tín hiệu thẩm mĩ xuân trong hai tập thơ thơ và gửi hương cho gió - Pdf 25

Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
Tín hiệu thẩm mĩ xuân trong hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của dân téc. Ông là nhà thơ
có công rất lớn trong việc làm mới thơ ca về phương diện nội dung và nghệ
thuật. Thơ Xuân Diệu có sự kết hợp nhuần nhị, uyển chuyển giữa ngôn ngữ
truyền thống mang màu sắc dân téc và ngôn ngữ mang màu sắc hiện đại.
Những hình ảnh, hình tượng trong thơ Xuân Diệu đều hết sức độc đáo, sáng
tạo và mang ý nghĩa biểu trưng cao. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Xuân Diệu để
tìm ra cái hay, cái đẹp của " nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" là công
việc các nhà phê bình đã, đang và sẽ làm để hoàn thiện cái nhìn đúng đắn về
gia tài thơ Xuân Diệu.
2. Hơn thế nữa, Xuân Diệu là một trong những tác gia quan trọng được
đưa vào dạy trong chương trình Trung học phổ thông và trung học cơ sở với
dung lượng số bài, số tiết khá lớn. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Xuân Diệu sẽ giúp
cho giáo viên và học sinh có thêm tư liệu để tham khảo trong quá trình dạy và
học Ngữ Văn và hiểu hơn về phong cách thơ Xuân Diệu cũng như những đóng
góp của ông cho thi đàn thơ Việt.
3. Tín hiệu thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học là chìa khóa để mở ra bí
Èn của nội dung, nghệ thuật. Tín hiệu nghệ thuật bao giê cũng được nhà văn sử
dụng có mục đích và đát đến những hiệu quả nghệ thuật nhất định.Tín hiệu thẩm
mĩ Xuân trong thơ Xuân Diệu là một trong những tín hiệu nghệ thuật quan trọng
chứa đựng rất nhiều ý nghĩa biểu trưng về tư tưởng của nhà thơ. Bài tập này sẽ
đi sâu nghiên cứu và khảo sát " Tín hiệu thẩm mĩ Xuân trong hai tập " Thơ thơ"
và " Gửi hương cho giã""- hai tập thơ được đánh giá là hay nhất trong toàn bộ di
sản thơ Xuân Diệu.
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

nhất cho tâm hồn". Đây cũng chính là cơ sở để tác giả đi sâu nghiên cứu, khảo
sát,tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ xuân trong hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho giã.
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ TÍN HIỆU THẨM MĨ
1. Nguồn gốc tín hiệu thẩm mĩ.
Về nguyên tắc, mọi sự vật, đối tượng thực thể trong thế giới này đều có
thể trở thành tín hiệu nếu hình thức biểu hiện của nó chứa đựng nội dung thông
tin nhất định. Đó chính là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Có thể thấy ngôn
ngữ nghệ thuật là một hệ thống tín hiệu đặc biệt " Với tư cách là thể chất của tác
phẩm văn học" ngôn ngữ nghệ thuật có thể được xem là một hệ thống tín hiệu
tín hiệu bao gồm các tín hiệu thông thường và tín hiệu thẩm mĩ.
Tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc từ tự nhiên. Trong quá trình tiếp xúc với
thế giới, thoạt tiên con người tìm cách đọc được những thông tin đó từ những
biểu hiện cảm tính của đối tượng sau đó con người sử dụng những biểu hiện cảm
tính đó để truyền đạt những nội dung thông tin tương ứng. Khởi thủy, khi những
tín hiệu đầu tiên đi vào trong tư duy và giao tiếp của con người, mối quan hệ
giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện của chúng là mối quan hệ có lÝ do.
Sự tổ chức lại các tín hiệu tù nhiên thành các tín hiệu thẩm mĩ để nâng cấp hoạt
động nhận thức và biểu hiện thế giới trong đời sống tinh thần của con người là
bước tiến quan trọng nhất trong tư duy của con người, biểu hiện sự kết hợp giữa
tư duy lÝ tính và tư duy biểu tượng. " Con người không chỉ phản ứng một cách
trực tiếp và thô sơ trong phạm vi những nhu cầu thực dụng, trái lại, những mối
liên hệ đầy ý nghĩa của các sự vật, đối tượng luôn bao bọc thế giới của con
người. Nói cách khác, phản ứng của con người trong một chõng mực nhất định,
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
phụ thuộc vào ý nghĩa tượng trưng của sự vật, hơn nữa con người còn khác xa
loài vật ở chỗ không chỉ nhận biết ý nghĩa mối liên hệ của các sự vật riêng biệt
mà luôn cố gắng sáng tạo, phủ định, điều chỉnh lại sù diễn đạt bằng biểu
tượng". Nh vậy, các biểu tượng là dạng nguyên thủy nhất, có thể coi nh là các cổ
mẫu, mẫu gốc của một nền văn hóa. Đó là nguồn gốc phát sinh các tín hiệu thẩm

tạo nên cơ tầng văn hóa ở chiều sâu nhất của nó. Mỗi nền văn hóa đề có những
mẫu gốc đặc trưng mang tính dân téc nhưng vẫn còn nằm trong mối liên hệ sâu
xa với cái nôi chung của văn hóa nhân loại.
Từ các hệ biểu tượng văn hóa hình thành các tín hiệu thẩm mĩ trong
những ngành nghệ thuật nhất định như là chất liệu cơ bản trong sáng tạo nghệ
thuật. Các mẫu gốc và biểu tượng thuộc cấp độ bản thể liên quan đến bình diện
văn hóa, các tín hiệu thẩm mĩ thuộc cấp độ biểu hiện mang đặc trưng loại hình
liên quan đến bình diện chủ thể. Khi xuất hiện trong một ngữ cảnh nhất định,
một tín hiệu thẩm mĩ chuyển thành một hình tượng cụ thể, để giải thích được
một cách có căn cứ ý nghĩa của một tín hiệu thẩm mĩ, một hình tượng nghệ thuật
mà chúng ta phải chỉ ra được cái nguồn gốc biểu tượng tồn tại trong nó. Sự
chuyển hóa từ mẫu gốc, hệ biểu tượng đến các tín hiệu và các hình ảnh cụ thể là
quá trình biểu hiện rõ tính nhân loại cũng như đặc trưng văn hóa dân téc mang
tính truyền thống và sự sáng tạo của chủ thể.
Trong khi xét tính lịch sử, tính dân téc và tính nhân loại của tín hiệu thẩm
mĩ, chúng ta phải xét đến sự biến đổi trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái
được biểu đạt và mối quan hệ giữa các tín hiệu trên trục hệ hình mang tính lịch
sử của nó. Quan hệ thứ nhất thường được các nhà ngôn ngữ học gọi là quan hệ
tượng trưng, ý thức tượng trưng của kí hiệu. Quan hệ thứ hai là ý thức hệ pháp
của tín hiệu. Chính ý thức hệ pháp này đã giúp chúng ta có thể chỉ ra mối liên hệ
giữa các mẫu gốc, các biểu tượng, các tín hiệu thẩm mĩ giữa các cộng đồng, các
nền văn hoá hay trong phạm vi một nền văn hóa, văn học nhất định. Tuy nhiên
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
cần phải nhận thấy rằng một hệ hình của các biểu tượng, các tín hiệu thẩm mĩ
xét trên trục lịch đại của nó luôn là một hệ hình mở. Sự tiêu biến của một số yếu
tố, sự gia nhập của các yếu tố khác từ các dòng văn hóa khác nhau tạo nên
những mối liên hệ và những giá trị mới cho toàn bộ hệ thống
b. Tính " phi vật thể" và "phi trực quan" của tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn
ngữ nghệ thuật

người nghệ sĩ thực sự có bản lĩnh trong quá trình sử dụng các tín hiệu phi trực
quan, phi vật thể là người phải xác định được những mối quan hệ đảm bảo cho
người đọc một sự tưởng tượng và một cách hiểu theo cái điều mà anh ta định
biểu hiện qua ngôn từ dù anh ta trình bày nó dưới bất kì hình thức nào.
c. Tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học
Trong ngôn ngữ văn học, các tín hiệu thẩm mĩ đều phải được tổ chức lại
dùa trên tính hình tuyến chặt chẽ của ngôn từ. Những mối quan hệ ngữ đoạn
đảm bảo một ý nghĩa nhất định cho các từ ngữ mà tác giả sử dụng còng nh định
hướng cho sự tiếp nhận của người đọc. Trong những mối quan hệ tuyến tính cụ
thể tập hợp những khả năng gợi ra ý nghĩa của các biểu tượng văn hóa được
định hình trong một số ý nghĩa xác định hoặc mở rộng các ý nghĩa này bởi các
ngữ đoạn của tín hiệu.
Trong những mối liên hệ tuyến tính của tín hiệu, những quan hệ của đối
tượng được biểu hiện theo những cách khác nhau dùa trên sự tuân thủ những
quy tắc ngữ nghĩa- cú pháp hay thay đổi những quy tắc này. Trong ngôn ngữ
nghệ thuật có thể xuất hiện những cấu trúc ngữ nghĩa cú pháp không bao giê
đánh giá theo lôgic của ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ giao tiếp thông thường.
Trong thơ ca, những kết hợp bất thường được chấp nhận nh mét lối biểu hiện
đặc biệt, đem tới cho người đọc những khám phá mới về đối tượng. Những mối
quan hệ tưởng nh không thể có được lại xuất hiện trong các ngữ đoạn nh là một
sự gợi mở, đưa dẫn người đọc đến với một chiều kích khác của đời sống.
Trong mối quan hệ ngữ đoạn, sự liên tưởng được hiện thực hóa qua những lối
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
kết hợp cụ thể, đảm bảo một cách hiểu sáng rõ. Như vậy, giải thích một tín
hiệu thẩm mĩ ngoài mối liên hệ ngữ đoạn là một điều hết sức nguy hiểm bởi lẽ
trong rất nhiều khả năng ý nghĩa của một tín hiệu thẩm mĩ trên bình diện văn
hóa, chúng ta có thể chỉ ra những ý nghĩa sai lệch hoàn toàn so với ý nghĩa xác
định trong ngữ đoạn.
Tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ vừa là mặt mạnh vừa là hạn chế của

- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
4 - Mùa xuân khó chịu quá đi thôi Đơn sơ
5 - Giã đào thá thẻ bảo hoa xuân Với bàn tay Êy
6 - Mùa xuân tôi chưa hề có hoa tươi Dối trá
TẬP " GỬI HƯƠNG CHO GIÃ"
STT Câu thơ Bài thơ
1 - Xuân vội bước nhưng mà hương chẳng mất Lời thơ vào tập gửi
hương
2 - Tháng Giêng cười không e lệ chút nào Mời yêu
-Ai có biết mùa xuân lên nặng lắm
-Làm êm Êm đôi ngày xuân trống trải
3 -Sắc tàn hương nhạt mùa xuân rụng Xuân rông
4 - Chong chóng ngày thơ vụt đến xuân Hư vô
5 - Xuân ta đã cất trong thơ phú Tặng bạn bây giê
6 - Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ Tình thứ nhất
7 - Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa Xuân đầu
8 - Vừa độ trai tơ xuân lại sang
- Xuân hỡi, trời ơi, xuân sắc ơi
- Lóc khoan thai xuân lại lên đường
- Như đầu xuân chỉ một hoa tươi
Trò chuyện với Thơ
thơ
9 -Sẵn kho xuân quên cả tói không tiền
- Trên gác về trống lạnh cả lòng xuân
Đêm thứ nhất
10 -Họ chưa hề đẹp: lúc xuân sang
- Xuân mình tất cả đã trôi đi
Những kẻ đợi chờ
11 -Xuân có hồng thì tôi có tình tôi Tặng thơ
12 -Êy là vạn vật nức xuân tâm Đi dạo

- Từ Xuân đứng trước + động từ : thể hiện sự chuyển biến, bước đi của thời
gian, sự vận động của cảm xúc.
2. Ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ Xuân trong thơ Xuân Diệu
2.1 Hướng biểu trưng cơ bản thuộc bình diện văn hoá của tín hiệu
thẩm mĩ Xuân
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
Trong “Từ điển tiếng Việt” của Nhà xuất bản khoa học xã hội do PGS Hồ
Lê hiệu đính, từ “ Xuân” có hai ý nghĩa cơ bản sau:
1. Năm (Đã mấy xuân qua)
2. Mùa đầu tiên của năm trước mùa hạ
Trong đó nghĩa thứ hai là nghĩa cơ bản, nghĩa thứ nhất là nghĩa chuyển
theo phương thức hoán dụ.
Thông thường, văn học thường sử dụng cả hai ý nghĩa này vào các sáng
tác để xây dựng thành các biểu tượng có giá trị nghệ thuật. Ngoài ra, Xuân còn
được dùng với rất nhiều nghĩa. Ngoài những nghĩa thông dụng chỉ thời gian trời
đất (mùa xuân), thời gian của tuổi người (tuổi xuân) còn những nghĩa thông
dụng liên quan đến tình yêu- xuân là tình. Đây cũng chính là nghĩa thứ sáu trong
“ Hán ngữ đại từ điển”. Có thể thấy, ý nghĩa hằng thể của tín hiệu Xuân rất
phong phú, đa dạng và có tần số xuất hiện nhiều trong văn chương. Tuy nhiên,
thông qua khảo sát của chúng tôi, tín hiệu thẩm mĩ Xuân trong hai tập “ Thơ
thơ” và “Gửi hương cho giã” thể hiện một số ý nghĩa cơ bản sau:
a. Biểu trưng cho thời gian của trời đất gắn liền với sự tận hưởng
của cái Tôi Xuân Diệu
Qua khảo sát hai tập thơ, chúng tôi nhận thấy, tín hiệu thẩm mĩ “ Xuân”
dùng để biểu trưng cho thời gian của trời đất gắn liền với sự tận hưởng của cái
Tôi nhà thơ gồm các trường hợp sau:
Tập “ Thơ thơ” : - Sao buổi đầu xuân êm ái thế
- Mùa xuân chín ửng trên đôi má
- Chưa từng hẹn đến giữa xuân tươi

Với đặc điểm kết hợp này, tín hiệu Xuân nêu lên được không gian của bài
thơ hết sức đẹp đẽ,cảnh vật dồi dào sức sống qua đó thấy được quan niệm của
nhà thơ về sự sống và tân hưởng. Trong bài thơ “ Vội vàng” (tập “ Thơ thơ”)
nhà thơ đã vẽ nên một không gian trần thế – Xuân :
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sáng thần Vui hằng gõ cửa
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần
Thiên đường mặt đất đầy đủ dư vị hồng hào và tươi tắn luôn được hiện
lên trong thơ Xuân Diệu. Thiên nhiên mùa xuân tươi sáng về màu sắc, rộn rã về
âm thanh. Đấy cũng là lÝ do để nhà thơ khao khát " muốn đi mãi ở vườn trần",
say sưa sống ở vườn trần. Thơ Xuân Diệu vốn đã nồng khi viết về mùa xuân
càng trở nên thiết tha, đắm đuối với những nhan sắc ơi, bình minh quá ý nghĩa
biểu trưng này chiếm tỷ lệ rất Ýt song cũng phần nào cho người đọc hiểu thêm
được rất nhiều về phong cách thơ Xuân Diệu.
b. Biểu trưng cho tình cảm tươi trẻ của lòng người và khát khao tình yêu
Trước khi đi vào tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ Xuân ở
phương diện này người viết muốn cắt nghĩa từ Xuân trong tên riêng của nhà
văn. Phải chăng là một định mệnh? Thơ Xuân Diệu luôn gắn với xuân tình, xuân
ý? Trong công trình " Ba đỉnh cao thơ mới" của Chu Văn Sơn, tác giả cũng đã
đề cập đến chi tiết này : " Cái tên Xuân Diệu dường như là sự lùa chọn của một
duyên nghiệp, trong đó như chứa sẵn cả cái bản mệnh, cái căn số của một kẻ rồi
đây sẽ thành thi sĩ ái tình".
Trở lại với tín hiệu thẩm mĩ Xuân trong hai tập " Gửi hương cho gió" và "
Thơ thơ", ở ý nghĩa biểu trưng cho tình cảm tươi trẻ của lòng người và khát

Xuân Diệu luôn ao ước được mãi mãi sống với tuổi xuân, mãi mãi hoài xuân : "
Với lòng tôi trời đất chỉ có hai mùa Xuân và Thu, hai mùa đặc biệt có ý nhị, hai
mùa có bình minh Xuân và Thu là hai binh minh trong một năm, sự thay đổi hệ
trọng nhất cho tâm hồn". Nói nh vậy là một cách bày tỏ ước muốn lưu giữ mãi "
lòng xuân" của tâm hồn yêu đời Xuân Diệu. Cùng với tình yêu tuổi trẻ, yêu con
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
người là khát khao níu giữ " Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi", khát khao
được tận hưởng. Chính điều này đã làm nên đặc trưng rất riêng cho phong cách
thơ Xuân Diệu. Sử dụng tín hiệu với ý nghĩa biểu trưng này, nhà thơ đã tiếp thu
từ truyền thống của văn hóa chung nhân loại và từ văn học Việt Nam thời kì
trung đại. Thơ Hồ Xuân Hương sử dụng rất nhiều tín hiệu Xuân với ý nghĩa biểu
trưng này:
- Chơi xuân có biết xuân chăng tá
- Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu
- Đá kia còn biết xuân già dặn
hay nh trong " Truyện Kiều" của Nguyễn Du:
Mặc người mây sở mưa Tần
Riêng mình nào biết có xuân là gì
Tuy nhiên phần lớn các nhà thơ trung đại nh Hồ Xuân Hương chỉ sử dụng
tín hiệu này để chỉ tình sự, lạc thó con người. Còn với Xuân Diệu, ông khai thác
chữ Xuân về phương diện tình yêu, khát khao tuổi trẻ, tình yêu. Đó là sự kế thừa
và phát triển tín hiệu trong văn chương nghệ thuật.
c. Biểu trưng cho bước đi của thời gian
Ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu Xuân trong thơ Xuân Diệu thể hiện sự tìm
tòi, sáng tạo xuất sắc của nhà thơ phải kể đến ý nghĩa biểu trưng cho bước đi của
thời gian. Theo khảo sát của chúng tôi, ý nghĩa này thể hiện trong các câu thơ sau:
- Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
- Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
- Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

vì cảm nhận được bước đi thời gian hết sức tinh tế như vậy , Xuân Diệu viết rất
nhiều về thơ Xuân.Và có lẽ, cái tên Xuân Diệu (sự kì diệu của mùa xuân) cũng
nằm trong chuỗi những cảm xúc Êy. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đã nhận xét "
Thơ thơ: nghệ thuật như là một sự vĩnh cửu hóa thời gian, Gửi hương cho giã :
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
tình yêu như là sự chiến thắng của thời gian" cũng chính là đã phát hiện ra cái
bản chất cốt lõi của phong cách thơ Xuân Diệu qua hai tập thơ.
Nh vậy, có thể thấy, ý nghĩa biểu trưng cho bước đi của thời gian của tín
hiệu thẩm mĩ Xuân là một sáng tạo độc đáo của Xuân Diệu. Sự sáng tạo này chi
phối nhân sinh quan, thế giới quan nghệ thuật của thơ Xuân Diệu. Còng chính
sự sáng tạo này mới làm nên phong cách thơ Xuân Diệu mang tính hiện đại.
3. Mối quan hệ giữa tín hiệu Xuân và hình tượng tác giả
Hình tượng tác giả là " phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai
trò xã hội và văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ
đợi Hình tượng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc, nhưng cũng mang đậm
tính tác giả, khi vai trò của cá tính sáng tạo của cái Tôi cá nhân được ý thức
đầy đủ". Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ mà người nghệ sĩ
sáng tạo ra bằng tất cả tâm huyết của mình. Cho nên, Ýt nhiều tác phẩm Êy cũng
thể hiện tư tưởng, tình cảm, thế giới nhân sinh quan của người viết. Hai tập thơ "
Thơ thơ" và " Gửi hương cho giã" của Xuân Diệu thể hiện rõ nét con người nhà
thơ trước cách mạng Tháng Tám.
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và nhận ra cái cốt lõi của tình
yêu trong thơ Xuân Diệu ngay từ cái tên của tác giả. Xuân Diệu - sù kì diệu của
tình yêu. Khát khao sự sống tươi non, khát khao tình yêu tuổi trẻ nên Xuân Diệu
vội vàng cuống quýt, nhà thơ như dang rộng tay mình, mở rộng hồn mình để
đón lấy những gì tinh túy, xuân sắc nhất của cuộc sống. Và không chỉ trong hai
tập thơ đầu tay " Thơ thơ" và " Gửi hương cho gió" Xuân Diệu mới bộc lé điều
này mà cả những vần thơ sau cách mạng Tháng Tám người ta vẫn nhận ra một
Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt của tình yêu.

Bài tập chuyên đề tiếng Việt Nguyễn Thị Thu Hiền - K54B
Ngữ văn
MỤC LỤC
Trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status