Nghe thuat tran thuat trong tieu thuyet Ho Anh Thai - Pdf 20

Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài.
Hồ Anh Thái
"Tiểu thuyết như là một giấc mơ ẩn chứa những điều không có thực ở
ngoài xã hội. Thực chất tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt nhưng nó còn
thật hơn cả sự thực" (Hồ Anh Thái). Với khát vọng kể những câu chuyện
thực hơn cả sự thực ấy, Hồ Anh Thái đã miệt mài trên những trang giấy để
viết lên những câu chuyện của riêng mình về cuộc sống: Phía sau cổng
trời, Cõi người rung chuông tận thế … và gần đây là Mười lẻ một đêm,
một tác phẩm gây xôn xao văn giới.
Mười lẻ một đêm là một câu chuyện rộng lớn về cuộc sống thể hiện
một cái nhìn bao quát, khả năng phản ánh và phân tích những tồn tại trong
xã hội, một tài bút hài hước kiểu mới của tác giả. Tác phẩm một lần nữa
khẳng định vị trí của Hồ Anh Thái, thể hiện những bước tiến dài của ông
trong nghệ thuật tiểu thuyết. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không
tìm hiểu toàn diện về tác phẩm Mười lẻ một đêm mà chỉ giới hạn trong
việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật của tiểu thuyết để từ đó nhận diện những
mảng hiện thực đời sống trong sáng tác của nhà văn, tìm hiểu về phong
cách độc đáo của ông.
Trước hết, "Trần thuật là một phương thức cơ bản của tự sự, một yếu
tố quan trọng tạo nên hình thức của tác phẩm văn học. Cái hay, sức hấp dẫn
của một truyện ngắn hay tiểu thuyết phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật kể
chuyện của nhà văn. (187,18). Vai trò đậm nhạt của trần thuật còn phụ
thuộc vào đặc điểm của thể loại, những khuynh hướng phát triển của thể
loại ấy. Trong địa hạt của tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng,
1
nghệ thuật trần thuật đóng vai trò tối quan trọng. Nó không chỉ là yếu tố
liên kết, dẫn dắt câu chuyện mà còn là bản thân của câu chuyện. Khi mà cốt
truyện không còn đóng vai trò xương sườn, nhân vật bị xoá mờ đường viền
cụ thể thì yếu tố trần thuật là chìa khoá mở ra những cánh cửa của truyện.
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã có những bước phát triển mạnh mẽ theo
những khuynh hướng phức tạp khác nhau. Trong đó, khuynh hướng tiểu

Câu chuyện ngay lúc đầu được xác định trong giới hạn không gian là
"trong căn hộ trên tầng sáu (7-2) nhưng câu chuyện được kể không giới hạn
trong cánh cửa mà xảy ra ở cuộc sống ngoài kia, nhốn nháo và đầy nghịch
lí. Không gian mở rộng từ khoảng hẹp là thành phố, nông thôn rồi rộng hơn
là không gian các nước khác như nước Mĩ, các nước Châu Âu. Đó không
chỉ là không gian xã hội bao quát mà còn là không gian riêng tư của những
gia đình, phòng trà, phòng khách, không gian chính giới, học thuật … Tất
cả đều được mở ra cả chiều rộng và chiều sâu.
Điều đáng chú ý là điểm nhìn luôn được dịch chuyển linh hoạt, từ toạ
độ ban đầu (căn phòng) chuyển đến các không gian rồi quay trở về toạ độ
cũ, lại tiếp tục dịch chuyển. Tưởng như điểm nhìn ấy có một toạ độ trung
tâm : căn phòng và những toạ độ biên, các không gian rộng mở, những
không gian hẹp khác. Giữa các toạ độ ấy luôn có sự liên kết, song chiếu lẫn
nhau.
3
Song trùng với sự dịch chuyển của điểm nhìn không gian là sự thay
đổi của điểm nhìn thời gian. Thời gian hiện tại, quá khứ, thời gian cuộc đời,
thời gian thực và thời gian trong truyện cổ. Điểm nhấn của tác phẩm là sự
chuyển hoá linh hoạt giữa thời gian cuộc đời trong tác phẩm. Kết cấu
"truyện trong truyện" tạo đà cho sự đan xen thời gian cuộc đời của các nhân
vật. Từ người đàn ông (anh), người đàn bà (chị) đến hoạ sĩ trồng chuối hột,
người mẹ, giáo sư 1, giáo sư 2… Sự chuyển biến linh hoạt giữa điểm nhìn
thời gian cuộc đời tạo nên sự xen kẽ những câu chuyện một cách tự nhiên.
Nó cũng thể hiện sự đa phức của mảng hiện thực nhà văn phản ánh. Ở đó
không chỉ có câu chuyện của người kể mà còn câu chuyện của biết bao số
phận, không chỉ có chuyện của quá khứ hay hiện tại mà còn là sự dịch
chuyển từ quá khứ đến hiện tại, sự đối sánh từ hiện tại trở về quá khứ …
Sự vận động chuyển hoá linh hoạt của điểm nhìn nghệ thuật không
chỉ diễn ra trong không gian, thời gian, nó còn luôn chuyển hoá giữa điểm
nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong. Sự chuyển hoá điểm nhìn bên ngoài

Điều đó tạo nên sự phức điệu của nhân vật, giọng điệu trần thuật. Trang văn
vì thế mà rất hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc một cách mạnh mẽ.
5
2. Người trần thuật trung tâm và người trần thuật đổi vai.
Hồ Anh Thái không xưng tôi như trong các truyện tự sự mà xưng là
tác giả và đối thoại với độc giả ngay từ những trang truyện dầu tiên của tiểu
thuyết. Sự công khai vị trí của người viết và người đọc thể hiện nhà văn
tham dự vào câu chuyện một cách khách quan và mời gọi người đọc cùng
tham dự.
Tác giả là nhân vật trong tác phẩm, người kể câu chuyện được chứng
kiến, người trần thuật trung tâm hàm ẩn. Các nhân vật cũng lần lượt kể
những câu chuyện của riêng mình, chuyển vai trần thuật liên tục. Điều này
vừa giống lại vừa khác nhân vật kể chuyện trong truyện cổ Nghìn lẻ một
đêm. Nếu như trong truyện cổ, nàng Chahrazahe là người kể câu chuyện
chính, là sườn chung cho câu chuyện và các nhân vật còn lại là những
người "kể chuyện dây chuyền" đứng lên kể những câu chuyện cổ khác thì
trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, vai kể tác giả, người đàn ông, người đàn
bà là những vai kể ban đầu, khơi mở, có thể xem là những vai trần thuật
trung tâm, những người trần thuật còn lại là những người trần thuật đổi vai.
Nếu như sự dịch chuyển điểm nhìn trong không gian, thời gian luôn có sự
hướng tâm về không gian trong nhà chung cư, thời gian hiện tại thì nhân vật
trần thuật cũng có sự chuyển vai hướng tâm về người đàn ông (anh) và
người đàn bà (chị). Nhưng sự chuyển đổi không theo trật tự tuyến tính cũng
6
không theo kiểu vòng tròn mở kết duy nhất như trong câu chuyện cổ Nghìn
lẻ một đêm mà có dịch dịch biến linh hoạt, cắt ngang liên tưởng tuỳ hứng.
Điểm nhấn của những nhân vật trần thuật là những nhân vật không
tên, không mặt. Nhân vật được gọi theo ngôi nhân xưng thứ 3: anh, chị,
theo chức danh xã hội, nghề nghiệp như hoạ sĩ trồng chuối hột, ông Vip, là
thằng bé hàng xóm, người cá, giáo sư I, giáo sư II … Đó là sự xóa nhoà

Sự xuất hiện của nhân vật trần thuật trung tâm và nhân vật trần thuật
đổi vai cho thấy những sáng tạo riêng của nhà văn. Và những đặc điểm của
nhân vật trần thuật cho thấy người trần thuật trong tác phẩm vừa giữ vai trò
dẫn chuyện, kể chuyện vừa là trung tâm của câu chuyện. Qua xây dựng
nhân vật trần thuật, Hồ Anh Thái đã thể hiện phần nào cách nhìn nhận, đánh
giá về cuộc sống còn người thời hiện đại.
8
3. Hợp xướng giọng điệu.
Giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu
trong nghệ thuật tự sự. Đại văn hào Lep Tônxtôi đã từng nhận xét " Cái khó
nhất khi bắt tay viết một tác phẩm mới không phải chuyện đề tài, tài liệu mà
phải lực chọn một giọng điệu thích hợp". Như vậy cái quan trọng không
phải là viết về những cái gì, mức độ phức tạp của những vấn đề được trình
bày trong tác phẩm mà chính là cách thể hiện, thái độ của nhà văn về những
điều mình thu nhận từ cuộc sống.
Hồ Anh Thái là một "người kể chuyện có duyên" và có giọng đặc sắc
riêng. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng tạo của cái duyên và
đặc sắc ấy chính là giọng điệu trần thuật. Ngay từ những trang viết đầu tiên,
nhà văn đã tạo chú ý về một lối kể chuyện hài hước sâu sắc riêng. Và đến
những tác phẩm đạt độ chín nghệ thuật như Bốn lối vào nhà cười, Cõi
người rung chuông tận thể, Mười lẻ một đêm … nhà văn đã khẳng định
được phong cách riêng của mình.
Trong sáng tác của Hồ Anh Thái luôn có sự tham dự của dàn hợp
xướng giọng điệu, hài hước, giễu nhại, trữ tình, triết lí … Sự hoà điệu
của các giọng khác nhau tạo nên một lối kể chuyện nhiều bè, những
cách nhìn nhận khác nhau về cuộc sống của nhà văn.
Trong tác phẩm này, hài hước, giễu nhại là chủ âm của bè giọng điệu.
Hài hước được hiểu như một kiểu giọng vui đùa pha trò, cười cợt và châm
biếm nhẹ nhàng chừng mực với mọi hiện tượng đời sống. Nó xuất hiện
nhiều trong các tiểu thuyết sau 75. Điều đó xuất phát từ những đổi thay của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status