Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại _3 - Pdf 19


Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại

Trong tác phẩm tự sự, trần thuật là thành phần lời của tác giả, của người kể chuyện
(toàn bộ văn bản tác phẩm, ngoại trừ các lời nói trực tiếp của nhân vật), bao gồm việc kể
và miêu tả các hành động và các biến cố trong thời gian; mô tả chân dung, hoàn cảnh
hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất, v.v ; bàn luận; lời nói bán trực tiếp của nhân
vật
(1)
. Nghĩa là những phát ngôn của người kể chuyện chủ yếu tồn tại dưới dạng lời kể, lời
tả, lời bình luận hay lời gián tiếp tự do (còn gọi là lời nửa trực tiếp hay lời nói bán trực
tiếp).
1. Các kiểu lời phát ngôn của người kể chuyện
Lời kể: Trong tiểu thuyết, lời kể chiếm một tỉ lệ lớn và có vai trò quan trọng, giúp
người kể chuyện tổ chức nên một cấu trúc tự sự. Về cơ bản, nội dung chuyện được hoàn
chỉnh dần theo mạch trần thuật của những người tham gia kể. Thông thường, kiểu phát
ngôn này tồn tại dưới hai hình thức: lời trung tính của người kể chuyện giấu mặt và lời chủ
quan của người kể chuyện ngôi thứ nhất.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại trọng về kể hơn tả. Ở nhiều tác giả, sự xuất hiện
đậm đặc kiểu câu kể khiến cho ngôn ngữ nhân vật (lời trực tiếp) biến thành ngôn ngữ
người kể chuyện (lời gián tiếp). Nhiều tác phẩm ít đối thoại (với dấu gạch ngang (-),
xuống dòng hoặc trong ngoặc kép). Trong Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng) những câu
kể có lúc lặp đi lặp lại một cách cố ý như một trò chơi ngôn ngữ: “Tôi là một đứa trẻ mồ
côi. Tôi đến từ một đất nước có chiến tranh”; “Tôi là khách lạ bất cứ đâu. Con người
không có quê hương giống như một hạt cỏ gió đưa đến bám rễ trên vách đá, tôi biết thân
phận của mình rất dễ vỡ”; “Tôi mồ côi, không có quá khứ, tình yêu, ước mơ, tôi không có
một cái tên, chân dung hay linh hồn. Tôi là một gian nhà trống,… tôi không có gì để

nhưng không thể kể mà không tả” (Hình tháiII). Đoạn văn dưới đây của Hồ Anh Thái
chứng minh cho hiệu quả trần thuật của người kể chuyện khi sử dụng lời tả. Để làm rõ tâm
trạng của nhân vật Mai Trừng khi đã thoát khỏi lời nguyền của cha mẹ, người kể chuyện
vừa kể, vừa tả với giọng điệu trữ tình, ẩn chứa một tình yêu thương nằm sâu dưới bề mặt
câu chữ: “Cô chạy sang bên đường nở đầy hoa sặc sỡ, cô ôm một bó hoa trên ngực, nhảy
chân sáo quay trở về. Mái tóc tung bay tinh nghịch trong nắng sớm. Gương mặt rạng rỡ vô
tội và hồn nhiên. Cả thân hình thiếu nữ mới lớn tràn ngập mùi hoa rừng” (Cõi người rung
chuông tận thế). Đặt trong tương quan với lời kể đầy chất giễu nhại – như là âm chủ trong
giọng điệu tiểu thuyết Hồ Anh Thái, có thể thấy sự đan xen lời tả trên khiến hiệu quả trần
thuật cao hơn. Sử dụng lời tả để tăng hiệu quả trần thuật có khi trở thành phong cách của
một số cây bút tiểu thuyết (Nguyễn Bình Phương).
Lời bình luận: Trong tiểu thuyết, lời bình luận cũng là một dạng ngôn ngữ của
người kể chuyện, song không nhất thiết tồn tại trong mọi phát ngôn. Nếu lời tả vẫn giữ
được phần nào tính khách quan (khách quan hóa cảm nhận chủ quan của người quan sát) thì
lời bình luận là lời phát biểu trực tiếp của người kể chuyện (hai lần chủ quan: điểm nhìn và
ngôn ngữ đều mang tính cá nhân). Với nhu cầu nhận thức chính mình, nhận thức xã hội,
nhận thức lịch sử, lời bình luận trong tiểu thuyết đương đại ngày càng đậm đặc. Ý thức của
chủ thể sáng tạo thể hiện rõ ở những lời bình luận. Nguyễn Khải, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái là
những nhà tiểu thuyết tạo được phong cách riêng với sự xuất hiện lời bình luận đậm đặc
trong ngôn ngữ trần thuật.
Ngẫm về nỗi buồn chiến tranh, người kể chuyện trong tiểu thuyết của Bảo Ninh
tâm sự: “Nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn của tình
yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát ngát.
Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có thể làm cho người ta bay bổng lên trong
thời gian quá khứ, tuy nhiên với điều kiện không được dừng nỗi buồn chiến trận lại ở cụ
thể một điểm nào, một sự việc nào, một con người nào, bởi vì khi dừng mắt lại thì không
còn là nỗi buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và nhất là đừng có nhớ chạm tới những
cái chết” (Nỗi buồn chiến tranh). Bằng cách so sánh, cắt nghĩa một cảm xúc lạ lùng, vừa
bình yên, vừa đau đớn… người kể chuyện đã cụ thể hóa được một phương diện vô cùng
trừu tượng là tình cảm, là thế giới tinh thần của con người trong và cả sau chiến tranh.

độc giả khi liên tục bị cuốn theo một dòng thác những sự kiện chiến tranh dồn dập, người
kể chuyện đã tạo một “quãng lặng” để làm tăng hiệu quả trần thuật.
Nhiều trường hợp có cả lời độc thoại trong lời người kể chuyện. Dưới đây là đoạn
văn cho thấy có sự kết hợp các kiểu lời phát ngôn trong lời người kể chuyện:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status