Khóa luận tốt nghiệp văn học: Tìm hiểu mô típ người hóa thân thành các loại thực vật thuộc kiểu truyện người hoá vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Pdf 14

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ tận
tình của cô giáo - Thạc sỹ Lê Thị Xuân Liên, giảng viên Văn học Việt Nam. Em
xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến sự quan tâm, chỉ đạo của cô trong suốt
quá trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin cảm ơn Phòng nghiên cứu khoa học, Thư viện trường Đại
học Tây Bắc, các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ
văn, cô giáo chủ nhiệm lớp cùng các bạn sinh viên K50 Đại học Sư phạm Ngữ
văn đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em rất mong sẽ nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của thầy cô và các
bạn sinh viên để khóa luận này hoàn thiện hơn.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Nhung


tích 14
1.1.5. Nghệ thuật truyện cổ tích 15
1.1.5.1. Quan niệm nghệ thuật trong sáng tạo truyện cổ tích 15
1.1.5.2. Cốt truyện và kết cấu 16
1.1.5.3. Nhân vật trong truyện cổ tích 17
1.1.5.4. Lực lượng thần kì 18
1.1.5.5. Không gian và thời gian nghệ thuật 20
1.2. Khái quát về kiểu truyện “người hoá vật” trong kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam 22
1.2.1. Khái niệm “kiểu truyện” 22
1.2.2. Khái quát về kiểu truyện “người hoá vật” trong kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam 22
1.2.2.1. Nguồn gốc của kiểu truyện 22
1.2.2.2. Nhân vật hoá vật 27
1.2.2.3. Nguyên nhân hoá thân 27
1.2.2.4. Hình thức hoá thân 28
1.2.2.5. Số lần biến hóa 30
1.2.2.6. Vật hoá thân 30
1.2.3. Ý nghĩa của kiểu truyện “người hoá vật” 32
1.2.3.1. Ý nghĩa xã hội 32
1.2.3.2. Ý nghĩa nhân văn 33
CHƯƠNG 2 35
TÌM HIỂU MÔ TÍP “NGƯỜI HOÁ THÂN THÀNH CÁC LOẠI THỰC
VẬT” THUỘC KIỂU TRUYỆN “NGƯỜI HOÁ VẬT” TRONG KHO
TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM 35
2.1. Khái niệm “mô típ” 35
2.2. Mô típ “người hoá thân thành các loại thực vật” trong kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam 36
2.2.1. Nguồn gốc của mô típ “người hoá thân thành các loại thực vật” 36
2.2.2. Nhân vật hoá thân 39

Nam” làm vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu vì những lý do sau:
1.1. Cơ sở khoa học
Trong kho tàng văn học dân gian, truyện cổ tích luôn được xem là một
trong những thể loại có sức sống lâu bền nhất. Mỗi câu chuyện như là một viên
ngọc sáng, mỗi viên ngọc một dáng vẻ, một sắc đẹp riêng, tất cả hội tụ lại tạo
nên sự đa dạng, phong phú của thể loại cổ tích trong truyện kể dân gian các dân
tộc ở Việt Nam và trên thế giới. Nó tạo nên một sự hấp dẫn riêng không chỉ với
người già, trẻ con mà cả thế hệ trẻ trong đời sống hiện thưc, trong quá khứ, hiện
tại và cả tương lai.
Kiểu truyện “người hoá vật” là một trong những kiểu truyện đặc sắc, phổ
biến nhất trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và thế giới. Đây là một kiểu
truyện có liên quan đến quan niệm nguyên thuỷ về thế giới của con người thời
cổ và thuyết nhân quả của đạo phật. Kiểu truyện “người hoá vật” là sự đan kết
của hàng loạt mô típ nghệ thuật độc đáo, trong đó có sự xuất hiện của mô típ
nghệ thuật “hoá thân thành vật” của các nhân vật trong truyện. Đây là một mô
típ nghệ thuật đắc dụng - một phương tiện nghệ thuật để nhân dân lao động thực
hiện lí tưởng xã hội trong mơ ước của mình một cách đầy thuyết phục.
Mô típ “người hoá thân thành các loại thực vật” xuất hiện rất nhiều trong
kiểu truyện “người hoá vật” tạo nên sự phong phú đa dạng cho kiểu truyện, làm
nên sức sống lâu bền của truyện cổ tích và sự hấp dẫn của thể loại này trong
công chúng văn học. Bên cạnh những mô típ “người hoá thân thành động vật”
và các sự vật khác thì mô típ “người hoá thân thành các loại thực vật” quả thực
là kết quả của sự sáng tạo phong phú, độc đáo thông minh của dân gian. Không
phải ngẫu nhiên nhân dân lại sáng tạo ra những mô típ nghệ thuật hấp dẫn này,
mỗi một câu chuyện kể đều là sự gửi gắm những ước muốn chính đáng của nhân
dân về thế giới tự nhiên cũng như xã hội. Tuy nhiên, mô típ nghệ thuật này chưa
được tìm hiểu, nghiên cứu độc lập và có hệ thống trong các công trình nghiên
cứu văn học dân gian nói chung, truyện cổ tích nói riêng.
Nhận thức được nét đẹp đặc trưng của thể loại cổ tích qua mô típ nghệ
thuật này, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn mô típ “người hoá thân thành các loại

Đá Vọng Phu, hình ảnh “trầu - cau - vôi” trong truyện Trầu Cau… tất cả đều là
những biểu tượng sáng ngời của nghĩa tình cao đẹp khó có thể phai trong tâm trí
chúng ta.
Có thể thấy, truyện cổ tích có một sức hấp dẫn đặc biệt với tuổi thơ và
thường để lại nhưng dấu vết không phai mờ trong sự hình thành tư tưởng và tình
cảm của con người. Đặc biệt là kiểu truyện xuất hiện mô típ nghệ thuật người
3

hóa thân thành cây, hoa, quả… Với chất lãng mạn bay bổng làm đắm say lòng
người ấy quả thực đã tạo ra sự hứng thú cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Mô típ nghệ thuật người hóa thân thành các loại thực vật trong truyện cổ
tích Việt Nam”, thuộc kiểu truyện “người hóa vật” - một kiểu truyện bắt nguồn
từ quan niệm về thế giới kỳ ảo góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng hấp dẫn
của truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam. Về sự biến hoá kì ảo của nhân vật
trong truyện cổ tích thành các vật khác nhau đã có nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và có một số ý kiến liên quan đến vấn đề mà chúng tôi quan tâm tìm hiểu
như sau:
Tác giả Nguyễn Tất Phát, Bùi Mạnh Nhị trong bài Nhân vật lý tưởng và cốt
truyện của cổ tích thần kỳ báo văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 316 ở mục
“Những phần thưởng dành cho nhân vật” có viết “Trong truyện cổ tích thần kỳ,
nhân dân luôn chăm chú theo dõi nhân vật lý tưởng của mình và dành cho họ
những phần thưởng xứng đáng”. Bên cạnh những phần thưởng mà nhân dân
dành cho nhân vật lý tưởng bao giờ cũng kèm theo đòn trừng phạt đối với kẻ
thù. Bàn về vấn đề này, các tác giả viết: “đúng là phải tiêu diệt mầm mống gây
ra sự tội ác. Bởi vậy những kẻ về bản chất cực kỳ nham hiểm, cực kỳ tham lam,
tàn bạo như Lý Thông, tên vua trong “chiếc áo lông chim”, mẹ con dì ghẻ trong
truyện Tấm Cám thì không thể thoát chết. Lý Thông có thể được Thạch Sanh tha
chết nhưng trong cảm nhận của nhân dân, nếu Lý Thông còn sống thì xã hội sẽ
không có cuộc sống yên ổn, vì lẽ đó mà Lý Thông phải chết. Trong truyện, lưỡi

phần không thể thiếu của cốt truyện nhằm gúp thể hiện triệt để đấu tranh xã hội.
Nhiều truyện thơ đã sử dụng môtíp này [17].
Ý kiến trên một mặt thể hiện cái nhìn biện chứng của tác giả về sự ảnh
hưởng qua lại của truyện cổ tích và truyện thơ, mặt khác nó còn góp phần khẳng
định mô típ “người hóa vật” là một trong những mô típ chủ yếu của truyện cổ
tích. Và đây chính là mô típ quan trọng trong việc hình thành nên kiểu truyện
“người hóa vật”, một kiểu truyện đặc sắc của các dân tộc Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Bích Hà trong cuốn Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ
trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, khi bàn tới vấn đề “Về cái chết và sự
hoá thân của nhân vật Lí Thông” đã nhận xét: “Cái chết và sự hoá thân của
những kẻ ác thành con vật xấu xa chính là thắng lợi tuyệt đối của cái thiện, của
công lí”[6, 139].
Tác giả Đinh Gia Khánh khi tìm hiểu về truyện cổ tích Tấm Cám đã nhận
xét về cái chết của Tấm thực chất là sự sống lại dưới những hình thức khác nhau
trong đó có sự hoá thân thành các loại thực vật: “mụ dì ghẻ và con Cám không
chỉ giết cô Tấm một lần. Cô sống lại dưới hình thức chim vàng anh, chúng bắt
cô ăn thịt cô sống lại dưới hình thức cây xoan đào, chúng bèn chặt cây làm thành
khung cửi”[11, 97].
Từ sự khẳng định về cái chết cùng sự hoá thân của nhân vật Tấm thực chất
là sự kéo dài sự sống, ông cũng luận bàn về hành động trả thù của Tấm đối với
mẹ con nhà Cám như sau: “Đó chính là một hình thức trả thù…chỉ là một điều
công bằng. Mụ dì ghẻ và Cám đã từng ăn thịt chim (kiếp thứ 2 của Tấm), chặt
5

cây xoan đào (kiếp thứ 4 của Tấm); thì bây giờ nếu cô Tấm làm thịt Cám cho mẹ
nó ăn thịt thì đó cũng chỉ là một điều công bằng. Ác giả ác báo, đó là công lí
theo quan điểm thông thường của nhân dân ngày xưa” [11, 129].
Trong truyện Sự tích trái sầu riêng, sự hoá thân của nhân vật thành trái sầu
riêng đã được tác giả Nguyễn Đổng Chi bàn luận như sau: “Nếu những giọt mưa
ngâu trong Ả chức chàng Ngưu giải thích đặc điểm của vùng khí hậu thường chỉ

Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong khoá luận là mô típ nghệ
thuật “người hoá thân thành các loại thực vật” trong truyện cổ tích Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi tập trung vào khảo cứu mô típ
nghệ thuật “người hoá thân thành các loại thực vật” (cây, hoa, quả, củ) thuộc
kiểu truyện “người hoá vật” trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Đồng thời
trong quá trình khảo cứu, phân tích chúng tôi có đối sánh với mô típ hoá thân
của các nhân vật thành các loại sự vật khác trong cùng kiểu truyện.
3.3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu mô típ “người hoá thân thành các loại thực” vật nhằm làm rõ
sự hiện diện của một mô típ độc đáo, vai trò chức năng của mô típ hoá thân
trong việc cấu tạo cốt truyện và thể hiện chủ đề của thể loại cổ tích. Để giải
quyết mục tiêu đó, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Thống kê, phân loại để mô tả sự hiện diện cụ thể của mô típ hoá thân
thành các loại thực vật trong truyện cổ tích của người Việt.
- Nội dung, ý nghĩa của mô típ người hoá thân thành các loại thực vật
trong truyện cổ tích Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu của khoá luận
Trong khoá luận này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:
Phương pháp khảo sát thống kê: Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử
dụng phương pháp này để thống kê những ý kiến, nhận xét, đánh giá của các nhà
nghiện cứu về các vấn đề có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của khoá luận và
các dẫn chứng một cách hệ thống cho khoá luận. Đồng thời sử dụng phương
pháp này trong khảo cứu tư liệu về “mô típ hoá thân thành các loại thực vật”
trong truyện cổ tích Việt Nam.
Phương pháp phân tích văn học: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để
phân tích, đánh giá nội dung, ý nghĩa, kết cấu của mô típ nghệ thuật người hoá
thành cây, hoa, quả trong truyện cổ tích Việt Nam.
Phương pháp bình giảng văn học: Đây là phương pháp rất quan trọng trong

8 CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ KIỂU TRUYỆN
NGƯỜI HOÁ VẬT TRONG KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM

1.1. Khái quát chung về truyện cổ tích
1.1.1. Khái niệm “truyện cổ tích”
“Truyện cổ tích là loại truyện dân gian có tính phổ biến, hình thành từ thời
cổ đại, phát triển, tồn tại qua nhiều thời kì xã hội khác nhau, gắn chặt với quá
trình tan rã của công xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ quyền, và phân
hoá giai cấp trong xã hội. Nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những số phận,
những quan hệ và xung đột có tính chất riêng tư và phổ biến trong xã hội có giai
cấp (ở Việt Nam chủ yếu là xã hội phong kiến). Nó dùng một kiểu tưởng tượng
và hư cấu riêng (có thể gọi là “tưởng tượng và hư cấu cổ tích”) kết hợp với các
thủ pháp nghệ thuật đặc thù để phản ánh đời sống, và khát vọng của nhân dân,
đáp ứng nhu cầu nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và tiêu khiển của nhân dân” [24,
63].
1.1.2. Hoàn cảnh nảy sinh và phát triển của truyện cổ tích
Truyện cổ tích ra đời muộn hơn so với thần thoại, trong hoàn cảnh xã hội
đã có sự biến đổi sâu sắc. Do đó tìm hiểu truyện cổ tích chúng ta không thể bỏ
qua quá trình nảy sinh và phát triển của thể loại này.
Có thể thấy, truyện cổ tích xuất hiện vào thời kì công xã nguyên thủy tan

được nhân cách hoá (biết nói năng, suy nghĩ và hành động như con người)
nhưng nhìn chung đều mang tính chất “trần gian” thực tại chứ không siêu nhiên,
kì ảo như các con vật trong cổ tích thần kì. Truyện cổ tích loài vật không có
những con vật được lí tưởng hoá một cách tuyệt đối và nói chung nó cũng không
có lối kết thúc “có hậu” một cách phổ biến và công thức.
Ở nước ta, bộ phận cổ tích loài vật không được sưu tầm ghi chép sớm nên
bị mất mát nhiều và nhiều truyện còn lại ít nhiều bị ngụ ngôn hoá hoặc pha trộn
với truyện thần thoại như truyện: Cóc kiện trời, vừa có tính chất thần thoại, suy
nguyên vừa có tính chất của cổ tích loài vật. Truyện Công và Quạ vừa có tính
chất thần thoại, cổ tích vừa có tính chất ngụ ngôn, hay Bồ câu và Sáo, Thỏ và
Rùa cũng như vậy.
1.1.3.2. Truyện cổ tích thần kì
Đây là bộ phận quan trọng và tiêu biểu của thể loại cổ tích. Nó ra đời sớm
hơn truyện cổ tích sinh hoạt và có những đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích
đều có thể tìm thấy trong nhóm truyện này. Ra đời vào thời kì đầu của xã hội có
10

giai cấp, truyện cổ tích thần kì tập trung vào việc nhận thức, phản ánh xung đột
mới nảy sinh trong xã hội. Những xung đột ấy trước hết thể hiện ở mối quan hệ
giữa những con người trong gia đình với nhau, sau đó là những con người trong
xã hội. Đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích thần kì là yếu tố kì ảo rất đậm và
tham gia như một phần không thể thiếu trong sự phát triển của cốt truyện, nó đề
cao trí tưởng tượng phong phú và lãng mạn của các tác giả dân gian.
Nhân vật của truyện cổ tích thần kì là con người đời thường bé nhỏ mà chủ
yếu là những nhân vật bất hạnh như người mồ côi, người đi ở, người con riêng
(như Thạch Sanh, công chúa, hoàng tử, Chử Đồng Tử, Sọ Dừa, vợ Sọ Dừa…).
Các nhân vật này luôn đại diện cho cái thiện. Đối lập với những nhân vật đại
diện cho cái thiện là những nhân vật đại diện cho cái ác (các nhân vật “đàn anh”,
“bề trên”, dì ghẻ, người anh tham lam, trưởng giả…).
Bên cạnh các nhân vật là con người trong đời sống thực tế, trong truyện cổ

Sự phân loại truyện cổ tích nói trên chỉ mang tính chất tương đối, ranh giới
thực tế giữa các loại truyện cổ tích không phải lúc nào cũng rành mạch, rõ ràng.
Ta thấy những yếu tố thần kì - đặc trưng của truyện cổ tích thần kì vẫn xuất hiện
rải rác trong các truyện cổ tích sinh hoạt, hay những loài vật thuộc nhiều loại
khác nhau vẫn hay được nói tới trong các truyện cổ tích về con người. Cho nên,
để hiểu sâu hơn tính chất đa dạng, phong phú của từng tiểu loại truyện cổ tích
cần phải đi vào tìm hiểu hệ thống đặc trưng của từng loại truyện.
1.1.4. Nội dung và ý nghĩa của truyện cổ tích
1.1.4.1 Truyện cổ tích phản ánh, lý giải những mối quan hệ xung đột cơ
bản trong gia đình và ngoài xã hội
Trong thế giới văn học dân gian, nếu như thần thoại phản ánh quan niệm và
sự nhận thức của người Việt cổ về thế giới, truyền thuyết là sự nhận thức, lí giải
về lịch sử thì truyện cổ tích lại gần gũi hơn với con người trong cách phản ánh
những vấn đề cơ bản trong xã hội có giai cấp. Đó là những mâu thuẫn xảy ra
trong cuộc sống mà con người không thể tránh khỏi, nó trở thành vấn đề của
mọi giai cấp.
Phần lớn những truyện cổ tích tiêu biểu và quen thuộc đối với quảng đại
nhân dân đều xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh và lí giải những
xung đột, mâu thuẫn có tính chất riêng tư nhưng phổ biến, chẳng hạn như mâu
thuẫn giữa anh em trai trong truyện Cây khế, giữa chị em gái trong Sọ Dừa, giữa
dì ghẻ con chồng và chị em cùng cha khác mẹ trong truyện Tấm Cám Hoặc
những xung đột có tính chất bi kịch về hôn nhân và gia đình như trong các
truyện Trầu cau, Ba ông bếp, Đá Vọng Phu… Hầu hết hành động của các nhân
vật chính đều xuất phát từ xung đột trong quan hệ gia đình. Hành động ấy có thể
phát triển ra ngoài phạm vi gia đình, thậm chí có thể đi rất xa vào tận cung vua,
sang thế giới thần kì nhưng tất cả đều bắt nguồn từ xung đột gia đình và do quan
hệ này chi phối thúc đẩy. Khi xung đột gia đình được giải quyết xong thì hành
động ấy mới chấm dứt và tác phẩm mới thực sự kết thúc. Trong truyện Tấm
Cám hành động của nhân vật Tấm gắn liền với xung đột trong quan hệ dì ghẻ
con chồng và quan hệ chị em cùng cha khác mẹ. Từ những chi tiết đầu tiên của

lao động. Nó cho thấy tư tưởng nhân văn của tác giả dân gian và niềm tin vào
khả năng cải tạo thực tế của con người. Tác giả Nguyễn Văn Nguyên đã khẳng
định: “truyện cổ tích thường cho chúng ta thấy rằng trong cuộc đấu tranh cho
một cuộc đời tốt đẹp, có đau khổ mà không buông xuôi, có thất bại mà không
đầu hàng, có bi thảm mà không tuyệt vọng, thực tại có đen tối nhưng ánh sáng
của niềm tin vẫn muốn xua tan màu sắc ảm đạm của một cái gì tận thế và trong
ánh sáng đó con người vẫn cố gắng vươn lên” [15, 45].
13

1.1.4.2. Truyện cổ tích phản ánh lí tưởng xã hội và ước mơ của nhân dân
lao động
So với xã hội công xã nguyên thuỷ thì xã hội có giai cấp là một bước tiến
vĩ đại của lịch sử loài người nhưng không vì thế mà nó hoàn toàn tốt đẹp và
đáng yêu đối với tất cả nhân dân lao động. Bước sang thời kì xã hội có giai cấp,
những người bị đau khổ nhiều nhất trước hết là những người “đàn em”, những
kẻ “bề dưới”, những đứa con mồ côi không cha không mẹ trong các gia đình
phụ quyền. Họ bị áp bức, bóc lột nặng nề nên họ ước mơ có một xã hội công
bằng, dân chủ. Truyện cổ tích đã đáp ứng nhu cầu ấy bằng cách xây dựng thành
công một thế giới hiện thực trong mơ ước, mang khát vọng đổi đời. Những ước
mơ, lí tưởng mà truyện cổ tích phản ánh làm cho con người thêm lạc quan, tin
tưởng vào cuộc sống và tích cực hành động để xây dựng, cải tạo hiện thực ngày
càng tốt đẹp hơn.
Lí tưởng xã hội mà nhân dân lao động hướng tới là một xã hội công bằng,
dân chủ. Ở đó, những con người bé nhỏ, nghèo khổ có cuộc sống tốt đẹp hơn
thực tại đang sống; người xấu xí trở nên xinh đẹp, tài giỏi; kẻ xấu kẻ ác bị trừng
trị một cách đích đáng con người tốt được thưởng công hay đền đáp… Trong
truyện Thạch Sanh (Việt), Thạch Sanh tài năng, đức độ lập được nhiều công
được lấy công chúa còn Lí Thông độc ác, hám danh vọng, vô ơn bạc nghĩa bị
trời đánh hoá kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Trong truyện Tấm
Cám (Việt), Tua Tềnh Tua Nhì (Tày), cô Tấm, Tua Tềnh được sống trong hạnh

và Cao), cô út (Ba chị em gái và người chồng thuồng luồng), Gơ Lát (Gơ Liu
Gơ Lát) và căm ghét, lên án những nhân vật xấu, độc ác là mẹ con Ú, hai cô chị
của nàng út, mẹ con Gơ Lát. Như vậy, truyện cổ tích là môi trường đắc địa để
những bài học luân lí, đạo đức đến với mọi người một cách tự nhiên mà sâu sắc.
Triết lí “ở hiền gặp lành” là một trong những vấn đề đạo đức được ngợi ca
nhiều nhất trong truyện cổ tích. Tác giả dân gian đề cao và ca ngợi người hiền,
sự thương yêu đùm bọc giữa con người với con người. Chính vì thế mà những
vấn đề đạo đức, triết lí sống mà truyện cổ tích phản ánh luôn luôn gần gũi, sâu
sắc và dễ đi vào tâm hồn con người. Nó dạy cho con người biết sống có đạo lí,
chan hoà và giàu tình yêu thương, bao dung đùm bọc đúng như lời khẳng định
của nhà nghiên cứu văn học dân gian Nga A.M. Nôvicôva: “Truyện cổ tích dạy
con người sống, gây tinh thần lạc quan, khẳng định niềm tin vào sự tất thắng của
điều thiện và lẽ công bằng. Đằng sau tấm màn kì ảo của cốt truyện và trí tưởng
tượng cổ tích, có dấu ấn một mối quan hệ có thực của con người. Những tư
tưởng nhân đạo chủ nghĩa và sự nhiệt tình tràn trề sức sống đã tạo ra cho truyện
cổ tích sức thuyết phục gây xúc động mạnh mẽ đối với thính giả” [1, 268].
Tinh thần lạc quan trong truyện cổ tích thường được tác giả dân gian thể
hiện qua kết thúc có hậu. Tuy nhiên đây không phải là biểu hiện duy nhất mà chỉ
là biểu hiện dễ nhận thấy của tinh thần lạc quan. Bởi không phải truyện cổ tích
nào cũng kết thúc có hậu, có những câu chuyện kết thúc bi thảm, không “có
hậu” nhưng vẫn thể hiện được tinh thần lạc quan yêu đời và niềm tin vào con
người vẫn tỏa sáng. Những cái chết để cho lẽ phải và đạo lí cao đẹp của con
15

người được sống. Chẳng hạn những cái chết trong các truyện sự tích: Trầu cau,
Đá Vọng phu, Ba ông Bếp…
Đạo lí truyền thống của nhân dân trong truyện cổ tích còn được thể hiện
qua sự giáo dục đạo đức. Có rất nhiều truyện hướng hẳn vào đề tài, chủ đề đạo
đức, nhằm biểu dương những hành vi đạo đức cao đẹp, lên án những việc làm
xấu xa trái đạo đức như truyện: Sự tích con muỗi lên án người vợ bạc tình, Sự


1.1.5.2. Cốt truyện và kết cấu
Truyện cổ tích có cốt truyện thường ngắn gọn, ít tình tiết, trung thành với
trục thời gian khi kể chuyện, lược bỏ những yếu tố rườm rà như văn học viết hay
tiểu thuyết. Đặc biệt, cốt truyện cổ tích mang những nét đặc trưng riêng phụ
thuộc vào các mô típ tạo thành, đó là sự đan dệt những mô típ nghệ thuật quen
thuộc theo một hệ thống nhất định và khi thay đổi vị trí các mô típ đó sẽ tạo ra
những cốt truyện mới.
Các kiểu kết cấu thường gặp trong truyện cổ tích là: kết cấu theo một trục
đường thẳng, kết cấu ba chặng tăng tiến, kết cấu đồng quy.
Kết cấu theo một trục đường thẳng: là kiểu kết cấu cốt truyện có một nhân
vật chính. Nhân vật đó hành động liên tiếp và sự kiện bị chi phối bởi hành động
của nhân vật đó như truyện Cây tre trăm đốt, Tấm Cám, Lọ nước thần, Ngày
xưa có anh Trương Chi thì anh Khoai, cô Tấm, nhân vật người chồng và chàng
Trương Chi là các nhân vật chính thì mọi sự kiện đều xoay quanh số phận của
những nhân vật này.
Kết cấu ba chặng tăng tiến: là kiểu kết cấu phổ biến trong truyện cổ tích
nước ngoài, ít gặp ở Việt Nam tuy kiểu kết cấu này mỗi chặng trong cốt truyện
là một thử thách đối với nhân vật, thử thách sau cao hơn, nguy hiểm hơn và khi
vượt qua thử thách thứ ba (cũng là thử thách cuối cùng) là lúc nhân vật cũng đã
đạt được ước muốn của mình và kết thúc truyện như truyện Bảy chị em, Thạch
Sanh, Tấm Cám, Sọ Dừa. Trong truyện Bảy chị em, cô út bị hại chết và hoá thân
thành chim, thành rau tầm bóp và cuối cùng thành bụi mai và trở lại thành
người. Trong truyện Thạch Sanh thì chàng Thạch Sanh phải trải qua những thử
thách sau: đầu tiên là giết Trăn tinh có phép thần thông biến hoá, thử thách thứ
hai là giết đại bàng cứu công chúa, thử thách cuối cùng là dẹp yên loạn mười
tám nước chư hầu. Cô Tấm trong truyện Tấm Cám thì bị chết và hoá thân thành
chim Vàng anh, thành cây xoan đào và cuối cùng thành quả thị được bà lão
mang về và đoàn tụ với nhà vua sống hạnh phúc…
Kiểu kết cấu đồng quy: là kiểu kết cấu mà nhân vật chia làm hai tuyến, cả

tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên…
Kiểu nhân vật người em út: là những người con út trong gia đình, hay
người em nuôi bị anh hoặc chị chèn ép, chiếm đoạt tài sản như: người em trong
truyện Hà rầm hà rạc, cô út trong truyện Sọ Dừa, cô út trong truyện Bảy chị
em…
Kiểu nhân vật người đi ở: nhân vật thuộc kiểu này thường là những con
người nghèo khổ, mồ côi, phải đi ở cho nhà giàu, bị chủ đối xử bất công, bị bóc
lột sức lao động như anh Khoai trong truyện Cây tre trăm đốt, cô bé trong Sự
tích chim Vịt, cô gái trong Sự tích con khỉ…
Kiểu nhân vật dũng sĩ: là nhân vật anh hùng có khả năng phi thường, được
thần thánh hoá, có tinh thần dũng cảm bảo vệ cộng đồng, bảo vệ phụ nữ, lập
được những chiến công lừng lẫy: Thạch Sanh trong truyện Thạch Sanh, ông Hộ
trong truyện Âm dương giao chiến…
18

Kiểu nhân vật ngốc nghếch, khờ khạo: chàng Ngốc trong truyện Chàng
Ngốc đi buôn, người chồng trong truyện Con vợ khôn lấy thằng chồng dại…
Kiểu nhân vật xấu xa: như đứa con bất hiếu (trong truyện Sự tích trái thơm,
Đứa con trời đánh…), người con dâu bất hiếu (trong truyện Sự tích dây chiềm
toong hây ), người chồng bất nghĩa (trong truyện Đồng tiền vạn lịch…), người
vợ phản bội (trong truyện Sự tích con muỗi, Thịt gà thuốc chồng…), người anh
độc ác, người chú tham lam (trong truyện Cây khế, A Xanh, Đứa trẻ mồ côi… ).
Trên đây là một số kiểu nhân vật thường gặp trong truyện cổ tích Việt
Nam. Dựa vào đặc điểm của mỗi loại truyện cổ tích mà có sự phân loại các kiểu
nhân vật khác nhau tương ứng với đặc trưng của tiểu loại đó.
1.1.5.4. Lực lượng thần kì
Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích là kết quả sáng tạo kì ảo của tác giả
dân gian. Đó là một thế giới bao hàm những nhân vật siêu nhiên, những phép
màu nhiệm, sự biến hoá thần thánh kì ảo. Trong truyện cổ tích, lực lượng thần kì
giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên yếu tố hấp dẫn li kì của kiểu truyện.

người sau khi chết. Cõi âm được quan niệm là ở trong lòng đất, là nơi trú ngụ
của hồn người và loài vật sau khi chết. Diêm Vương là người cai quản cõi âm và
xét xử những hồn người có tội khi sống trên trần thế. Theo quan niệm dân gian,
người có công đức thì được lên cõi trời, con người có tội thì phải xuống địa ngục
và bị trừng phạt tuỳ theo tội trạng. Các truyện Sự tích nhà Bè, Truyên Thủ Huồn,
phản ánh rất rõ quan niệm này.
Ngoài các lực lượng siêu nhiên như Ngọc Hoàng, Diêm Vương còn có các
thần thánh cõi thủy phủ, long cung là vua Thủy Tề trong các truyện như Thạch
Sanh, Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán, Sự tích Đầm mực… Các lực
lượng như Tiên, Phật là những lực lượng thần thánh rất gần gũi với những con
người nghèo khổ, bất hạnh trong truyện cổ tích. Những nhân vật thần kì này
xuất hiện cứu giúp người lương thiện, trừng trị kẻ gian ác. Chẳng hạn trong Tấm
Cám, Bụt hiện lên giúp Tấm có quần áo đẹp đi dự tiệc, chống lại mẹ con Cám
độc ác…
* Con vật thần kì: bao gồm chim thần, rắn thần, rùa thần, khỉ, trăn tinh, hồ
tinh, ma quỷ yêu quái… Kiểu lực lượng thần kì này rất đa dạng và đông đảo, có
thể được chia thành hai kiểu loại sau: đó là những con vật thần đứng về phe
thiện hoặc mang tính chất trung lập, vô tư, không thiên vị phía nào (thiện hay
ác) như chim thần trong truyện Cây khế, bầy khỉ trong truyện Hà rầm hà rạc.
Với người anh và người em cả chim thần và bầy khỉ đều nói là làm giống nhau:
“Ăn một quả trả cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng” và “Hà rầm hà
rạc - Bỏ hang bạc hay hang vàng”. Bên cạnh đó những con vật thần kì như trăn
tinh, hồ tinh, hùm tinh, xà tinh, mãng tinh, thần trùng… được coi là những yêu
quái, hung thần, ma quỷ thường xuyên thù ghét và hãm hại con người. Chẳng
hạn truyện Thạch Sanh, xuất hiện trăn tinh, đại bàng, hồ tinh đối đầu với Thạch
Sanh, con Hà Niêu đực bắt mất người yêu của Ma talha trong truyện Cây gậy
đầu sinh đầu tử (Chàm),
20

* Vật có phép màu nhiệm: bao gồm đàn, ngọc, cung thần… Ta có thể thấy

kẻ ác.
1.1.5.5. Không gian và thời gian nghệ thuật
* Không gian nghệ thuật
21

Tác giả Lê Trường Phát, trên cơ sở xét về phương diện bản thể, không gian
cổ tích thần kì có hai dạng: “Không gian cuộc sống trần thế và không gian kì ảo
phi trần thế. Không gian cuộc sống trần thế chủ yếu là không gian làng quê. Có
thể có không gian cung đình trong Tấm Cám, không gian đảo hoang trong Sọ
Dừa, không gian biển cùng với đảo vàng trong Cây khế nhưng về cơ bản vẫn là
không gian làng quê nơi nhân vật sinh ra và sống phần lớn cuộc đời của mình.
Không gian Thiên phủ (cõi tiên, thiên đình) trong truyện Từ Thức lấy vợ tiên,
không gian Âm phủ trong Sự tích sông Nhà Bè, không gian Thủy phủ (cõi nước)
trong Người thợ mộc Thanh Hoa” [19, 44]. Tuy nhiên loại không gian kì ảo ít
xuất hiện trong truyện cổ tích, phần lớn là không gian đời thường, không gian
sinh hoạt, chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình.
Không gian cổ tích bao quanh hoạt động của nhân vật chính và là không
gian khép kín, không gian chỉ tồn tại xung quanh nhân vật chính mà thôi còn các
nhân vật khác làm gì, ở đâu trong khi nhân vật chính hoạt động thì cổ tích không
hề quan tâm. Không gian cổ tích khó xác định phạm vi, nơi chốn, đặc điểm.
Truyện nào cũng có một không gian hao hao giống nhau mà ta bắt gặp đâu đó
trong một truyện cổ tích khác, cổ tích chỉ cần kể đến tên, địa danh không gian đó
còn nó ra sao cổ tích không quan tâm.
Không gian trong truyện cổ tích loài vật là không gian sinh tồn và hoạt
động của loài vật, hợp nhất giữa không gian tự nhiên vốn tự nó như thể tự thuở
hồng hoang xa xưa với không gian sinh hoạt của những con vật và không gian
sinh hoạt xã hội của con người. Ở đấy con vật biết nói năng, hoạt động và ứng
xử như người. Hai thứ không gian tự nhiên và không gian xã hội kết hợp với
nhau tạo nên một “thế giới cổ tích” độc đáo riêng của cổ tích loài vật. Phần
không gian sinh hoạt xã hội khiến cho người nghe thấy gần gũi bởi hơi thở nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status