BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ HIẾU
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG HIỂU - GHI NHỚ VÀ
HỨNG THÚ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
ĐỐI VỚI CÁC BÀI TẬP YOGA DÀNH CHO TRẺ EM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
dẫn làm đề tài Ths. Đặng Thị Sợi đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề
tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các phòng ban của trường đại học Tây Bắc, đặc
biệt là trường Mầm non Chiềng Sinh và trường Mầm non Vũ Bản tạo điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ cho em trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K50 ĐHGD Mầm non đã
động viên và ủng hộ em để đề tài được hoàn thiện đúng thời gian.
Đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè.
Người thực hiện
Lê Thị Hiếu MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phạm vi nghiên cứu 4
6. Khách thể và địa bàn nghiên cứu 4
7. Đối tượng nghiên cứu 4
8. Phương pháp nghiên cứu 4
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận 4
8.2. Phương pháp thực nghiệm 4
8.3. Phương pháp điều tra 4
8.4. Phương pháp quan sát và đàm thoại 4
8.5. Phương pháp trắc nghiệm 5
2.2. Đánh giá thực trạng về mức độ hiểu, nhớ bài tập yoga của trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi đối với các bài tập yoga cho trẻ em. 25
2.3. Đánh giá mức độ hứng thú của trẻ 5-6 tuổi đối với các bài tập yoga
dành cho trẻ em 37
Kết luận và kiến nghị 50
1. Kết luận 50
2. Kiến nghị 50
2.1. Đối với Nhà trường 50
2.2. Đối với Giáo viên 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đào tạo ra những con người phát triển toàn diện là nhiệm vụ của quá trình
dạy học, giáo dục trong tất cả các bậc học nói chung và bậc học mầm non nói
riêng. Vì vậy ngành giáo dục mầm non phải không ngừng tìm hiểu những biện
pháp mới nhất và hiệu quả nhất để làm cho công tác chăm sóc và giáo dục trẻ
ngày càng hiệu quả.
Để công tác chăm sóc và giáo dục trẻ bắt kịp xu hướng phát triển của thời
đại chúng tôi không ngừng cập nhật những thông tin, những phương pháp,
những thành tựu về việc chăm sóc và giáo dục trẻ ở Việt Nam và trên thế giới.
Trong đó có những trường đã đưa yoga vào giảng dạy cho trẻ mầm non. Vậy
yoga có ảnh hưởng như thế nào đối với trẻ, điều này làm chúng tôi tò mò và
muốn tìm hiểu ý nghĩa của yoga đối với sự phát triển của trẻ 5 – 6 tuổi.
Yoga là một nghệ thuật cổ xưa có nền tảng là một môn khoa học cực kì
tinh tế nghiên cứu về thể xác, tâm trí và tinh thần. Việc thực hành lâu dài yoga
sẽ dần dần cho phép mỗi chúng ta cảm nhận được sự yên tĩnh và sự hợp nhất của
bản thân với môi trường xung quanh. Phần lớn chúng ta đều biết rằng thực hành
yoga sẽ làm cho cơ thể khoẻ mạnh, dẻo dai và yoga cải thiện chức năng hoạt
luyện cho trẻ sự bình tĩnh, làm chủ được bản thân, sự tự tin và cả sự cân bằng.
Yoga cũng mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là đối với những đứa trẻ “bận
rộn trong cuộc sống hiện đại”. Laurie Jodan là chuyên gia về yoga cho biết
“Yoga mang lại rất nhiều lợi ích cho trẻ em. Về cơ bản nó tạo ra nền tảng cho
một cuộc sống khoẻ mạnh và mang lại cho trẻ em nguồn năng lượng để đối phó
với áp lực và Strees”. Do đó trẻ em có thể sử dụng các phương pháp mà chúng
học được từ yoga để vượt qua các tình huống căng thẳng trong cuộc sống như
xung đột với gia đình, bạn bè….
Đặc biệt trong các giai đoạn phát triển của trẻ em yoga còn góp phần tạo ra
sự ổn định về mặt tâm lý giúp trẻ tránh được những suy nghĩ tiêu cực hoặc
những hành động bột phát đó không thích nghi kịp với những thay đổi quá
nhanh của cơ thể mình. Ngoài ra yoga còn giúp các cơ quan trong cơ thể trẻ phát
triển cân bằng và khoẻ mạnh. Hơn nữa yoga còn làm tăng khả năng tập trung
của trẻ giúp tăng cường và duy trì độ dẻo dai linh hoạt cho trẻ nhỏ, giúp trẻ nhỏ
có một cơ thể cân đối, đảm bảo sự hoàn thiện về thể chất kéo dài suốt đời. Tập
yoga giúp trẻ có một tinh thần sảng khoái, phát triển kỹ năng làm việc tập thể, tự
kiềm chế….Có thể nói rằng rèn luyện thể chất và tinh thần cho trẻ mầm non là
vô cùng quan trọng. Để có một cơ thể khoẻ mạnh, một trí tuệ minh mẫn đó là cả
một quá trình rèn luyện lâu dài và gian khổ, bao gồm những quy trình, bài học
và những phương pháp khác
Với những vai trò trên, hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thực hành một số
bài tập yoga là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên mầm non trong
cuộc sống nhau. Giải pháp yoga là một trong những đáp án để trả lời cho những
thắc mắc đó.hiện đại ngày nay. Phần lớn thì yoga mới chỉ được áp dụng và
hướng dẫn trẻ Mầm non ở các nước như Nhật Bản, Mĩ,… còn ở nước ta yoga
3
dành cho trẻ em vẫn hết sức mới mẻ. Trường mầm non đầu tiên đưa môn yoga
vào tập cho trẻ ở tuổi 3-5 là trường mầm non Quốc tế Trẻ Thơ, Quận Tân Bình,
Thành Phố Hồ Chí Minh. Hầu hết giáo viên chưa nhận thức được tầm quan
4
để tìm hiểu khả năng hiểu – nhớ và hứng thú của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với
các bài tập yoga dành cho trẻ em, làm cơ sở khoa học để đưa bộ môn yoga vào
trường mầm non và làm tài liệu cho những bậc phụ huynh có con em đang theo
học bộ môn này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Sưu tầm tài liệu, tìm hiểu một số cơ sở lý luận có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
Điều tra, khảo sát, để thấy được khả năng hiểu - ghi nhớ và hứng thú của
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với các bài tập yoga dành cho trẻ em .
5. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và năng lực bản thân có hạn, tôi chỉ tập chung nghiên
cứu 48 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: 24 trẻ trường Mầm non Chiềng Sinh, Mai Sơn,
Sơn La và 24 trẻ trường mầm non xã Vũ Bản – huyện Bình Lục – tỉnh Hà Nam.
6. Khách thể và địa bàn nghiên cứu
24 học sinh Trường Mầm non Chiềng Sinh – Mai Sơn – Sơn La.
24 học sinh trường Mầm non xã Vũ Bản – Bình Lục – Hà Nam.
7. Đối tượng nghiên cứu
Khả năng hiểu – nghi nhớ và hứng thú của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với các
bài tập yoga cho trẻ em.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu, phân tích đánh giá sách, tài liệu có liên quan đến vấn đề yoga
cho trẻ em.
8.2. Phương pháp thực nghiệm
Tổ chức cho trẻ thực hành các bài tập yoga dành cho trẻ em 5 – 6 tuổi.
8.3. Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi để thu thập các thông tin cá nhân làm cơ sở cho việc
phân tích các số liệu sau này.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ YOGA
1.1. Khái niệm Yoga và yoga cho trẻ em
1.1.1. Yoga là gì?
Yoga là một lối luyện tập và kiến thức đã có từ lâu đời, 95% của nó là từ
thực tiễn. Yoga là một hệ thống của nhiều kỹ thuật làm sao cho thân thể và trí
não khỏe mạnh. Nó là một khoa học làm thế nào đem lại sự hài hòa hoàn toàn và
quân bình cho đời sống. Bằng chứng là những ai luyện tập yoga đều đặn đều có
sức khỏe tốt.
Yoga rất hữu ích, nó tự tại như ánh sáng mặt trời hay không khí, nó không
thuộc bất cứ một ai, một quốc gia nào hay một dân tộc nào, mà nó là của cả nhân
loại. yoga đã được phát triển tại vùng Hy Mã Lạp Sơn hàng ngàn năm về trước
từ những nhà nghiên cứu cổ xưa thông thái. Họ quan sát thân thể và tâm trí con
người một cách sâu xa. Họ cũng nhận rõ các động tác của các loài động vật khác
nhau, họ bắt chước những tư thế đó và thể nghiệm trên chính thân thể của họ.
Đó chính là lý do tại sao nhiều bài tập được lấy tên từ các con thú. Những tư thế
yoga đó được gọi là Asana và có thể tới 50.000 tư thế.
Yoga là một nghệ thuật cổ xưa có nền tảng là một môn khoa học cực kỳ
tinh tế, nghiên cứu về thể xác, tâm trí và tinh thần. Yoga có nguồn gốc từ tiếng
Phạn là Yuj có nghĩa là liên kết (liên kết giữa hai yếu tố thể chất và tinh thần
bằng một phương pháp đặc biệt).
Bộ môn Yoga là một bộ môn khoa học rèn luyện sức khỏe ngày xưa khởi
Những người thực hành thiền đều đặn cách thức sẽ đạt trạng thái cân bằng và
hoà hợp nội tâm, và khi đó sẽ cảm nhận có niềm hạnh phúc với yên vui tràn ngập.
1.1.1.1. Cội nguồn và sự phát triển của yoga
Khởi nguồn từ Ấn Độ, yoga được coi là một trong những hệ thống triết lý
tồn tại lâu đời nhất trên thế giới cách đây khoảng 7.000 năm. Đức Sadarhiva đã
hệ thống kiến thức về môn yoga và bổ sung các kiến thức về khoa học thực tiễn,
được biết đến với cái tên là Tantra Yoga. Tantra được hình thành như một khoa
học toàn diện về cuộc sống bao gồm mọi khía cạnh liên quan đến việc phát triển
cá nhân và xã hội từ “Tantra” có nghĩa là “cái để giải thoát khỏi sự ngu dốt” vì
thế các bài tập của nó được đặt căn bản trên một phương pháp có hệ thống và
khoa học, để đưa con người đạt đến giác ngộ về tinh thần. Các bài tập của nó
không chỉ giới hạn trong thiền và yoga mà còn được mở rộng sang các lĩnh vực
nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, y học, khiêu vũ, và cả ý thức về môi trường.
Nói tóm lại Tantra là một con đường thiên liêng để tiếp cận cuộc sống. Kể từ đó
môn yoga vẫn tiếp tục được bổ sung và ngày càng phát triển rất phong phú, có
xu hướng tách ra khỏi sự ràng buộc, chi phối của bất cứ một tôn giáo nào, nhằm
đáp ứng nhu cầu hướng thiện của con người. Vì thế trải qua hàng ngàn năm, mặc
dù lịch sử xã hội có nhiều biến chuyển to lớn nhưng yoga không hề bị mai một,
ngược lại vẫn duy trì tràn đầy sức sống và ngày càng phát triển rộng rãi không
những tại Ấn độ mà còn lan rộng sang hầu hết các nước ở tất cả các Châu lục.
8
Sức mạnh lan tỏa của yoga đã khiến nó không còn xa lạ đối với nhiều người
trong thời đại hiện nay.
1.1.1.2. Phân loại yoga
Yoga là một danh từ tổng quát, phải thêm một từ khác nữa trước chữ yoga
thì mới biết đó thuộc loại yoga nào. Thí dụ như Bhakti Yoga, Karma Yoga,
Jnana Yoga, Raja Yoga, Hatha Yoga …
Theo Yoga vô cực, khởi nguồn Yoga có 5 loại.
Loại thứ 1: Bhakti Yoga: Là con đường sùng bái, sùng tín, hay tín ngưởng.
nhanh nhất để tâm hồn trở nên trong sáng và vượt khỏi mọi sự ràng buộc của thế
gian. Dạng Yoga này được gọi như vậy là bởi vì sau khi đã đạt được chính quả
[jivanmukti] người ấy vẫn không ngừng hoạt động. Thông thường con người ta
làm bất cứ một việc gì cũng có những ước muốn hoặc tham vọng. Nhưng đối với
một người đắc quả, hành động mà không bị trói buộc mình vào thành quả đó, thì
người đó mới có thể thoát khỏi sự ràng buộc của mọi hành động.
Như vậy Karma yoga là con đường hướng dẫn người ta hết lòng thực hiện
bổn phận của mình mà không hề mong được lợi lộc gì trong đó. Đối với một
người bình thường, những điều này khó thực hiện. Bởi vì hầu hết chúng ta
thường mơ tưởng và ham muốn đến những lạc thú mà hành động của mình có
thể đem lại. Ta luôn luôn mong muốn đến sự thăng tiến sắp tới của mình từ địa
vị, uy tín, quyền lực trong xã hội v.v… Ta thường làm rất nhiều việc nhằm mục
đích trở nên là người quan trọng trong công việc mà mình đang làm, luôn luôn
mơ tưởng sẽ đạt được những gì mà người khác không thể đạt được. Nhưng đối
với các hành giả Karma yoga thì khác biệt hoàn toàn, họ biết cách loại bỏ tính
ích kỷ trong tư tưởng, dứt bỏ sự luyến ái, phụng sự nhân loại mà không mong
cầu sự đền đáp. Những bực gương mẩu của Karma yoga là Pasteur, Calmette,
Yersin, Gandhi v.v…
Loại thứ 3: Jnana yoga: Là con đường minh triết
Người thực tập Jnana yoga họ thường dựa theo cơ sở của những cái trước,
cái sẳn có mà họ lý luận để tìm ra chân lý, hoặc là họ có những ý nghĩ, ý tưởng
mới. Đây là dạng Yoga mà tất cả các lĩnh vực trong xã hội nào cũng đều áp
dụng. Nguyên lý của nó là ” đưa ra một vấn đề, tìm hiểu vấn đề một cách thấu
đáo, cuối cùng là giải quyết vấn đề đó”.
Nó thích hợp cho những nhà trí thức và khoa học, dùng trí tuệ và triết lý để
hướng tới phát triển tâm linh. Jnana yoga được xem là phương pháp tu luyện
khó khăn nhất trong các loại Yoga, nó chỉ sau Raja yoga. Người theo Jnana yoga
không dùng đức tin để tạo sự sùng tín như Bhakti yoga, hay dùng thân xác để
hành động như Karma yoga, hoặc tập những động tác [asana] như Hatha yoga.
Phép tu này đòi hỏi hành giả phải có một trí óc nhạy bén, một trí tuệ sáng suốt.
Bước thứ 3
Là Asana. Asana là một tư thế được giữ cố định một cách thoải mái. Đây là
phần nổi tiếng nhất của Yoga, nhưng nó cũng thường bị hiểu sai. Asana không
phải là các bài tập thông thường như thể dục. Mà Asana là những bài tập đặc
biệt có hiệu quả cụ thể lên các tuyến nội tiết, các khớp, cơ bắp, dây chằng và các
rể thần kinh.
Khía cạnh quan trọng nhất của Asana là tác động lên các tuyến nội tiết, nơi
tiết xuất hoóc-môn trực tiếp vào máu. Nếu một trong các tuyến nội tiết tiết xuất
quá ít hoặc quá nhiều thì cơ thể sẽ có vấn đề.
11
Bên cạnh việc mang lại sức khoẻ thể chất, các Asana có một ảnh hưởng
quan trọng đối với tâm trí. Sự cân bằng của các tuyến nội tiết giúp cho sự cân
bằng của tâm trí. Cũng nhờ tác động mạnh lên các trung tâm thần kinh, các
Asana giúp kiểm soát các khuynh hướng tâm trí ở các trung tâm này.
Bước thứ 4
Là Pranayama hay còn gọi là “kiểm soát dòng năng lượng”. Yoga định
nghĩa cuộc sống như trạng thái tồn tại song song của thể chất và tâm trí. Các
năng lượng sức sống này gọi là các vayu hay “khí”. Có mười loại khí vayu trong
cơ thể con người, chịu trách nhiệm về các hoạt động chuyển động bao gồm thở,
lưu thông máu, bài tiết, vận động tứ chi… Điểm kiểm soát của tất cả các khí
vayu này là một cơ quan gọi là Pranedriya.
Trong Pranayama có một quá trình đặc biệt điều chỉnh hơi thở để nhịp của
Pranendriya dừng lại và tâm trí trở nên yên tĩnh. Thực tập Pranayama sẽ giúp
cho ta điều chỉnh lại sự cân bằng năng lượng trong cơ thể.Tập luyện Pranayama
là một bài tập rất phức tạp và có thể nguy hiểm nếu không được chỉ dạy và
hướng dẫn bởi một người thầy có kinh nghiệm.
Bước thứ 5
Là Pratyahara có nghĩa là rút tâm trí khỏi sự rằng buộc với ngoại cảnh, tiến
tới làm chủ các giác quan, cảm xúc tiêu cực… dần dần tiến về trạng thái không
Các Asana giúp ta giúp ta rèn luyện hệ thần kinh, cải thiện tuần hoàn, tăng
cường độ mềm, dẻo và làm giảm bớt sự căng thẳng. Asana khi được thực hành
một cách từ từ, chậm rải, kết hợp cùng với sự chú tâm sẽ mang lại lợi ích không
chỉ đơn thuần về mặt thể chất. Nó mở rộng khả năng trí não và thúc đẩy sự phát
triển những khả năng tâm linh của hành giả, đây cũng là những kết quả đầu tiên
mà Hatha Yoga mang lại.
Hai phần tiếp theo đó là Mudra và Pranayama nhằm làm cho hơi thở yên
lặng bằng cách kích thích một số vùng kém hoạt động trong hệ thần kinh khi đã
bóc hết lớp bã của các sợi thần kinh. Phần thứ tư của Hatha Yoga, đây là phần
được xem là kết quả của việc tập luyện công phu của ba phần trên. Đến giai
đoạn này người tập sẽ nghe được những âm thanh rất nhỏ khi ngồi tịnh tâm.
Hiện tượng lạ thường này thường kéo dài một lúc, người tập Yoga nghe thấy âm
thanh kia mỗi lúc một rõ, cuối cùng thì dứt bặt hẳn khiến cho ý thức chìm dần
vào trong đó. Trạng thái này được mô tả bằng các từ như Samadhi,
Sahajavastha, Unmani v.v… đó là trạng thái an lạc tột độ, sẽ mãi mãi không bị
khuấy động dù có bất cứ điều gì xảy ra trong đời.
Từ thời cổ đại, khởi nguồn của yoga có 5 loại, về sau này các vị đạo sư đã
tạo ra thêm rất nhiều loại yoga khác ví dụ như: Mantra Yoga, Kriya Yoga,
Tantra Yoga, Prana Yoga, Shiva Yoga, Yantra Yoga, Kundalini Yoga v.v…
Hiện nay trên thế giới, nhất là ở Mỹ… xuất hiện rất nhiều loại yoga như
Power Yoga, Ashtanga Yoga, Hot Yoga, Bikram Yoga, Intergral Yoga v.v…
13
Nhìn chung, tuy khác nhau ở tên gọi, nhưng cùng chung mục đích là rèn luyện
sức khỏe, kiểm soát cảm xúc, phát huy tiềm năng trí tuệ của con người.
1.1.1.3. Đặc điểm các bài tập Yoga
Các tư thế yoga thường được gọi là ASANAS bao gồm những bài tập khác
nhau do những vị đạo sư yoga đã dần dà xây dựng và phát triển nên từ hàng
ngàn năm trước. Những tư thế này giúp cho người tập đạt được sức khoẻ thực sự
cả về tinh thần lẫn thể xác. Từ ASANAS hàm nghĩa là những tư thế thoải mái
14
Khi luyện tập Yoga mục đích là đem lại cho người tập có một sức khỏe và
một tâm hồn thánh thiện, giống như các cơ quan bị bệnh của cơ thể được phục
hồi nhờ các loại thuốc uống bên trong hoặc sử dụng bên ngoài, các cơ quan đó
cũng được chữa lành một cách an toàn và hiệu quả hơn bằng các bài tập với
Yoga. Yoga giúp quân bình tâm trí, thể xác, giảm stress, giúp cho tinh thần
mạnh mẽ, giúp đối phó với bệnh tật, giúp người tập lấy lại tuổi thanh xuân và
giữ mãi tuổi xuân.
Yoga còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện vóc dáng. Khi tập
các động tác ASANAS nguồn năng lượng thừa tiêu hao dần nhưng không thấy
đói, như vậy những người có thân hình mập còn giúp giảm cân giải phóng năng
lượng dư thừa. Trái lại những người có thân hình gầy yếu khi luyện tập đến mức
cân bằng thì sẽ nẩy sinh nhu cầu cần cung cấp năng lượng và cải thiện vóc dáng.
1.1.2. Thế nào là yoga cho trẻ em?
Yoga cho trẻ em là những bài tập yoga đã được biên soạn lại đơn giản hơn,
phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ em.
Yoga là một hoạt động thư giãn và thú vị, là một hình thức thay thế các
môn thể thao nhằm tạo cân bằng trong cuộc sống, hướng tới một tâm thế bình hòa,
bao dung, tĩnh tại và thậm chí còn làm tăng hiệu suất làm việc, học tập nhờ sự tập
trung và tính linh hoạt cao độ chỉ có trong Yoga – một hình thức nghệ thuật của nền
văn hóa cổ đại. Chính vì vậy, không chỉ có người lớn mà trẻ em cũng có thể tập
luyện Yoga và tất nhiên, nó cũng đem lại những tác dụng vượt bậc.
Tập Yoga giúp tăng cường và duy trì độ dẻo dai, linh hoạt cho trẻ nhỏ, giúp
trẻ có một hình thể cân đối, đảm bảo phát triển một cách hòa hòa về thể chất
cũng như tâm hồn. Với những cử động nhịp nhàng và sự tập trung cao khi tập
không chỉ giúp cho trẻ trở nên linh hoạt hơn mà còn giúp tâm trí trẻ được ổn
định, tăng cường trí nhớ, nâng cao sự tập trung và khả năng suy luận. Bên cạnh
đó, Yoga cũng giúp trẻ tạo được thăng bằng trong cuộc sống của mình. Hầu hết
mỗi trẻ đều phải trải qua những căng thẳng trong việc học tập, áp lực cạnh tranh
với những đứa trẻ khác cũng như những hoạt động ngoại khóa không ngừng
Theo Didi Amrta, chuyên viên dạy yoga cho trẻ em và Thiền định từng dạy
tại nhiều trung tâm yoga trong cả nước như tại G’n Yclub, trung tâm Hy
Vọng…. cho biết “Đối với trẻ em khi luyện tập yoga cần phải tập trung sự chú
ý của các em, làm cho các em tự nhận thức được sự cần thiết của yoga, hướng
dẫn cho các em thực hiện một số động tác khó để các em thấy thách thức và hào
hứng. Trẻ em cần sự vui nhộn nên cần tạo ra một không khí vui vẻ, sôi nổi”.
1.1.2.2. Đặc điểm nhận thức yoga của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Yoga là một môn học đã được đưa vào giảng dạy như một môn thể dục,
đặc biệt là ở những nước phát triển như: Mĩ, Nhật Bản… Ở Việt Nam thì chủ
yếu là các trường mầm non lớn như: Trường mầm non Quốc tế Trẻ Thơ, trẻ mới
được tiếp xúc với bộ môn này. Tuy nhiên trẻ ở các lớp này đều tỏ ra rất thích thú
đối với môn học bởi sự thú vị và một cơ thể khỏe mạnh do yoga đem lại.
1.1.2.2.1. Tiếp nhận gián tiếp
Trẻ 5-6 tuổi chưa thể tự đọc và hiểu các bài tập yoga do trình độ nhận thức
16
của trẻ chưa đạt tới trình độ có thể hiểu được nội dung bài tập được thể hiện trên
văn bản bởi vậy trẻ muốn hiểu và tập đúng thì cần phải thông qua khâu trung
gian là cô giáo - với tư cách là người đọc và hiểu nội dung bài tập sau đó truyền
đạt nôi dung, dạy lại bài tập cho trẻ để trẻ có cái nhìn đúng đắn, động tác đúng
với bài tập. Do đặc điểm tiếp nhận gián tiếp nên đã giảm đi tính độc lập, chủ
động của trẻ. Chính vì vậy phương pháp truyền đạt của giáo viên phải làm sao
để giúp cho trẻ tiếp thu được một cách tích cực, đầy đủ, toàn diện nhất về bài tập
là rất quan trọng.
1.1.2.2.2. Tiếp nhận mang tính tập thể
Ở trường mầm non trẻ học yoga chủ yếu dưới hình thức nhóm hoặc cả lớp.
Vì thế việc tiếp nhận các bài tập yoga của trẻ mang tính tập thể. Trẻ nghe cô
giáo hướng dẫn, điều khiển bài tập, vì thế trẻ thường phân tán khả năng chú ý,
khó tập trung cho các bài tập. Tuy nhiên trong môi trường tập thể sẽ tạo ra một
không khí vui nhộn, ấm cúng, làm cho trẻ có động lực để thi đua phấn đấu xem
nào đó lâu dài và thường thiếu tập trung khi tập luyện. Đây là đặc điểm mà yoga
cho trẻ nhỏ phải có những động tác khác với các động tác yoga cho người lớn để
phù hợp với trẻ. Nếu bé quan tâm đến học yoga, hãy cho trẻ tham gia vào các
khóa học của các trung tâm vui chơi giải trí cộng đồng và phòng tập yoga trong
khu phố của bạn. Trẻ nhỏ hơn, bạn có thể cho con tập tại nhà của giáo viên có
uy tín gần nơi bạn cư trú.
Ngoài việc phụ thuộc vào độ tuổi khả năng tiếp nhận yoga còn phụ thuộc
vào sự phát triển của cá nhân mỗi trẻ, mỗi trẻ có một vốn kinh nghiệm sống
khác nhau, khả năng tư duy khác nhau, vì vậy giáo viên hướng dẫn cần chú ý
phát hiện ra những đặc điểm cá nhân này để có phương pháp dạy học phù hợp
với từng đối tượng.
1.1.2.2.4. Quá trình tiếp nhận chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí
Trẻ em là đối tượng rất giàu cảm xúc và tình cảm. Những cảm xúc đó được
bộc lộ trực tiếp như khóc, cười, gieo hò, … với những điều mà người lớn cho là
bình thường. Bởi vậy nếu trẻ vui vẻ thì trẻ sẽ có hứng thú học, ngược lại nếu trẻ có
những biểu hiện tâm lí tiêu cực trẻ sẽ phân tâm, không chú ý tới bài tập.
1.2. Đặc điểm tâm lí của trẻ 5-6 tuổi
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm
non, tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông. Với sự hướng dẫn của người
lớn những chức năng tâm lí trẻ học được trước đây sẽ dần dần được hoàn thiện
để xây dựng những cơ sở đầu tiên về nhân cách con người.
1.2.1. Xác định ý thức bản ngã và tính chủ động trong hoạt động tâm lý
Tiền đề của ý thức bản ngã được hình thành ở cuối tuổi ấu nhi, trải qua một
quá trình phát triển ý thức bản ngã của trẻ trở nên rõ ràng. Đến cuối tuổi mẫu
giáo trẻ hiểu được mình là người thế nào? Có phẩm chất gì? Mọi người xung
quanh đối xử với mình ra sao? Tại sao mình lại có hành động này hay hành
động khác. Nó thể hiện rõ nhất ở việc đánh giá bản thân: thành công, thất bại,
ưu điểm, khuyết điểm, khả năng và sự bất lực. Trẻ có khả năng so sánh mình
với người khác làm cho trẻ nhận ra bản thân một cách đúng đắn khách quan
Trẻ 5 tuổi hình thành kiểu tư duy mới- trực quan sơ đồ giúp trẻ hiểu được
những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Đây là một bước ngoặt trong
sự phát triển tư duy của trẻ chuyển từ tính hình tượng sang tính trừu tượng. Ở
tuổi này do sự phát triển về thể lực, cơ bắp và sự khéo của vận động, trẻ đã có
khả năng tạo nên các đường nét với tính chất khác nhau khá phức tạp. Cùng với
sự tăng lên ngày càng phong phú của các kinh nghiệm nhận thức, các ấn tượng,
xúc cảm, tình cảm, trẻ bắt đầu nhận ra được sự hạn chế và vẻ hấp dẫn của các
19
hình vẽ khái quát với những đường nét đơn điệu, sơ lược. Đặc biệt trẻ ở tuổi này
khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của đường nét và hình thể
để thể hiện hình vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng, sự vật cụ thể. ở độ
tuổi này nhiều trẻ đã có vốn hiểu biết khá phong phú về cảm giác màu sắc, đã có
khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc
của các sự vật hiện tượng trong hiện thực và làm quen qua quá trình tri giác với
một số cách phối hợp màu sắc(9). Tính tích cực quan sát, nhận thức chính là
điều kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc một cách sinh động để thể hiện một cách
sáng tạo nội dung tranh vẽ, qua đó mà biểu lộ suy nghĩ, tình cảm, ước mơ của
mình qua những bức tranh trẻ vẽ.
1.2.3. Bước ngoặt 6 tuổi
Trẻ 6 tuổi rất hiếu kì, cái gì cũng muốn hiểu, muốn biết. Khi thấy cái gì
mới lạ, trẻ tò mò ngắm nghía, được ra ngoài thì ngó trước ngó sau, và luôn mồm
đặt câu hỏi “tại sao?”.
Trên cơ sở tính hiếu kì mạnh và cái chưa lí giải được trẻ thông qua động tác
thực tế, qua hỏi han, thăm dò, tìm hiểu mới phát hiện, mới hiểu được cái mới và
nhận thức cái mới. Cho nên các bậc cha mẹ và người lớn nên vui vẻ trả lời các
câu hỏi của trẻ, chăm chú theo dõi trẻ và không nên chỉ “ừ hữ” cho qua chuyện.
Nếu trẻ nhỏ không được thỏa mãn và không nhận được lời giải thích chính xác
thì chúng sẽ mất đi tính nhiệt tình tìm hiểu, khám phá hiện tượng, sự vật xung
quanh, mà chỉ dựa vào ý tưởng suy đoán thiếu chính xác của trẻ.
trong cuộc sống, kìm nén tính ích kỉ và chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.
TS Trần Thị Ngọc Trâm, Viện KHGD Việt Nam: Sự sẵn sàng đi học ở
trẻ là những tiền đề cần thiết về các mặt tâm - sinh lí, thích ứng xã hội đạt đến
mức phát triển đầy đủ nhất để trẻ có thể chuyển sang giai đoạn mới thích ứng
với học đường - chuyển từ hoạt động chơi giữ vai trò chủ đạo sang hoạt động
học tập giữ vai trò chủ đạo.
Trong quá trình phát triển của trẻ em, thời kỳ 5 tuổi (60 - 72 tháng tuổi) là
một thời kì quan trọng, chuẩn bị cho trẻ đi học lớp 1. Các nhà tâm lí học coi thời
điểm trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng: thời kì đến nhập học ở trường
phổ thông. Ở cuối tuổi mẫu giáo, nếu được chú ý chuẩn bị những tiền đề cần
thiết, sự sẵn sàng đến trường của trẻ sẽ từng bước được hình thành. Đây không
chỉ là sự chuẩn bị một số năng lực, tính cách chuyên biệt cho việc học tập ở lớp
1 mà là một sự giáo dục nhân cách trọn vẹn, hệ thống và hài hoà trong suốt giai
đoạn tuổi mẫu giáo, đặc biệt là thời kỳ 5 tuổi, chuẩn bị cho trẻ đi học lớp 1.
Những yêu cầu đối với việc chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 tiểu học gồm:
Chuẩn bị về thể lực; chuẩn bị về khả năng hoạt động trí tuệ (nhận thức và ngôn
ngữ); chuẩn bị về khả năng thích ứng xã hội; chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đi học
và chuẩn bị những khả năng và hiểu biết cần thiết giúp trẻ dễ dàng và nhanh
chóng thích ứng với việc tham gia vào các tiết học, môn học ở lớp 1 nói riêng và
cấp tiểu học nói chung. Ở mẫu giáo cần dạy trẻ mẫu giáo 5 tuổi tập trung vào
yêu cầu làm quen với các kĩ năng nghe, nói nhiều hơn so với làm quen với các
kĩ năng đọc, viết, chú trọng đến các hoạt động vui chơi, thực hành.