Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Hồ Quí Ly của Nguyễn Xuân Khánh - Pdf 35

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Lịch sử vấn đề................................................................................................4
3. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................7
4. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................8
5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................8
6. Cấu trúc của luận văn....................................................................................8
Chương 1
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ......................................................................8
1.1. Tiểu thuyết lịch sử ......................................................................................9
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết .............................................................................9
1.1.2. Tiểu thuyết lịch sử .................................................................................11
1.2. Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử .......................................16
1.2.1. Các lớp ngôn ngữ trong tiểu thuyết .....................................................16
1.2.2. Nhân vật trần thuật trong tiểu thuyết ..................................................19
1.2.3. Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết..................................................22
1.2.4. Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử...................25
1.3. Tác phẩm Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh trong bức tranh chung
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam ..........................................................................27
1.3.1. Vài nét về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh............................................27
1.3.2. Tác phẩm "Hồ Quý Ly" trong bức tranh chung tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam............................................................................................................29
Tiểu kết chương 1............................................................................................33
Chương 2
CÁC KIỂU LỜI TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
HỒ QUÝ LY........................................................................................................34
2.1. Các điểm nhìn trần thuật và các vai trần thuật .................................34
2.1.1. Khái niệm điểm nhìn trần thuật và vai trần thuật ............................34

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tiểu thuyết lịch sử là thể loại văn học đã có bề dày nhất định trong
văn học Việt Nam. Với đặc trưng viết về đề tài lịch sử (nhân vật, sự kiện, thời
kỳ hay tiến trình lịch sử), tiểu thuyết lịch sử có những quy ước riêng, đó là mối
liên quan chặt chẽ với quá khứ, cái đã xảy ra, đã tồn tại trong kinh nghiệm của
cộng đồng. Những tranh cãi về quan niệm thế nào là tiểu thuyết lịch sử, có thể
hư cấu ra… vẫn chưa có lời kết. Chính vì vậy, ngôn ngữ là một vấn đề đáng
quan tâm đối với bất kỳ tác giả nào khi cầm bút viết tiểu thuyết lịch sử. Câu
hỏi đặt ra là: nhà văn đã lựa chọn ngôn ngữ nào để trần thuật và sử dụng ngôn
ngữ nào cho nhân vật lịch sử? Với một thời đại đã cách xa ta hàng trăm năm,
hàng ngàn năm, thì các nhân vật sẽ nói với nhau như thề nào? Để tái dựng lại
không khí lịch sử cho tác phẩm, nhà văn phải viết ra sao? Đây là những thử
thách không nhỏ đối với nhà văn, bởi nó đòi hỏi sự từng trải, vốn sống, vốn văn
hóa cũng như khả năng sáng tạo và hư cấu tưởng tưởng của ông ta.
Lucacs cho rằng: tiểu thuyết lịch sử kể lại những sự kiện của quá khứ,
và về mặt ngôn ngữ, nó tạo ta mối liên hệ với hiện tại, bởi vì, người kể
chuyện của hôm nay nói cho người nghe của hôm nay. Chúng ta đều biết
rằng, ngôn ngữ là một sinh thể có đời sống riêng phong phú và nó in đậm dấu
ấn thời đại lịch sử. Đằng sau cái hồn cốt mang tính hằng thể, lớp ngôn ngữ bề
mặt luôn có sự cải biến và làm mới mình với sự thích nghi vô cùng đa dạng
trong từng thời kỳ. Ngôn ngữ của người Việt cách chúng ta hàng trăm năm
chắc chắn khác xa với ngôn ngữ thời hiện đại. Điều đó có thể được kiểm
nghiệm khi khảo sát ngôn ngữ trong các tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương
đại như Vằng vặc sao khuê (Hoàng Công Khánh), Bão táp cung đình, Thăng
long sụp đổ, Vương triều sụp đổ (Hoàng Quốc Hải) Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)
và Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)...
1.2. Khảo sát Hồ Quý Ly và tiếp cận hệ thống cấu trúc văn bản, chúng



5
Việt Nam và giải thưởng hàng năm Hội Nhà văn Hà Nội.
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly xuất bản lần đầu vào năm 2000, dày gần 850
trang, được chia làm 13 chương, mở đầu bằng Hội thể Đồng Cổ và kết thúc
bởi Hội thề Đốn Sơn. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh “đã thổi vào tác phẩm
một luồng gió tươi mới” và gây được tiếng vang lớn trong dư luận, để lại
nhiều ấn tượng trong lòng độc giả.
Khi tái bản cuồn sách đến lần thứ 7, tác giả bài viết Vể tiều thuyết Hồ
Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh (http:// Văn học quê nhà) đã khẳng định:
“Người đọc hãy đọc tác phẩm bằng một tâm thế của người thưởng lãm vườn
văn học, chứ không phải là một cuốn sử. Chỉ khi đó chúng ta mới cảm nhận
được một cách thấu đáo sự tinh tế, sâu sắc, mới mẻ và đa chiều của cây bút
Nguyễn Xuân Khánh, với những kiến giải lịch sử theo một cách rất riêng".
Tác giả bài viết cũng đánh giá cao tâm lực của Nguyễn Xuân Khánh trong
việc thu gom tài liệu, dựng lại đầy sức thuyết phục một thời kỳ để lại những
tranh cãi trong lịch sử.
Về nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, tác giả Đỗ Hải Ninh
trong bài viết Vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
cho rằng, những đổi mới trong ngôn ngữ trần thuật của Hồ Quý Ly “chính là
sự đan xen ngôi thứ ba với ngôi thứ nhất, với cách tiếp cận nhân vật từ thế
giới nội quan, tác phẩm đã tạo được một cái nhìn độc đáo về lịch sử. Nếu đặt
trong hệ thống các tiểu thuyết lịch sử trước đó, rõ ràng cách thức trần thuật
này là sự đột phá khi cùng đưa nhân vật thoát ra khỏi cái khung lịch sử đã
khép kín để đối thoại với hiện tại, các nhân vật lịch sử khác đều được kéo gần
lại, họ là những người cùng thời với người kể chuyện” [36]. Bài viết cũng đã
chỉ ra: với bút pháp hiện đại, đầy sáng tạo, “Nguyễn Xuân Khánh đã lựa chọn
ngôn ngữ phù hợp với thời đại, từng đối tượng, từng mối quan hệ. Đó là cách
để nhà văn soi chiếu nhân vật Hồ Quý Ly từ nhiều góc độ, một kẻ loạn thần
tặc tử, một nhà cải cách quyết liệt, một người cha nghiêm khắc, một người




7
Quý Ly, một con người có tư tưởng cải cách quyết liệt, số phận cá nhân ông
gắn liền với số phận của đất nước, của Thăng Long - Đông Đô và Tây Đô.
Với quan niệm tiểu thuyết lịch sử trước hết phải là tiểu thuyết, Nguyễn
Xuân Khánh đã rất chú trọng khâu xử lý ngôn ngữ. Ông thể hiện sự kết hợp
khéo léo tiếng nói của thời đại đã qua và tâm lý người đọc thời hiện tại. Mỗi
trang viết của ông thực sự tạo nên sức hút mạnh mẽ bỡi sự biến ảo kỳ diệu
của ngôn ngữ. Đọc Hồ Quý Ly, độc giả như vừa được sống lại không khí của
từng sự kiện lịch sử xa xưa, vừa cảm thấy gần gũi, thân quen như chính cuộc
sống này.
Mặc dù Hồ Quý Ly xuất hiện trong sự đón nhận nồng nhiệt của dư luận,
nhưng những bài viết về nó chưa phải đã nhiều. Nhìn chung, các bài viết mới
chỉ dừng lại ở vấn đề xây dựng nhân vật, cách lựa chọn thời đại, lựa chọn tình
tiết trong lịch sử… chứ chưa thật sự có cái nhìn hề thống, toàn diện cuốn tiểu
thuyết, đặc biệt là phương diện ngôn ngữ trần thuật thì hầu như chưa có bài
viết nào đặt ra.
Trên thực tế đó, đề tài mà chúng tôi lựa chọn triển khai rõ ràng là một
vấn đề mới. Khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi triển khai đề tài này là
không được kế thừa thành quả của những người đi trước, tuy nhiên, chính
điều đó tạo cho chúng tôi một sự an tâm khi biết chắc chắn rằng, những kết
quả khảo sát, tìm hiểu của mình về vấn đề này sẽ không trung lặp với công
trình của bất cứ ai khác.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh với những phương diện căn bản:
điểm nhìn trần thuật, sự đan cài các lớp ngôn ngữ và đặc điểm ngôn ngữ trần
thuật thể hiện trên các cấp độ ngôn từ tác phầm. Những kết quả khảo sát cụ
thể ấy sẽ góp thêm một tiếng nói khẳng định giá trị đích thực của tiểu


9

1.1. Tiểu thuyết lịch sử
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật,
hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề
của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện
bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ để xác đinh.
Belinski nhận định: “Tiểu thuyết là sử thi của đời tư” do chỗ nó “miêu
tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời
sống nội tâm con người” [dẫn theo 3, tr.18]. Belinski đã chỉ ra khái quát nhất
về một dạng thức tự sự, trong đó, sự trần thuật tập trung vào số phận của cá
nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được
triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt
cơ cấu của nhân vật.
M. Bakhtin cho rằng, trong tiểu thuyết “con người không hoá thân đến
cùng vào các thân xác xã hội lịch sử thực tồn. Một trong những vấn đề nội tại
căn bản của tiểu thuyết chính là việc nhân vật không tương hợp với số phận
và vị thế của nó. Con người hoặc là cao lớn hơn số phận của mình, hoặc là
nhỏ bé hơn tính người của mình” [3, tr.22].
Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân viết: “Tiểu thuyết trình
bày đời sống cá nhân và đời sống xã hội như những tố chất có tính độc lập
tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không ngốn nuốt được nhau; đây là
đặc điểm quyết định nội dung thể loại của tiểu thuyết" [1, tr.327].
Trong văn học phương Đông, danh từ tiểu thuyết xuất hiện khá sớm
nhằm phân biệt với hai thể loại cơ bản khác là đại thuyết và trung thuyết. Đại
thuyết là kinh sách của các thánh nhân như Kinh thư, Kinh Thi của Khổng
Tử… Đó là loại sách mang nặng tính triết học, gần như chân lý, kiểu khuôn
vàng thước ngọc và rất khó đọc. Trung thuyết do các hiền sư, sử gia thực

thái độ lao động tỉ mỉ, nghiêm túc trong khi các thể loại khác như truyện
ngắn, truyện vừa ký sự nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu bám sát các sự
kiện và diễn biến của cuộc kháng chiến.
Phải đến những năm 60 - 70, tiểu thuyết lịch sử mới lác đác xuất hiện


12
trở lại với các tác phẩm: Quân He khởi nghĩa, Tổ quốc kêu gọi của Hà Ân;
Bóng nước Hồ Gươm của Chu Thiên… Bên cạnh đó, xu hướng truyện lịch sử
viết cho thiếu nhi nhằm giáo dục tinh thần yêu nước cũng hình thành: Lá cờ
thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung của Nguyênc Huy Tưởng, Trên
sông truyền hịch của Hà Ân,… Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử ở thời điểm này
tuy đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng thưa thớt hẳn so với sự phát
triển rầm rộ của nó ở nữa thế kỷ đầu.
Sau 1975, đất nước hoàn thành thống nhất, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
nói chung có những chuyển biến mạnh mẽ cả về nội dung và nghệ thuật. Ngô
Văn Phúc lần lượt cho ra mắt các cuốn tiiêủ thuyết: Ngôi vua và những
chuyện tình, Người đẹp ngậm oan, Tuyên phi họ Đặng... làm sống lại không
khí một thời của lịch sử dân tộc.
Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải là một bộ tiểu thuyết lịch sử
đồ sộ gồm 6 tập với khoảng ba nghìn trang sách được khởi nguồn từ cảm
hứng mãnh liệt về một triều đại đã làm nên những trang vẻ vang nhất trong
lịch sử dân tộc. Hoàng Công Khanh với Vằng vặc sao Khuê (giải thưởng của
Hội nhà văn năm 1999), bằng những trang viết giàu cảm xúc và sự hư cấu
hợp lý đã soi tỏ một số uẩn khúc trong cuộc đời và nhân cách của Nguyễn
Trãi cùng vụ án Lệ Chi Viên thảm khốc.
Cũng trong thập kỷ này, người đọc còn biết đến bản dịch cuốn
tiểu thuyết lịch sử Vạn Xuân của nữ sĩ Pháp Xveline Feray, viết về người anh
hùng kiệt xuất Nguyễn Trãi. Từ điểm nhìn của người phương Tây và một
cách viết khá mới lạ, tác phẩm đã để lại một dấu ấn đậm nét trong bức tranh

đựng các nhân vật và chi tiết hư cấu, tuy nhiên, các nhân vật chính và sự kiện
chính thì được sáng tạo trên sự xác thực trong lịch sử, lời ăn tiếng nói, phong
tục tập quán phù hợp với giai độan lịch sử ấy. Tác phẩm văn học sử thường
mượn chuyện xưa để nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học quá khứ, bày
tỏ sự đồng cảm với những con người trong thời đại đã qua, song không vì thế
mà hiện đại hoá người xưa phá vỡ hình chân thực của thể loại" [17, tr.336].


14
Khái niệm trên đã khái quát được khá đầy đủ những điểm cơ bản nhất
của tiểu thuyết lịch sử.
Như chúng ta đã biết, tiểu thuyết lịch sử hiểu theo chung nhất là tiểu
thuyết về đề tài lịch sử. Đó là một thuật ngữ dùng để phân biệt các tác phẩm
lịch sử biên niên thông thường do nhà sử học hoặc người khác viết để kể về
các biến cố lịch sử, nhân vật lịch sử, với các tác phẩm văn học nghệ thuật
sáng tác về đề tài và nhân vật lịch sử.
Trong thực tế sáng tác về đề tài này, từ trước đến nay, việc nên quan
niệm lịch sử trong tiểu thuyết như thế nào vẫn còn nhiều ý kiến bàn luận. Lịch
sử, vốn được xem là là những gì thuộc về quá khứ, là những gì đã qua, đã
hoàn tất, đã sãy ra, đã đóng khung lại và mặc nhiên cũng không thể thay đổi.
Vậy khi cái quá khú đó dù xuất hiện ở dưới hình thức nào cũng được tôn
trọng, được kính cẩn.
Hiểu như vậy, chất liệu lịch sử có thể sẽ là tấm gương soi chiếu tính
chính xác và độ tin cậy của sự kiện lịch sử được nói đến trong tác phẩm. Điều
đó tưởng như ngịch lý với bản chất của nghệ thuật là sáng tạo. Tuy nhiên sẽ
không còn mâu thuẫn nếu hiểu rằng, lịch sử tồn tại trong một tiểu thuyết được
tôn trọng ở mức độ tinh thần của lịch sử. Cũng có nghĩa là “những sự thật chân lý, dưới dạng hình thức tư tưởng về thực hiện về đời sống về lịch sử, toát
ra toàn bộ cấu trúc của bức tranh” (Phan Quý Bích). Do vậy, một nhà tiểu
thuyết “không phải đóng vai trò một người bê nguyên xi những gì đã diễn ra
vào trong tác phẩm, làm như vậy thì tiểu thuyết đó sẽ chẳng khác nào bộ

bản vụng về của chính sử”. Điều quan trọng nhất với nhà tiểu thuyết là phải
làm sao thổi hồn vào lịch sử. Khác với quan niệm của nhà văn Trần Vũ trong
bài Tiểu thuyết lịch sử - một sự tùy tiện có ý thức cho rằng “Viết tiểu thuyết
lịch sử là viết lịch sử chứ không phải là viết tiểu thuyết”, hoặc coi lịch sử chỉ
là phương tiện, là “cái vỏ” của tiểu thuyết, các nhà viết tiểu thuyết lịch sử
chân chính quan niệm tiểu thuyết lịch sử là lịch sử được viết lại bằng nghệ
thuật tiểu thuyết.


16
Thực tế sang tác là sự ra đời của các bộ tiểu thuyết lịch sử đã thể hiện
rõ quan điểm trên. Các nhà viết tiểu thuyết lịch sử đã bám sát những ghi chép
trong chính sử kết hợp với việc sử dụng có chọn lọc những tư liệu sưu tầm
được, làm công việc văn chương hoá những trang sử cũ vốn ngắn gọn và khô
khan để mang lại những kiến thức lịch sử và cảm hứng tìm hiểu cho người
đọc dựng lại cách thuyết phục diện mạo các thời kỳ lịch sử trong quá khứ.
Bằng ưu thế riêng của văn chương kết hợp với việc chọn miêu tả những
sự kiện mang tính bản lề, lý giải lịch sử từ góc nhìn văn hoá đã giúp các nhà
văn khắc phục được hạn chế của những ghi chép lịch sử, bổ sung cho người
đọc những nhận thức cần thiết về quá khứ. Thành công trong việc phục dựng
không gian cung đình, không gian chiến trận, miêu tả bức tranh thiên nhiên
đất nước... Các nhà viết tiểu thuyết lịch sử đã thiết kế lại quá khứ, làm cho
bức tranh lịch sử trở nên đầy đặn, sống động, đưa người đọc trở về với không
gian văn hoá của các thời kỳ lịch sử đã qua.
Với vai trò và ý nghĩa như vậy, tiểu thuyết lịch sử - trải qua bao sự
thăng trầm của thời gian, trong dòng chảy văn chương bất tận của văn học
Việt Nam đã có một tiếng nói riêng. Với tinh thần tôn trọng lịch sử mặc dù có
sự hư cấu, sáng tạo của nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử vẫn luôn giương cao
ngọn cờ lí giải lịch sử và là bài học soi sáng cho cuộc sống đương đại.
1.2. Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử

khác với lời văn trực tiếp của nhân vật) có thể chia làm hai loại loại: loại thứ
nhất là gián tiếp một giọng, là lời trần thuật tái hiện, thẩm bình các hiện tượng
của thế giới trong ý nghĩa khách quan vốn có của chúng. Loại thứ hai là lời
gián tiếp hai giọng, là lời trần thuật có hấp thu lời nhân vật, tức là trong ngôn
ngữ người trần thuật cùng lúc có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp
của nhân vật, nó thể hiện sự đối thoại với ý thức khác của cùng một đối tượng
miêu tả. Loại thứ hai này cho phép tác giả di chuyển “điểm nhìn” trần thuật,
tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ tiểu thuyết.


18
Một hình thức nữa đưa vào tổ chức những tiếng nói khác nhau trong
tiểu thuyết, hình thức tồn tại trong bất kỳ tác phẩm nào, đó là ngôn ngữ đối
thoại của nhân vật.
“Lời nói của những nhân vật chính trong tiểu thuyết - những nhân vật ít
nhiều có tính độc lập về mặt tư tưởng - ngôn từ, có nhãn quan của mình - vốn
là tiếng nói của người khác bằng ngôn ngữ khác đồng thời có thể khúc xạ
những ý chí của tác giả” (3, tr.123).
Cũng đứng trên quan điểm của M.Bakhtin, Trần Đình Sử, Phương Lưu,
Nguyễn Xuân Nam trong cuốn Lý luận văn học, cho rằng ngôn ngữ tự sự nói
chung và tiểu thuyết nói riêng gồm hai thành phần chính: lời trực tiếp và lời
gián tiếp. Lời trực tiếp là lời do nhân vật hoặc do tác giả - những con người
trực tiếp nói lên trong tác phẩm. Còn lời gián tiếp là lời văn giúp cho các sự
vật, hiện tượng như ngoại hình, tình trạng, môi trường, phong cảnh, sự kiện…
vốn không biết nói được hiện lên trong tác phẩm.
Khác với sự phân chia này, một số tác giả cho rằng tiểu thuyết là sự đan
xem của các lớp ngôn ngữ mang mầu sắc đời thường, đầy sức sống dân gian,
lớp ngôn ngữ mang mầu sắc triết luận, và lớp ngôn ngữ trang trọng lịch sự.
Đây cũng là cách nhìn riêng khi tìm hiểu về ngôn ngữ tiểu thuyết. Nhưng dù
sao các quan điểm này cũng chỉ là đứng trên bình diện nghiên cứu về lớp từ

tiểu thuyết về cơ bản là thống nhất. Ngôn ngữ tiểu thuyết là một lĩnh vực rất
rộng, đã được xác định về mặt nội dung và tính chất, được nhìn từ góc độ, vai
trò và biểu hiện của nó. Sự thống nhất này giúp ta có cái nhìn đầy đủ, cụ thể
về lớp ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết.
1.2.2. Nhân vật trần thuật trong tiểu thuyết
Theo Từ điển thuật ngữ văn học trần thuật là phương diện cơ bản của
phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với
nhân vật, sự việc, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần
thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích
hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả…


20
Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận hoặc miêu tả nhân vật
trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được triển
khai trong không gian và thời gian nghệ thuật.
Trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó, gọi
là người trần thuật hay nhân vật trần thuật. Nhân vật trần thuật “tham dự vào
cốt chuyện như là một nhân vật” hoặc là người chứng kiến câu chuyện. Người
trần thuật không chỉ tổ chức ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt
kết cấu, chi phối ngôn ngữ của nhân vật.
Với quan điểm này, nhân vật trần thuật thường xuất hiện trong tác
phẩm ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” (hoặc sử dụng đại từ tương tự như “chúng
tôi”). Mọi diễn biến, mọi sự kiện và mọi kiến giải đều thông qua quan điểm
của nhân vật này.
Trong trường hợp tác phẩm có nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ thất xưng
“tôi” thường có dáng dấp tự truyện. Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn,
việc sử dụng ngôi thứ nhất trong tự truyện ở các tác phẩm văn học thế kỷ
XVIII ở phương Tây không phải là sự sử dụng tùy hứng hay ngẫu nhiên mà
nó mang tính lịch sử, gắn liền với nhu cầu khách quan của thời đại. Đó là yêu

không chỉ giữ chức năng kể chuyện mà còn tham gia vào truyện, thâm nhập
vào từng cảnh ngộ để nói tiếng của người nếm trải, người trong cuộc.
Sử dụng nhân vật trần thuật ở ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn được đặt vào
nhân vật “tôi” nên qua cách nhìn nhận đánh giá của nhân vật đó, người đọc sẽ
hiểu thêm về tính cách, tâm hồn nhân vật một cách chân thực giống như được
chứng kiến trong cuộc đời thực, trực tiếp nghe giãi bày cảm xúc. Trong tác
phẩm Nữ hoàng của Sơn Táp, tác giả để cho nhân vật Võ tắc Thiên trần thuật
ở ngôi thứ nhất với dòng suy tưởng và tâm trạng từ lúc nằm trong bụng mẹ tới
lúc đứng ở vị trí tột đỉnh vinh quang, nắm giữ trong tay cả một đế chế lớn
nhất thiên hạ. Còn Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh lại có sự đan xen
giữa ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất. Nhà văn dành nhiều trang viết để cho nhân
vật Hồ Nguyên Trừng xưng “tôi” kể chuyện. Với cách tiếp cận nhân vật từ thế


22
giới nội tâm, hai tác phẩm này đã thể hiện được cách nhìn độc đáo về lịch sử,
đưa nhân vật thoát ra khỏi cái khung lịch sử đã khép kín để đối thoại với hiện
tại, trong khi các nhân vật lịch sử khác đều được kéo gần lại, trở thành những
người cùng thời với với người kể chuyện.
Nhân vật trần thuật không chỉ là nhân vật “tôi” trực tiếp kể chuyện mà
còn “ẩn sau nhân vật” để phản ánh hiện thực và miêu tả tâm lý một cách sắc
sảo, sinh động. Trong tiểu thuyết, nếu nhân vật trần thuật ở ngôi thứ ba, điểm
nhìn nghệ thuật được đặt khách quan bên ngoài nhân vật, câu chuyện được tả
và kể lại với thái độ “điềm nhiên” thì ở nhân vật trần thuật sử dụng ngôi kể
thứ nhất, điểm nhìn trần thuật được di chuyển vào bên trong nhân vật để tái
hiện sinh động thế giới tâm hồn họ. Điều đó có nghĩa là nhân vật trần thuật
qua những cuộc đối thoại hoặc những lời độc thoại nội tâm đã khéo léo dẫn
dắt người đọc đi sâu vào đời sống tinh thần của bản thân mình, qua đó bộc lộ
sự khám phá, chiêm nghiệm về cuộc sống và con người một cách đa diện và
có chiều sâu hơn. Tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải là một ví dụ

thể hóa. Ngôn ngữ trần thuật còn là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng của ngôn
ngữ tiểu thuyết là sự tác động qua lại rất phức tạp giữa tiếng nói tác giả, người
kể chuyện và nhân vật, giữa ngôn ngữ miêu tả ngôn ngữ được miêu tả (Bàn
về khía cạnh trần thuật của tiểu thuyết, eVan.com.vn).
Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết tồn tại dưới nhiều dạng thức. Với
mong muốn tái tạo và làm phong phú hiện thực đời sống, các nhà viết tiểu
thuyết trong thời kỳ đổi mới đã rất dụng công trong việc sử dụng ngôn ngữ
trần thuật. Một loạt các tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,
Khuất Quang Thuỵ, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Thảo, Nguyễn Xuân Khánh…
đã thật sự thành công trong việc lựa chọn ngôn ngữ trần thuật ở dạng ngôn
ngữ của người trần thuật và ngôn ngữ trần thuật của nhân vật một cách phong
phú, linh hoạt, đa dạng, tạo nên nét đặc sắc riêng về phong cách của các nhà
viết tiểu thuyết.
Với ngôn ngữ trần thuật, tác giả có thể lựa chọn ngôi kể thứ nhất hoặc


24
ngôi thứ ba. Nếu lựa chọn ở ngôi thứ nhất, tác giả thường viết về những gì đã
trải qua, đã chứng kiến và nếm trải, chiêm nghiệm. Và tất nhiên, với tính chất
hư cấu của tiểu thuyết, “tôi” không hẳn là tác giả mà chỉ là một nhân vật trong
truyện. Lời trần thuật ở đây vừa là ngôn ngữ trần thuật của tác giả vừa là ngôn
ngữ trần thuật của nhân vật, tức là vừa lời trực tiếp vừa là lời gián tiếp.
Ngoài ra, có không ít tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ ba. Ngôn ngữ
trần thuật ở đây mang tính khách quan hoá và trung tính, nó có nhiệm vụ tái
hiện và phân tích lý giải thế giới khách quan, chủ quan, đời sống vật chất và
tinh thần của con người. Theo M.Bakhtin, ngôn ngữ trần thuật ở ngôi thứ ba
chia làm hai loại: loại gián tiếp một giọng là lời trần thuật tái hiện, thẩm bình
các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩa khách quan vốn có của chúng và
loại lời gián tiếp hai giọng cho phép tác giả di chuyển “điểm nhìn” trần thuật,
tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật của tiểu thuyết.

vật, sự kiện, thời kỳ hay tiến trình lịch sử). Tiểu thuyết lịch sử có những có
những quy ước riêng, biểu hiện ở mối liên hệ chặt chẽ với quá khứ, cái đã xảy
ra, đã tồn tại trong kinh nghiệm của cộng đồng.
Vì vậy, có thể nói ngôn ngữ là một vấn đề đáng quan tâm đối với bất
kỳ tác giả nào khi cầm bút viết tiểu thuyết lịch sử. Câu hỏi đặt ra là nhà văn
lựa chọn ngôn ngữ nào để trần thuật và tái hiện lại không gian văn hóa lịch
sử của một thời? Đây là thử thách đối với các cây bút bởi nó đòi hỏi sự trải
nghiệm, vốn sống, phông văn hoá rộng cùng với khả năng sáng tạo, tưởng
tượng, hư cấu.
Trong dòng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại, đã có không ít tác
phẩm gây được sự chú ý với người đọc như Vằng vặc sao Khuê (Hoàng Công
Khanh), Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Vương triều sụp đổ (Hoàng
Quốc Hải), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn
Mộng Giác) Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)... Sự ra đời của hàng loại cuốn tiểu
thuyết trên không chỉ cho thấy sức sáng tạo của nhà văn mà còn cho thấy khả
năng lựa chọn và xử lý ngôn ngữ xuất sắc, đặc biệt là trên phương diện ngôn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status