong ngôn ngữ văn học có điểm
tương đồng nhưng cũng có điểm khác biệt so với THNN thông thường. Ngoài
những đặc trưng giống với THNN như: tính hình tuyến, tính võ đoán, tính hàm
súc, tính cá thể, tính hệ thống… thì THTM còn có các đặc trưng tiêu biểu khác,
đó là: tính truyền thống và tính cách tân, tính biểu trưng. THTM tồn tại ở hai
dạng là hằng thể và biến thể. Biến thể là dạng biểu hiện tuy khác biệt về hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status