Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ “mùa xuân” và “trái tim” trong thơ Xuân Diệu - Pdf 83

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐỖ NGỌC THƯ

KHẢO SÁT CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ
“MÙA XUÂN” VÀ “TRÁI TIM ” TRONG THƠ XUÂN DIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ

THÁI NGUYÊN- 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ NGỌC THƯ

KHẢO SÁT CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ
“MÙA XUÂN” VÀ “TRÁI TIM ” TRONG THƠ XUÂN DIỆU CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ

BTTV: Biến thể từ vựng
BTQH: Biến thể quan hệ
BTKH:Biến thể kết hợp
YNTM: Ý nghĩa thẩm mĩ
CÁC KÍ HIỆU CỦA CÁC TẬP THƠ
Thơ thơ: T1
Gửi hƣơng cho gió:T2
Ngọn quốc kì:T3
Riêng chung: T4
Mũi Cà Mau: T5
Cầm tay: T6
Một khối hồng: T7
Hai đợt sóng: T8
Tôi giàu đôi mắt: T9
Hồn tôi đôi cánh: T10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
I.Lý do chọn đề tài................................................................................................1
II.Lịch sử vấn đề....................................................................................................2
III.Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu...................................................................3
IV.Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................4
V.Phƣơng pháp nghiên cứu...................................................................................4
VI. Những dự kiến đóng góp.................................................................................5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ TÍN HIỆU THẨM MĨ
1.1.Khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ........................................................................6
1.1.1. Mối quan hệ của bộ ba: Tín hiệu-Tín hiệu ngôn ngữ- Tín hiệu thẩm Mĩ ...6
1.1.1.1.Tín hiệu......................................................................................................7

3.2.Kết quả khảo sát............................................................................................80
3.3. THTM hằng thể “Tim/Trái tim”..................................................................80
3.4.Biến thể của tín hiệu hằng thể “Trái tim”.....................................................81
3.4.1.Biến thể từ vựng của THHT “Trái tim”.....................................................82
3.4.2. Biến thể kết hợp của tín hiệu hằng thể “Trái tim”....................................85
3.4.2.1. Ý nghĩa thẩm mĩ “tình yêu" của BTKH “trái tim”.................................86
3.4.2.2.Ý nghĩa thẩm mĩ “trái tim công dân”của BTKH“Trái tim”....................89
3.4.3. Biến thể quan hệ của các tín hiệu thẩm mĩ chỉ trái tim.............................98
3.4.3.1.Những THBTQH là những động từ hoặc cụm động từ...........................99
3.4.3.2. Những tín hiệu biến thể quan hệ là những tính từ hoặc cụm tính
từ.....102
3.4.3.3.THBTQH là danh từ chỉ thời gian,không gian của THTM Trái tim trong
thơ Xuân Diệu...................................................................................................104
3.5.Tiểu kết chƣơng 3.......................................................................................105
KẾT LUẬN…………………………………………………………..…...….109
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………….…………………………113
PHỤ LỤC………………………………………………...…………...………118

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Nói đến tín hiệu thẩm mỹ là nói đến vấn đề có liên quan đến nhiều chuyên
ngành, bởi vậy nó được xem xét dưới nhiều góc độ, đặc biệt là những tín hiệu ngôn
ngữ thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương. Một tín hiệu ngôn ngữ thông thường khi
đi vào thế giới thơ ca thì đã được chuyển hóa thành một tín hiệu nghệ thuật, tín
hiệu thẩm mĩ - ngôn ngữ hay còn gọi là tín hiệu văn chương. Tín hiệu văn chương
nói riêng và tín hiệu thẩm mĩ nói chung có thể được hiểu là tín hiệu thuộc hệ thống
các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật bao gồm toàn bộ những yếu tố
của hiện thực, tâm trạng, cảm xúc... Những yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn

Mạnh, Nguyễn Bùi Vợi, Alêchxây Vaxiliep, Mirây Găngxen, Blaga Đimitrôva...
Nhưng trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng này, hầu như còn ít có người
quan tâm tới tài năng của Xuân Diệu trong lĩnh vực ngôn ngữ. Ở đây chúng tôi
muốn bàn về “Mùa xuân- Trái tim” trong thơ tình Xuân Diệu dưới góc độ là những
tín hiệu thẩm mĩ nhằm góp phần khẳng định một cách tiếp cận mới các hình tượng
văn học từ góc độ lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ để góp thêm tiếng nói ca ngợi tài
năng xuất chúng của nhà thơ, đồng thời phục vụ cho việc giảng dạy các tác phẩm
văn học trong nhà trường hiện nay, và ở mức độ nhất định góp phần nâng cao năng
lực cảm thụ thẩm mĩ các thi phẩm của Xuân Diệu nói riêng, các tác phẩm thơ ca
nói chung.
II. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương có rất nhiều hướng đi,
song những năm gần đây, nhiều vấn đề của văn học đang được soi rọi dưới cái nhìn
của ngôn ngữ học hiện đại; trong đó vấn đề lí thuyết về tín hiệu tỏ ra rất có ưu thế.
Ở nước ta, vấn đề tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ đã được các tác giả như Hoàng Tuệ,
Hoàng Trinh, Đào Thản, Phan Ngọc, Đái Xuân Ninh... quan tâm nghiên cứu nhiều.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Nhiều luận án triển khai theo hướng nghiên cứu này cũng đã khẳng định được ý
nghĩa thực tiễn của hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ học; đồng thời
đã có những đóng góp bổ sung quan trọng vào lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ. Có thể
kể đến các luận án của tác giả Trương Thị Nhàn “ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ của
THTM- không gian trong ca dao”, Phạm Thị Kim Anh “Tín hiệu thuộc trường
nghĩa cây trong thơ Việt Nam”, Bùi Thị Hồng “Tìm hiểu vấn đề tín hiệu thẩm mĩ
trong thơ Huy Cận”, Lê Thị Tuyết Hạnh “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Xuân
Quỳnh” ... Nhiều luận văn và các bài viết khác cũng góp phần khẳng định thế mạnh
của hướng nghiên cứu này.
Các nhà nghiên cứu Xuân Diệu mới tập trung vào tìm hiểu các tác phẩm của
ông từ góc độ văn học. Những công trình nghiên cứu các tác phẩm của nhà thơ từ
góc độ ngôn ngữ học còn chưa nhiều. Riêng việc nghiên cứu thơ Xuân Diệu từ lí

thẩm mĩ này.
2. Phương pháp phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học tức phân tích nghĩa của
từ theo ngữ cảnh sử dụng: Phương pháp này được áp dụng khi khảo sát sự xuất
hiện của các từ ngữ chỉ “mùa xuân” và “trái tim” cùng với các từ ngữ khác xuất
hiện kèm theo ở những ngữ cảnh khác nhau trong thơ Xuân Diệu với tư cách là
những tín hiệu thẩm mĩ văn chương, phân tích ý nghĩa của các từ ngữ đó trong từng
hoàn cảnh sử dụng, đối tượng sử dụng.
3. Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống để tìm sự khác biệt ngữ nghĩa giữa
các từ đồng nghĩa: Các từ ngữ cùng chỉ về “mùa xuân” hoặc “trái tim” tuy là
đồng nghĩa nhưng ở mỗi ngữ cảnh sử dụng từ chúng lại có sự khác nhau về ý
nghĩa, về sắc thái biểu cảm - đánh giá và phạm vi sử dụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
VI. Những dự kiến đóng góp
Thực hiện đề tài “Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ “Mùa xuân” và “trái tim”
trong thơ Xuân Diệu”, chúng tôi mong muốn có được những đóng góp nhất định
đối với sự phát triển chuyên ngành Việt ngữ học trong lĩnh vực tín hiệu thẩm mĩ
văn chương vốn còn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta. Đồng thời luận văn
cũng mong muốn góp thêm cứ liệu làm rõ cơ chế hình thành - giải mã tín hiệu thẩm
mĩ văn chương gắn với cấu trúc tác phẩm, đặc trưng thể loại và phong cách tác giả.
Chúng tôi hi vọng rằng những kết quả đạt được của luận văn này sẽ có những bổ
sung đối với bộ môn phong cách học và giúp ích thiết thực cho việc giảng dạy tác
phẩm của Xuân Diệu trong nhà trường từ góc độ ngôn ngữ học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ TÍN HIỆU THẨM MỸ
Tín hiệu thẩm mĩ (THTM) có liên quan đến nhiều chuyên ngành, bởi vậy
nó phải được xem xét dưới nhiều góc độ, đặc biệt là những tín hiệu ngôn ngữ trong
tác phẩm văn học. Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn về tín hiệu thẩm mĩ

Chẳng hạn, một bầu trời đầy sao có khả năng gợi ra hình ảnh về một ngày hôm sau
sẽ nắng đẹp trong nhận thức của con người; một hồi kẻng được đánh lên để báo
hiệu khi có hội họp hoặc giờ ra chơi đã tới theo quy ước giữa những người nào đó;
một câu hỏi nhưng chính là một lời tỏ tình trong câu ca dao:
“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Vườn hồng đã có lối vào hay chưa?”
Và câu trả lời nhưng cũng có thể là “ bật đèn xanh” cho lời tỏ tình đó:
“Chàng hỏi thì thiếp xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
Các nhà nghiên cứu về lí thuyết thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin
(thông tin), còn các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa..
Kế thừa thành quả của những người đi trước, Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra những
đặc tính như là dấu hiệu nhận biết của một tín hiệu, gồm các nhân tố sau:
- Nó phải có một hình thức cảm tính: tức là TH phải cho phép con người cảm
nhận được bằng giác quan;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
- Nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó (phải mang
một nội dung ý nghĩa), " một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa cái biểu đạt
và cái được biểu đạt(ý nghĩa)”;
- TH phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó;
- TH phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định.
Các nhà nghiên cứu Tín hiệu học đã phân các tín hiệu thành những phạm trù
(hay loại) khác nhau. Ch.S.Pierce phân chia tín hiệu thành ba loại chính: Hình hiệu
(icones), dấu hiệu hay dấu vết (indexes) và biểu trưng (symboles). Ch. W. Morris
dựa vào mối quan hệ giữa tín hiệu với các loại sự vật mà chúng biểu thị để chia tín
hiệu thành hai loại:các chỉ hiệu (single indexes) và định hiệu (singnes
caracterisant). Tiếp theo ông lại phân chia các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu
trưng (symbole).
P.Guiraud lại dựa trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con

Thứ hai là chiều nghĩa học;
Thứ ba là chiều dụng học.
Nhưng Ch. W. Morris còn cho rằng có thể tách ra trong quá trình tín hiệu
hóa ba cặp nhị diện cũng là ba cặp quan hệ nhị diện như sau:
* Chiều kết học: là chiều của quan hệ hình thức giữa các tín hiệu với nhau.
* Chiều quan hệ giữa tín hiệu và sự vật: đó là chiều nghĩa học của tín hiệu
học.
* Chiều quan hệ giữa tín hiệu và người lí giải: đây là chiều dụng học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Như vậy, TH ngôn ngữ sẽ nằm trong loại TH nhân tạo, thuộc loại TH âm
thanh, là TH giao tiếp. Vậy TH ngôn ngữ là gì?
1.1.1.2. Tín hiệu ngôn ngữ
Trên cơ sở lí thuyết Tín hiệu học, mỗi TH gồm có hai mặt là cái biểu hiện
(cbh) ( tức hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu hiện(cđbh)( tức nội dung ý
nghĩa), F. de Saussure xác định tín hiệu ngôn ngữ như sau: “Tín hiệu ngôn ngữ kết
liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một
hình ảnh âm thanh," hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này là
có cái kia.Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu hiện(cđbh) và hình ảnh âm
thanh được gọi là cái biểu hiện(cbh). [31; 84 ]
Dựa trên tính nhị diện của tín hiệu ngôn ngữ, F. de Saussure cũng nói tới hai
loại tín hiệu ngôn ngữ : Tín hiệu võ đoán và tín hiệu có lí do tương đối.
Theo quan niệm của Ch.S. Pierce qua cách phân loại đã nêu ở trên, đại đa
số tín hiệu ngôn ngữ thuộc loại ước hiệu, loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái
biểu đạt và cái được biểu đạt là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên
do. Loại tín hiệu này sẽ mất tư cách là tín hiệu nếu không có cái lí giải.
Theo Ch.W. Morris, tất cả các tín hiệu đều nằm trong quan hệ với các tín
hiệu khác và quy định lẫn nhau. Do đó các tín hiệu luôn nằm trong một hệ thống
nhất định. Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt nên nó cũng lập thành một hệ
thống. Chính F. de Saussure cũng đã khẳng định điều này và cho rằng giá trị của

(Chí Phèo-Nam Cao)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Chúng ta có thể nhận ra các nhân vật làm nghề dệt vải hoặc buôn bán vải
vóc.
Ở bất kì cấp độ nào, mỗi TH ngôn ngữ cũng đều phải bao hàm một hình thức
ngữ âm(cbh) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cđbh), và giá trị của TH ngôn
ngữ cũng do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định. Vậy những
mối quan hệ hệ thống của TH ngôn ngữ là những quan hệ nào?
F.de Saussure đã nêu hai loại quan hệ chung nhất. Đó là :
1) Quan hệ đồng nhất - đối lập và quan hệ khác biệt;
2) Quan hệ hình tuyến và quan hệ trực tuyến {Saussure F.D: 1973 “Giáo
trình ngôn ngữ học đại cương].
Trong ngôn ngữ học hiện đại, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến các loại
quan hệ khác như: quan hệ tôn ti (giữa các cấp độ của ngôn ngữ) và quan hệ hiện
thực hoá ( giữa bình diện trừu tượng và bình diện cụ thể, giữa điển dạng và hiện
dạng)
Chính các nguyên tắc đồng nhất và đối lập, kết hợp (hay tuyến tính) và liên
tưởng(hay trực tuyến), điển dạng ( hay hằng thể) và hiện dạng (hay biến thể) trong
hệ thống ngôn ngữ sẽ là những cơ sở lí thuyết quan trọng giúp chúng ta lí giải về
các TH ngôn ngữ trong quá trình hoạt động thực hiện các chức năng của ngôn ngữ
trong giao tiếp, trong đó có giao tiếp nghệ thuật (giao tiếp của văn học) có liên
quan đến những nhiệm vụ mà đề tài luận văn này cần giải quyết.
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ đã được Đỗ
Hữu Châu đặt trong chức năng xã hội của ngôn ngữ. Sự hiện thực hóa chức năng
xã hội của ngôn ngữ được biểu hiện trong hoạt động của toàn bộ hệ thống; qua
những mối quan hệ ngang ( tuyến tính, ngữ đoạn , tiếp đoạn cú đoạn:khả năng kết
hợp của các yếu tố ngôn ngữ với nhau để tạo thành một đơn vị cao hơn ) và mối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13

động chức năng quan trọng của kí hiệu là phải có một cách hiểu thường xuyên
được nhiều người biết đến Theo Hoàng Trinh, đó có thể là một bức hoạ, một vở
múa, một hình ảnh ẩn dụ, một figure ( hình thể từ ngữ ) là ẩn dụ, hoán dụ trong văn
học mang đặc tính của biểu trưng với cái biểu trưng và cái được biểu trưng của nó.
Các nhà phong cách học có thể giới hạn khái niệm THTM trong phạm vi hẹp hơn là
những tín hiệu nghệ thuật chìa khoá có giá trị tổ chức để biểu hiện tư tưởng tình
cảm của bài văn (Đái Xuân Ninh, dẫn theo Nhàn,số 93), hay những “ thần cú”,
những “nhãn tự”, những TH ngôn ngữ mang phẩm chất thẩm mĩ: những đối thoại
có tính thẩm mĩ trong văn học {48}v.v
Khi vào thế giới nghệ thuật, các TH thông thường sẽ chuyển hoá thành
THTM, mang những nét đặc thù của nghệ thuật. Có thể hiểu một cách chung nhất ,
THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Nói đến
phương tiện nghệ thuật là nói đến hai mặt thể chất và tinh thần. Mặt thể chất chính
là những hình thức vật chất được sử dụng trong mỗi ngành nghệ thuật ( như: đường
nét, màu sắc trong hội họa, hình khối trong kiến trúc, âm thanh, tiết tấu trong âm
nhạc, ngôn ngữ trong văn học). Mặt tinh thần bao gồm nhiều loại nội dung ý nghĩ ,
nhiều tầng khái quát hoá, trừu tượng hoá có tính thẩm mĩ [8, 755]. Philipiep cũng
khẳng định rằng từ một hình thức vật chất cụ thể thì mặt tinh thần, mặt nội dung ý
nghĩa có thể đồ sộ hơn rất nhiều so với ý nghĩa của bản thân thực tế, cuộc sống
(Dẫn theo [30,18])
Ở đây có sự phân biệt khá rạch ròi giữa phương tiện và chất liệu khi ta nhìn
nhận tín hiệu trong chức năng của chúng. Nếu như trong các loại hình nghệ thuật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
khác, chất liệu có thể được cảm nhận một cách trực tiếp bằng các giác quan, thì đối
với văn học chất liệu là ngôn ngữ. Không thể xác định tín hiệu thẩm mỹ chỉ dựa
trên chất liệu cũng như trong văn học, không thể đồng nhất tín hiệu ngôn ngữ thông
thường được dùng làm chất liệu trong tác phẩm văn học với phương tiện của nghệ
thuật là tín hiệu thẩm mỹ . Chính vì vậy, Lotman đã viết: “Văn học nói bằng một
thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên

cbh:âm thanh ngôn ngữ
cbh:tín hiệu ngôn ngữ---------------------------------------
Cđbh:ý nghĩa ngôn ngữ
THTM : -------------------------------------------------------
Cđbh: ý nghĩa thẩm mỹ
(Dẫn theo Luận án PTS của Nhàn, tr.28)
Từ sơ đồ này, có thể thấy rằng cả cái hợp thể CBH và CĐBH tạo thành TH
ngôn ngữ đã trở thành CBH cho một CĐBH mới là ý nghĩa thẩm mĩ của THTM
trong tác phẩm văn học. Chính vì thế, trong văn học không được đồng nhất phương
tiện văn học THTM với TH ngôn ngữ thông thường được sử dụng làm chất liệu
của tác phẩm văn học. Chính sự khác biệt có tính vượt cấp này là do vai trò quyết
định của chủ thể sáng tạo. Điều đó khiến cho, nói theo Ch. bally, giữa cách dùng
ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không vượt qua
được [22, 9].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Điều đáng lưu ý ở đây là nếu mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được
biểu hiện trong ngôn ngữ tự nhiên có thể là võ đoán thì mối quan hệ giữa cái biểu
hiện và cái được biểu hiện trong tín hiệu thẩm mỹ lại là luôn có lí do và là lí do liên
hội. Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên muốn trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm
nghệ thuật thì phải trải qua một quá trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu
trưng để đạt đến ý nghĩa thẩm mĩ nhất định.
Trong Luận văn này, để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi chấp nhận cách
hiểu về THTM như sau: “THTM là TH thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện
của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm
trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, những cảm xúc thuộc đời sống hiện
thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ
với văn chương; các yếu tố của chất liệu mầu sắc với hội họa; âm thanh có nhịp
điệu với âm nhạc) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục
đích thẩm mỹ [ 1, 23], [30, 26] .

trong tương quan giữa các hệ thống hoạt động của THTM. Tham gia vào một hệ
thống, tức là tham gia vào một kết cấu, một mạng quan hệ không giống với trong
các hệ thống khác THTM có thể đồng nghĩa trong những hình thức kết cấu khác
nhau của các hệ thống.
Chẳng hạn, các THTM được thể hiện qua một loạt những câu ca dao sau đều
có ý nghĩa chung nói về thân phận thụ động, không tự quyết định được số phận của
người phụ nữ: Thân em như hạt mưa sa.../ Thân em như hạt mưa rào.... / Thân em
như tấm lụa đào…/ Em như giếng nước giữa đàng... Chúng đều nói về thân phận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
của người phụ nữ trong xã hội xưa: bị phụ thuộc vào kẻ khác, bất lực và không tự
định đoạt được số phận của mình.
Giữa chất liệu hiện thực và tín hiệu thẩm mĩ cũng có quan hệ đẳng cấu. Hãy
xét ví dụ: nước, non trong bài Thề non nước của Tản Đà: Hiện tượng tự nhiên
“ non ” với đặc tính cố định, ở trên cao, thích hợp để có thể biểu trưng cho người
con gái đợi chờ, ngóng trông; đó là cơ sở để nhà thơ xây dựng hình tượng “ non ”
trong bài thơ. Còn “ nước ” là thứ chất lỏng có đặc tính trôi chảy, lưu động, giống
như người con trai “lãng du” nay đây mai đó nên thích hợp đối với việc xây dựng
hình tượng “non” trong bài thơ. “ non, nƣớc ” cũng là những tín hiệu mang tính
biểu trưng để nói về tình yêu quê hương, đất nước. Người ta thường tìm ra các lớp
nghĩa khác nhau trong tác phẩm dựa trên tính đẳng cấu này. Những hình ảnh tượng
trưng, ước lệ cũng phần nào được lí giải trên cơ sở tính đẳng cấu giữa chất liệu hiện
thực và tín hiệu thẩm mĩ
Như các ví dụ đã dẫn trên đây cho thấy, các tín hiệu thẩm mĩ thường đi với
nhau thành từng cặp, bởi vậy cũng có sự đẳng cấu giữa các cặp tín hiệu thẩm mĩ
với nhau.Tuy nhiên giữa các cặp tín hiệu thẩm mĩ có khi diễn ra sự đổi chiều; khi
đó ý nghĩa thẩm mĩ cũng có sự thay đổi tương thích(sự thay đổi nghĩa của chính
từng tín hiệu thẩm mĩ và của cặp tín hiệu thẩm mĩ ) , như hình ảnh tấm lụa đào
trong kết hợp sau:
Thân em như tấm lụa đào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status