Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Gần đây, khái niệm THTM, một phương diện của vấn đề tín hiệu học
trong ngôn ngữ học đang rất được quan tâm. Nhiều học giả trong và ngoài nước
đã nghiên cứu đến nú. Đó cú một số đề tài nghiên cứu sinh vận dụng khái niệm
THTM vào nghiên cứu văn học. Song đây là bước đầu, việc vận dụng này mới
chỉ trong ca dao và ngay cả ở ca dao, cũng chỉ có một số THTM được nghiên
cứu. Do đó, vấn đề vận dụng lí thuyết về THTM vẫn còn rất mới mẻ, cần được
triển khai mở rộng trong lĩnh vực của văn học hơn nữa.
2. Đề tài của tôi tiếp tục đi theo hướng đó nhưng có nột khác là: nghiên cứu
THTM “Trái tim” trong thơ R.Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dâng”(bản dịch
của Đỗ Khánh Hoan, Nxb Văn học, 2004) - một trong những tập thơ tình được
đánh giá là hay nhất của nhà thơ Ấn Độ này. THTM “ Trái tim” sẽ là chiếc chìa
khoỏ giúp ta giải mã những quan niệm, những triết lý của Tagore về tình yêu.
3. Việc trang bị những tri thức và phương pháp nghiờn cứu về THTM đối
với người giáo viên rất cần thiết, nhất là trong tình hình phải đổi mới phương
pháp dạy học văn trong nhà trường hiện nay. Vì những lẽ đó chúng tôi mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “Tín hiệu thẩm mĩ “Trái tim” trong thơ trữ tình - tình yêu
Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dõng”.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
1. Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến những công trình nghiên cứu vận dụng khái
niệm THTM vào phân tích văn học. Đó là những luận án, luận văn: “Khảo sát cỏc
nột nghĩa biểu trưng của cá từ chỉ hiện tượng thiên nhiên - khí tượng Mưa - Nắng
- Gió trong ca dao và thơ Nguyễn Trãi” của Đinh Văn Thiện, “Sự biểu đạt bằng
ngôn ngữ các THTM – không gian trong ca dao” của Trương Thị Nhàn. Có thể
nói đây là những công trình nghiên cứu có giá trị, đã mở ra mét hướng tiếp cận
mới đối với các tác phẩm văn chương: tiếp cận từ phương diện THTM.
1
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
- Ở Anh: Lời giới thiệu nổi tiếng của W. B. Yeats về tập “Thơ Dâng”
(1912), giới thiệu nó ứng cử giải Nobel 1913.
- Ở Pháp: Bản dịch “Thơ Dâng” của Andre Gide (1860-1951) đã được
tái bản 107 lần.
- Ở Liên Xô cũ: Thơ Tagore được dịch và giới thiệu qua nhiều thứ tiếng.
Những năm 80 của thế kỉ XX, “Thơ Dâng” được tái bản 40 lần.
Cuốn giáo trình: “ Văn học phương Đông thời đại mới” của đại học Tổng
hợp Matxcơva 1975 do Ev. Paepxki biên soạn ở chương III, phần viết về Tagore
gồm 22 trang, đã dành cho Tagore những lời nhận xét khái quát theo hướng ngợi
ca.
Tuyển tập R.Tagore gồm 4 tập với hơn 2000 trang, trong đó tập I là phần
tuyển thơ, NXB Văn học nghệ thuật Maxcơva, 1981 với lời giới thiệu dài 28
trang của E.Kômarôp: “Tagor-nhà nhân đạo vĩ đại Ên Độ”. E.Kômarôp đã chỉ ra
đề tài cơ bản, tư tưởng đặc trưng của thơ Tagore (tiêu biểu là thơ trữ tình - tình
yêu) và những thủ pháp nghệ thuật đặc trưng như: tượng trưng, biểu tượng, kết
cấu trần thuật …
Các bài báo, ý kiến nhận xét, đánh giá đáng chú ý trong những công trình
nghiên cứu của các nhà thơ, các nhà nghiên cứu trên thế giới về Tagore: “Lịch
sử văn minh  n Độ” - Will Durant, “Cảm tưởng  n Độ” - I.Ehrenburg, “Ảnh
hưởng của R. Tagore đối với thơ ca hiện đại  n Độ”- V.K.Gokak, “Lời đánh
giá Thơ Dâng”- W.B.Yeats…
Những tìm hiểu, phát hiện, đánh giá này đã khái quát sự nghiệp thơ
Tagore, trong đó tập trung nhiều nhất vào “Thơ Dâng” - Tập thơ trữ tình triết lý
được giải thưởng Nobel năm 1913.
Trong cuốn “Tự thuật” (M. Gandhi) có viết: “Tác phẩm của Tagore nhất
là thi ca vẫn còn sống mãi trong tâm hồn nhân loại đang chiến đấu cho một thế
giới đại đồng. Chúng ta phải lấy làm vinh dù khi nhắc tới Tagore không chỉ bây
giờ mà còn về mai hậu nữa”.
4
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
Trước 1975, ở miền Nam, các tập thơ tiêu biểu của Tagore được dịch và
giới thiệu khá rộng rãi. Các dịch giả: Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thuỷ
(“Trăng non”), Đỗ Khánh Hoan (“Tâm tình hiến dâng”, “Lời Dâng”, “Tặng
vật”). Cả 4 tập thơ này được tái bản tại Nxb Đà Nẵng.
Trong lời giới thiệu tập “Trăng non”, dịch giả Phạm Hồng Dung, Phạm
Bích Thuỷ đã khẳng định sự nghiệp thơ ca là đồ sộ, vĩ đại hơn cả trong gia tài
văn học nghệ thuật của Tagore. “Thơ Tagore là tiếng hát Đông phương bất
tuyệt, là linh hồn của châu Á bình dị, mênh mang, là nỗi khắc khoải, là niềm
hoan lạc đời đời của cuộc sống”.
Trong lời giới thiệu tập thơ “Tặng vật”, dịch giả Đỗ Khánh Hoan đưa ra
nhận xét: “Thơ Tagore là sự kết hợp tài tình hai luồng tư tưởng Đông - Tây với
những rung động tinh tế trẻ trung”.
Những năm 60 của thế kỉ XX, đặc biệt từ 1961, điểm mốc quan trọng
đánh dấu sự khởi đầu của quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Tagore ở Việt
Nam. Kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tagore, ở miền Bắc, nhiều tác phẩm thơ, kịch,
truyện ngắn của ông được giới thiệu qua bản dịch của nhà nghiên cứu Ên Độ:
Cao Huy Đình, Xuân Diệu, La Côn, Yến Lan, Đào Xuân Quý… Bên cạnh hình
thức thơ - văn xuôi, các dịch giả còn sử dụng thể thơ tự do để dịch thơ của
Tagore và nhiều bài đã được đưa vào giảng dạy trong SGK phổ thông, giáo trình
đại học, tài liệu tham khảo.
Năm 1984, GS. Lưu Đức Trung cho xuất bản cuốn giáo trình “Văn học Ên
Độ”-Nxb Giáo Dục. Năm 1989, lại xuất bản cuốn “Văn học Ên Độ - Lào -
Campuchia”. Năm 1997, cuốn “Văn học Ên Độ” được tái bản có bổ sung, chỉnh
lý. Đây là cuốn giáo trình dành cho bậc Cao đẳng, Đại học S Ph¹m, Khoa học Xã
hội và Nhân văn, đã xem xét thơ Tagore như là một trọng tâm học tập, giảng dạy
và nghiên cứu.
Luận án Tiến sĩ “Chất trí tuệ trong thơ Tagore” (1983) của Trương Huệ
Tagore chứ chưa có những công trính nghiên cứu riêng về loại thơ trữ tình - tình
6
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
yêu của Tagore dưới góc độ THTM. Vì vậy, thơ Tagore vẫn mãi là một niềm
hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc khắp nơi trên thế giới.
7
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI KHỐI LIỆU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng nghiên cứu:
THTM được sử dụng trong các tác phẩm văn học thuộc mọi thể loại, ở mọi
thời kì. Chuyên đề này chỉ nghiờn cứu chúng trong thơ trữ tình - tình yêu Tagore.
Bên cạnh đú, cỏc TH từ hiện thực có rất nhiều loại để trở thành THTM. Vì thế,
chuyên đề của chúng tôi chỉ nghiên cứu THTM “Trái tim” trong tập “Tâm tình
hiến dâng” của Tagore vì phạm vi của chuyên đề không cho phép đi sâu.
2. Phạm vi khối liệu nghiên cứu
Trong chuyên đề này chúng tôi chỉ khảo sát thơ trữ tình - tình yêu của
Tagore trong tập “Tâm tình hiến dâng”(gồm 85 bài).
Ngoài ra, để đối chiếu và so sánh, chúng tụi còn khảo sát các tập thơ khác của
Tagore như tập “Tặng vật” và thơ của các tác giả khác như: Puskin, H. Heine…
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Hệ thống hóa, bổ xung thờm cỏc ý kiến về THTM có trong một số
công trinh nghiên cứu.
3.2 Vận dụng cỏc lớ thuyết về THTM vào miêu tả các THTM bắt nguồn
từ hiện thực cả về hình thức mà quan trọng nhất là về YNTM để từ đó tìm hiểu
các THTM đã phục vụ như thế nào cho những đặc tính chung về tư tưởng nghệ
thuật, về phong cách của cỏi Tụi trữ tình Tagore.
3.3 Dựa trên những kết quả đã nghiên cứu, chúng tôi muốn gợi ra một
phương hướng vận dụng lí thuyết về THTM vào phân tích thơ trữ tình - tình yêu
- Chương I: Tín hiệu thẩm mĩ (gồm 5 trang).
- Chương II: Tín hiệu thẩm mĩ “Trái tim” qua tập “Tâm tình hiến dâng” của
R.Tagore. (gồm 6 trang).
C. Phần kết luận (gồm 1 trang).
9
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TÍN HIỆU THẨM MĨ
I. Khái quát về THTM
1. Trước hết, THTM là một loại TH cho nên nó cũng mang những đặc
trưng của TH nói chung.
Đỗ Hữu Chõu đó tổng hợp ý kiến của Saussure và Ch.W.Morris, đã đưa ra
việc xác định 4 nhân tố cần phải có đối với một TH:
1. Phải có một hệ thống cảm tính (cái biểu hiện ).
2. Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện ).
3. Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng thông tin)
4. Phải nằm trong một hệ thống nhất định.
2. Tiêu chí phân loại TH: (có nhiều tiêu chí nhưng ở đây xin trình bày hai tiêu
chí phổ biến)
Thứ nhất, là cách phân loại của Pierce, chia TH thành TH(icon), chỉ hiệu
(index) và ước hiệu (sybol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa CBH và CĐBH mà
Saussure đã đưa ra. Theo đó đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại
TH mà mối quan hệ CBH và CĐBH là hoàn toàn võ đoán. Loại TH này sẽ mất
tư cách nếu không có cỏi lớ giải.
Thư hai: tuỳ theo đặc điểm về thể chất cuả TH. Theo đú, cú TH màu sắc,
TH âm thanh, TH cảnh báo giao thông, TH ngôn ngữ, TH âm nhạc,…Mặt thể
chất của TH văn chương chính là TH ngôn ngữ, một thể loại TH đặc biệt. Nó thể
hiện trờn cỏc phương diện: CBH và CĐBH có quan hệ võ đoàn với nhau, CBH
của TH có tính hình tuyến dẫn đến các đơn vị ngôn ngữ có quan hệ ngữ đoạn với
yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ văn chương; các yếu tố
của chất liệu màu sắc hội hoạ, âm thanh,…) được lựa chọn và sáng tạo trong tác
phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ.
11
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
II. Những đặc tính của THTM
1. Đặc tính về nguồn gốc.
THTM có nguồn gốc trước hết từ thế giới hiện thực, thế giới tâm trạng.
Bao gồm toàn bộ những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, trạng thái, cảm xỳc…
cú trong đời sống thực tế khách quan, có trong đời sống tinh thần của con người
được nghệ sĩ lựa chon và sáng tạo trong tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ. Những
yếu tố đó theo quan niệm thông thường có thể chứa đựng những thuộc tính thẩm
mĩ: bông hoa, dòng sông, mặt trời nhớ nhung,…; cả những yếu tố mà theo quan
niệm thông thường là xấu, không đẹp: tính xấu, tiếng chửi…. Tất cả những yếu
tố đó đều có thể trở thành THTM khi được nghệ sĩ lấy làm chất liệu để xây dựng
nờn cỏc hình tượng nghệ thuật.
THTM cũn cú nguồn gốc từ các sự kiện ngôn ngữ, trong đó cú cỏc vấn đề
như từ địa phương dung như một THTM, một lời kêu gọi khẩn cầu,…Ngoài ra
còn thấy những yếu tố ngôn ngữ như tiếng, âm, vần, thanh, nhịp điệu câu văn;
cấu trúc ngữ pháp câu (trật tự đảo, tỉnh lược…)… xuất hiện trong tác phẩm văn
học cúng với tư cách như những THTM với điều kiện là tất cả các yếu tố đó đều
phải phục vụ cho một tư tưởng thẩm mĩ nhất định.
2. Tính cấp độ.
THTM có những cấp độ đơn vị khác nhau. Căn cứ vào sự tương ứng của
THTM với các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực, tác giả Đỗ Hữu Châu
phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản:
2.1 Cấp độ cơ sở:
THTM ứng với một yếu tố, một chi tiết, một sự vật hiên tượng thuộc thế giới
khách quan: mặt trời, gió, nỗi buồn,… Đó là các TH đơn (hay TH cơ sở) có chức
đều dựa trên năng lực miêu tả, thay thế,“dẫn nhập” các sự vật, hiện tượng, các
phạm vi khác nhau của đời sống vào trong tác phẩm, của những phương tiện vật
13
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
chất được sử dụng. Trong văn học, đó là những từ ngữ, những kết cấu mang nội
dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực… phản ánh trình độ nhận thức, năng
lực cảm xúc của con người. Trình độ nhận thức, lại là một quá trình vân động
thay đổi không ngừng. Bởi vậy, kết quả biểu hiện ở THTM cũng không phải là
đại lượng bất biến.
5. Tính biểu cảm (bộc lộ).
THTM là sản phẩm của lao động nghệ thuật - lao động trong trạng thái
cảm hứng cao độ. Bởi thế, ngoài những thông tin miêu tả thực hiện chức năng
giao tiếp, nú cũn phải bao hàm những thông tin về cảm xúc, về thái độ, về sự
đánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ… của người nghệ sĩ - thực hiện chức năng thẩm
mĩ (chức năng nghệ thuật - hình tượng). Trong THTM, cảm xúc vốn là cái chủ
quan của chủ thể sáng tạo đã được khách quan hoá thành một thành phần quan
trọng của cơ cấu ngữ nghĩa THTM. Nó có khả năng gợi sự đồng cảm của người
tiếp nhận là vì thế.
6. Tính biểu trưng.
Là đặc tính của THTM xét trong mối quan hệ hai mặt cái biểu hiên và cái
được biểu hiện. Đó là mối quan hệ “cú lí do”, liên quan đến năng lực biểu trưng
hoá của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật hiện tượng được đưa vào làm THTM
trong tác phẩm.
Đặc tính này có liên quan đến một khả năng của THTM là nó vừa có tính chất
biểu thị (chỉ ra, nói lên một cái gì), vừa có tính chất hàm nghĩa (là sự gia tăng
thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn).
7. Tính truyền thống và cách tân (vấn đề “cỏi mới” của THTM).
Tính truyền thống của THTM được thực hiện ở những thông tin - ngữ
nghĩa của nó đã được “kớ mà sẵn” trong kho tang nghệ thuật của một dân tộc.
hệ thống mà TH tồn tại vơi các hình thức khác có liên quan. Nói khác đi, tính hệ
15
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
thống không chỉ được biểu hiện qua mối quan hệ giữa tính hằng thể - biến thể
của THTM mà còn biểu hiện qua tính đẳng cấu của THTM.
9. Về cái biểu hiện của các THTM văn chương.
Tất cả những đặc tính được phân tích ở trên của THTM đều được thể hiện
ra bằng cái biểu hiện - chất liệu của THTM. Với THTM văn chương, chất liệu
chủ yếu là ngôn ngữ. Chất liệu này phải phù hợp với TH đồng thời phải phù hợp
với ý nghĩa biểu cảm (YNTM) của THTM.
Từ những vấn đề trên đi đến kết luận: Nghiên cứu các THTM - ngôn ngữ
thực chất là sự nghiên cứu những yếu tố ngôn ngữ giúp biểu hiện nó. Quá trình
phân tích một THTM - ngôn ngữ là quá trình phải luôn luôn bám sát vào tổ hợp
ngôn ngữ biểu hiện nó để phân tích.
Trên đây là những vấn đề chung về THTM. Việc vận dụng những hiểu
biết chung đó vào tìm hiểu các THTM cụ thể trong một tác phẩm nghệ thuật còn
cần thiết phải làm sáng tỏ những đặc điểm về cả chỗ mạnh lẫn chỗ yếu của nó từ
góc độ chất liệu cấu thành.
16
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
17
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
CHƯƠNG II: THTM “TRÁI TIM” TRONG TẬP
“TÂM TÌNH HIẾN DÂNG” CỦA R.TAGORE
I. Khảo sát và phân loại.
1. Khảo sát.
THTM “Trái tim” trong tập “Tâm tình hiến dâng” được phân chia ở nhiều
Nhóm 2: Gồm các bài 2, 25, 31, 31, 33, 63, 73: Nhà thơ đưa ra những
nhận định bản chất, định tính trái tim tình yêu, thể hiện qua các định ngữ quen
thuộc như: trái tim trẻ dại, trái tim nặng trĩu u buồn riêng tư, trái tim mỏi mệt,
trái tim lang thang, trái tim cõm nớn, trái tim cánh chim hoang dại, trái tim rạo
rực chứa đầy chất trời…
Nhóm 3: Gồm các bài 27, 28, 37,47, 48, 56, 82, 83, 85: Triết lí, quan
niệm tình yêu của Tagore được hoàn thiện và thăng hoa qua biểu tượng. Với
ông, sự vĩ đại và hạnh phúc của con người và cuộc đời thể nghiệm chính trong
tình yêu. Được sống, được yêu là một hành động để bất tử.
II. í nghĩa của THTM “Trỏi tim”.
1 Từ những khái niệm mở đầu quan trọng của sinh học: Tim là tâm, là
trung tâm của sự sống con người đến những nhận thức có hàm nghĩa rộng hơn:
các chức năng trí tuệ (Hi Lạp), biểu tượng cho con người bên trong (Kinh
Thỏnh)… ý nghĩa của THTM “Trái tim” có cả một chặng đường dài định hình
và phát triển. Văn tự tượng hình cổ biểu thị Trái tim khá đa dạng. Ở Ai Cập cổ
đại, Trái tim có hình dáng chiếc bình. Ở Ấn Độ, Trái tim là hình tam giác lộn
ngược. Trong Kinh Coran của đạo Hồi, Trái tim là ánh sáng vĩnh hằng.
Trải nghiệm theo thời gian từ cổ đại cho đến đời sống văn hoá của thế giới
hiện đại, “Trái tim trở thành biểu tượng của tình yêu thế tục, của lòng nhân từ
thay thế cho tình yêu thương của Chúa trời, của tình bạn là lẽ phải.” (Từ điển
biểu tượng thế giới).
2. “Trái tim” vốn là một biểu tượng có một vị trí quan trọng đặc biệt ở Ấn
Độ. Nó được coi là nơi trú ngụ của Thần Brahma (Thượng đế toàn năng), là
Shakti (Nguyên tố nữ tính của sinh tồn), là nguồn nước nguyên thuỷ…Trong suy
tưởng của người Ấn, trái tim con người là nơi chứa đựng, ẩn khuất biết bao điều
bí mật, linh thiêng.
3. Tagore có cách giải mã ý nghĩa THTM “Trái tim” rất riêng. Ông không
dừng lại ở những nét nghĩa ổn định trong truyền thống mà mở rộng, biến đổi
19
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
kì, không che giấu, cũng chẳng phô trương: “Tim anh rung lên từng nhịp như lời
ngợi ca”, “Tỡnh yờu của chúng ta đơn sơ như một bài hát” (Bài số 16).
Puskin cũng đó hỏt lờn những lời ca chứa đựng một hiện thực tình yêu
trần thế như thế:
“Vì trái tim sống dậy đủ điều
Cả thiên thần, cả nguồn cảm xúc
Cả đời, cả lệ, cả tỡnh yờu.”
(A.X. Puskin, Thơ trữ tình, NXB Văn học, 1978)
Ở nhóm 1: THTM “Trái tim” được nhân cách hoá để trở thành một thực
thể sống động, giúp độc giả cảm nhận cụ thể hơn những trạng thái tõm lớ, những
diến biến phức tạp của tình yêu.
Diễn tả niềm vui của tình yêu đong đầy kí ức tuổi thơ, được sinh ra từ
cuộc sống lao động bình dị, trái tim nhà thơ tràn đầy cảm xúc, chỉ cần một tiếng
chim hót ở lùm cây “bên kia” cũng đủ làm cho “tim tôi ca múa rộn ràng” (Bài số
17). Trái tim nói để đem cho và nhạn những lời yêu thương thật dịu dàng, “Trái
tim nàng thì thầm nhè nhẹ”. (Bài số 22).
Bài số 18 lại là sự nhạy cảm của một trái tim yêu vơi nhưng rung động
thầm kín của buổi đầu còn rụt rè, bối rối: “Lúc hai chị em đi gánh nước, hễ tới
nơi này họ đều mỉm cười…Hẳn họ phải nhận ra tim ai đó đứng sau lùm cây
đang đánh nhịp rộn ràng bất kì khi nào họ gánh nước nơi đõy.”
Bài số 24, THTM “Trái tim” được kiến giải khá đặc biệt. Mặc dù nó được
hình dung như một kho tàng cất giấu biết bao bí mật, bao nỗi niềm thầm kín
nhưng tình yêu là để hiến dâng, bởi thế, nhà thơ khuyên tình nhân: “Bạn ơi,
đừng chôn chặt trong tim những nỗi niềm thầm kín, hãy để tôi nghe, chỉ riêng
tôi, chỉ kể trong bí mật…”
Và như một bức hoạ bằng ngôn từ, ở bài số 30, nhân vật trữ tình bộc lộ
nỗi khát khao cái tuyệt đích, cái sở hữu trong tình yêu: “Em là của riêng, của
riêng tụi…tụi nắm, gói chặt em trong lưới nhạc tôi giăng”. Ước muốn từ trái
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Vân Huyền - K54B
Ngữ văn
Tagore triết lí tình yêu bằng chính tình yêu, sự đâm mê và nỗi khổ đau của
con người. ông kêu gọi mọi người hãy đặt lòng tin vào tình yêu cho dù nó có
mang lại khổ đau: “Trái tim đem cho cuộc đời với giọt lệ, với lời ca” (Bài số 27).
“Trái tim là vương quốc của tình yêu” - Kigdom of love (Bài số 28). Đây
là hình ảnh so sánh có tính tượng trưng cao, người tình nữ được tôn vinh là Nữ
hoàng (The Queen). Bằng cấu trúc tầng bậc, Tagore lí giải về tình yêu, về những
nghịch lí muôn đời của trái tim và về cả những ước muốn nữa, để đi tới khẳng
định: Trái tim tình yêu là một thế giới bí Èn luôn đòi hỏi được khám phá, là nơi
đón nhận cả sung sướng lẫn khổ đau. “Nếu đời anh là viên ngọc…”, “Nếu đời
anh là bông hoa…Nhưng đó lại là trái tim, em ơi, thì biết đâu là bờ là đáy?Dẫu
không biết hết biên giới của kinh đô tình yêu, em vẫn là hoàng hậu trị vì trong
đó…Nguồn vui, nỗi sầu của tình yêu thường mênh mông, điều tình yêu thiếu tình
yêu thừa cũng vô cùng vô tận. Tình yêu vẫn gần gũi với em như chính đời em
đang sống song có bao giê em hiểu rõ hoàn toàn.” Có thể nói đây là bài thơ tình
hay nhất của Tagore. Bài thơ kết thúc, câu chữ dừng lại nhưng trái tim yêu vẫn
cứ thổn thứ mãi không nguôi.
Sử dụng hình ảnh so sánh mang tính phổ biến của thơ tình: “Trái tim là
cánh chim hoang dại” (Bài số 32), Tagore mang lại cho nó những xúc cảm khác
lại: “Trái tim tôi, cánh chim vùng hoang dại, đã thấy cả một phương trời trong
mắt em”, qua đó thể hiện khát khao của nhân vật trữ tình: muốn chiếm lĩnh thế
giới tâm hồn của người mình yêu.
Baudellaire (nhà thơ Pháp) thì so sánh: “Trái tim ta như con chim bay
lượn sung sướng” nhằm diễn tả nỗi vui mừng khi tình yêu gặp được tình yêu.
Nhà thơ Đức, H.Heine với hình liên tưởng “Trái tim là biển tình mênh mông” đã
xác nhận: Trái tim tình yêu không bao giê khe khắt, sung sướng, khổ đau của nó
là vô cùng.
Với THTM “Trái tim”, Tagore đưa ra một chân lí: Trong tình yêu cho và
nhận thật hào phóng, không vụ lợi, không toan tính. Tình yêu của con người bao
Tagore là một triết gia khi ông viết thơ triết luận (Thơ Dâng, Những con
chim bay lạc, Người thoáng hiện), là một nhà giáo dục khi ông viết về trẻ em
(Trăng non) và là một nhà thơ tình khi ông viết về tình yêu đôi lứa. Hai tập thơ
tình “Tâm tình hiến dâng” và “Tặng vật” mang đậm cái Tôi trữ tình của Tagore -
cái Tôi của một nhà thơ lãng mạn đã thoát khỏi khung trời chật hẹp của chủ
nghĩa duy lÝ cũng như sự huyền bí của Tôn giáo.
Có thể nói, biểu tượng là một trong những nét đặc trưng nghệ thuật tạo
nên diện mạo và hình hài cho thơ trữ tình - tình yêu của Tagore, thể hiện tư duy
nghệ thuật của Tagore. Nó sẽ là chiếc chìa khoá giúp ta hiểu sâu hơn những bài
thơ của “nhà thơ trữ tình tinh tế bậc nhất thế giới” này.
Các THTM được sử dụng trong thơ Tagore chia làm hai loại: THTM đậm
màu sắc Tôn giáo và THTM biểu trưng cho Tình yêu. Bài viết của chúng tôi mới
chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các tầng ý nghĩa của THTM “Trái tim” trong một tập
thơ của Tagore (Tập “Tâm tình hiến dâng”) nhưng qua đó đã thấy được phần nào
những quan niệm, những triết lí của Tagore về tình yêu, về con người và cuộc đời.
Bằng nhiều cách biểu đạt khác nhau, những sự diệu kì, thiêng liêng cùng
những khắc khoải, trăn trở của trái tim yêu đã được nhà thơ diễn tả đầy sức
thuyết phục, để lại nhiều dấu Ên sâu đậm trong lòng người đọc. Trái tim Tagore,
trái tim của mỗi chúng ta đong đầy những xót thương và nhớ mong, cho dù có
chở nặng khổ đau hay tràn đầy lạc thú thì lúc nào nó cũng khát khao vươn tới
những cái tuyệt đối, khát khao đến sự vĩnh hằng. Nhưng cái tuyệt đối của trái
tim tình yêu lại ở ngay cạnh chúng ta, nó nằm giữa chúng ta. “Con tim của
chúng ta cứ rong ruổi mãi, khi gặp được tình yêu, bấy giờ hành trình của nó mới
25