171
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 51, 2009 NH
ỮNG CÁCH TÂN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
V
Ề CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
Bùi Thanh Truyền
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Lê Biên Thuỳ
Trường Đại học Dân lập Phú Xuân
TÓM TẮT
Hồ Anh Thái là một trong số những gương mặt tiểu thuyết tiêu biểu của văn học Việt
Nam thời đổi mới. Một trong những nỗ lực dễ nhận thấy và rất đáng ghi nhận của tác giả này là
sự cách tân trên bình diện nghệ thuật về con người - hạt nhân của sự thay đổi, phát triển một
giai đoạn văn học. Đây chính là một đóng góp quan trọng của nhà văn cho công cuộc hiện đại
hóa văn xuôi Việt Nam đương đại nói chung, tiểu thuyết nói riêng.
1. Gần đây, người ta thường nói đến sự thống ngự của truyện ngắn trên văn đàn
Vi
ệt Nam đương đại. Điều đó không có nghĩa là tiểu thuyết không còn địa vị nhất định
c
ủa nó. Sự phát triển theo khuynh hướng chậm mà chắc của tiểu thuyết suốt hai thập kỉ
qua g
ắn liền với tên tuổi của những cây bút như Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Bảo
ện rất riêng. Chính sự kết hợp hài hoà giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương 172
Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về “cõi
ng
ười” trong những trang viết của anh. Dẫu vẫn còn đôi điều cần bàn cãi, nhưng công
b
ằng mà nói, những tiểu thuyết của nhà văn này đã thể hiện sự nghiêm túc, khắt khe
trong vi
ệc tìm tòi, đổi mới văn học trên nhiều phương diện, nhưng đáng chú ý nhất là
quan ni
ệm nghệ thuật về con người. Đây là nhân tố, điểm tựa quan trọng góp phần làm
thay
đổi diện mạo văn xuôi đương đại.
2. “Con ng
ười là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu vừa là cái đích
cu
ối cùng của văn học, đồng thời cùng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi
v
ấn đề xã hội, sự kiện và biến cố lịch sử”
(1)
. Nguồn gốc sâu xa của tiến trình đổi mới
v
ăn học nói chung, của một tác giả nói riêng, đều bắt nguồn từ trong cảm hứng sáng tạo,
trong quan ni
ệm nghệ thuật về con người, trong tư duy nghệ thuật.
Con ng
ười, theo quan niệm triết học phương Đông, là một tiểu vũ trụ huyền bí
và sâu th
ệnh dân tộc, văn học giai đoạn này dường như cũng chỉ mới phản ánh cái hiện thực bề
n
ổi, dù có đạn bom nhưng vẫn trong lành, tinh khiết đến độ “vô trùng”, mà chưa có điều
ki
ện để phản ánh một cách toàn diện cái hiện thực phức tạp và khốc liệt của chiến tranh,
ch
ưa đi sâu vào những mâu thuẫn nội bộ nhân dân, vào những vấn đề xã hội trong cuộc
s
ống bình thường hằng ngày của con người, vào số phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân.
Nh
ững vấn đề cội rễ nhân bản của văn học chỉ được đặt ra như một bình diện phụ, sau
bình di
ện con người - xã hội, cả trong sáng tác cũng như trong nghiên cứu. Tính hiện
th
ực của văn học vì thế cũng được đo bằng sự phản ánh những mặt cơ bản của hiện thực
là s
ản xuất và chiến đấu. Hiện thực này nhiều khi là cái cần có hơn là cái hiện có. Điều
này
đôi lúc, đôi nơi đã không thể tránh được sự lệch lạc trong nhìn nhận, đánh giá tính
hi
ện thực của văn học, sự sơ lược, giả tạo, công thức trong phản ánh, khám phá cuộc
sống của nhà văn. 173
Sau năm 1975, mà nhất là sau 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, văn học
b
ị chi phối bởi quy luật của thời bình. Lúc này, văn xuôi kháng chiến về cơ bản đã hoàn
t
ất sứ mệnh của mình, nhường chỗ cho một nền văn học mới thích ứng với những chất
ăn học bằng việc xây dựng chân dung con người mới hiện đại chính là tham vọng, nỗ
l
ực của Hồ Anh Thái. Cũng như bao nhà văn đương đại khác, Hồ Anh Thái vẫn tìm đến
nh
ững đề tài chiến tranh nhưng anh đã có cái nhìn sâu hơn về người chiến sĩ. Không lý
t
ưởng hoá họ mà anh đi sâu vào nội tâm, kiếm tìm, lật xới, đưa ra ánh sáng những phần
khu
ất lấp bên trong con người bấy lâu nay còn Nn giấu. Anh mạnh dạn nhìn vào hiện
th
ực chiến tranh và không khỏi đau xót trước hình ảnh những cô thanh niên xung phong,
m
ột thời phục vụ cho cuộc chiến, hy sinh tuổi xuân, sắc đẹp vì lý tưởng, để rồi chiến
tranh qua
đi chính họ lại cô đơn, lạc lõng và trở thành những “người đàn bà trên đảo”.
Quay tr
ở về với cuộc sống, họ ngỡ ngàng trước hiện thực, xót xa vì nhận ra cái tuổi đẹp
nh
ất của mình đã vùi sâu dưới lòng đất, nơi chỉ còn những mảnh bom đạn và ký ức.
Trong s
ương hồng hiện ra cũng đề cập đến con người anh hùng, nhưng không
ph
ải là những anh hùng chỉ biết ngNng cao đầu tiến lên, nhằm thẳng hướng quân thù mà
h
ọ còn là những anh lính thích nhảy và ưa hát, lại khá tinh nghịch. “Chất” lính với
nh
ững hình ảnh rất đời thường, hồn nhiên và đáng yêu như thế có lẽ rất hiếm thấy trong
ti
ểu thuyết trước đây, khi mà đa phần người viết đều thiên về nhìn nhận họ như những
ng
v
ấn, đứng chênh vênh giữa hai bờ thiện và ác để sám hối, để thức tỉnh, để tự tìm cho
mình m
ột con đường. Hành trình dấn thân - tự vấn của nhân vật đã giúp cho người đọc
nh
ận biết được phần Nn khuất bên trong của Đông – cũng là của chính mình.
Con ng
ười trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái phức tạp, đa dạng và đều là những
lát c
ắt chân thực cuộc sống đương đại với đầy đủ những cung bậc “đa sự - đa đoan” của
nó.
Đó không phải là những con người “đơn trị”, “dễ hiểu” mà là con người đa chiều, đa
di
ện. Khuynh và Diệu trong Người và xe chạy dưới ánh trăng luôn sống với hai cuộc
đời thật - giả. Khát vọng quyền lực đến mức bệnh hoạn đã đưa Khuynh đến bi kịch. Khi
bi
ết tin vợ con anh chết trong một trận bom, mọi người đều chia buồn, an ủi, nhưng họ
đã lầm. Và sự thật tàn nhẫn đến khó tin này đã được tác giả mượn lời một nhân vật khác
để phơi ra trần trụi: “Anh Chín tưởng Khuynh đau đớn về vợ con? Không đâu, khi đơn
v
ị chuyển đi, Khuynh cảm thấy như trút được gánh nặng, và đã để vợ con ở lại. Cũng là
trong su
ốt mấy năm ở tuyến lửa, Khuynh ít nghĩ tới họ”
(3)
. Cái chết ấy dường như với
Khuynh là m
ột sự giải thoát. Không ai hiểu được Khuynh ngoại trừ bà mẹ, bà biết:
“Con bà n
ếu làm chồng làm cha sẽ là một người chồng người cha dửng dưng, lạnh lẽo.
N
nội". Một mặt, người viết tái hiện bức tranh hiện thực sống động với những mặt đối lập
riêng – chung, cá nhân - c
ộng đồng, trăn trở đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mang tính
nhân v
ăn về những vấn đề của đời sống xã hội, đời sống người đời; mặt khác, và là mặt
ch
ủ yếu, nhà văn chú trọng khai thác một "hiện thực" khác, phong phú và dồi dào chất
li
ệu không kém, đó là thế giới bên trong thầm kín, thế giới vi mô con người, bằng một
ngôn ng
ữ văn xuôi sống động và đa nghĩa. Từ góc độ này, có thể thấy, Hồ Anh Thái đã
không ng
ại ngần khi dấn thân vào một cuộc hành trình, theo như cách nói của Nguyễn
Minh Châu, th
ể hiện rất rõ "niềm hạnh phúc lớn nhất và cũng là cái điều khổ ải nhất của
anh c
ầm bút xưa nay".
V
ới cái nhìn trực diện vào cái ác, cái xấu, vào những mặt trái của xã hội, qua
cách khám phá th
ế giới tế vi của nhân vật, Hồ Anh Thái đã thật sự đặt ra những vấn đề
“n
ổi cộm” của thời đại và chúng trở thành những thông điệp có ý nghĩa sâu sắc.
Con ng
ười được nhìn nhận như một cá thể bình thường nên nó trần trụi hơn
trong tác ph
Nm của Thái. Thế giới nhân vật của anh là những con người phàm tục trăm
ph
ần trăm. Chỉ biết hưởng thụ, sống gấp, họ thu mình lại trong thế giới cá nhân hết sức
v
ằm ngoài vòng cương tỏa của xã hội.
T
ường trong Người đàn bà trên đảo cũng vậy. Là kẻ tật nguyền, bị loại ra khỏi
vòng quay tàn nh
ẫn của chiến tranh, Tường đã rất ý thức về trị giá giống đực của mình
và t
ận dụng mọi cơ hội (cả khách quan lẫn chủ quan), bày ra mọi thủ đoạn để biến mình
thành ng
ười phối giống cho tất cả những người đàn bà Đội Năm. Nhân vật Bà mẹ với
n
ăm lần đò và vô vàn những cuộc phiêu lưu tình ái trong Mười lẻ một đêm cũng kinh
hoàng không kém. Ham mu
ốn tình dục vượt ngưỡng khiến người mẹ trẻ này sẵn sàng
g
ạt sang bên cái gọi là phNm hạnh thiêng liêng đối với một phụ nữ bình thường – đó là
ch
ăm lo, gìn giữ hình ảnh của mình trong mắt của con cái: bà không cần giấu giếm khi
để cho đứa con gái của mình “phải chứng kiến tất cả các thể loại đàn ông của mẹ”. Câu 176
nói được bà sử dụng như một kỹ xảo đối với đối tác của mình là: “Về làm gì, ở lại ngủ
cho vui”. K
ết quả sau mỗi lần ly dị là một lần bà được một cái nhà: “Chồng đầu tiên
được một cái nhà để xe. Chồng thứ hai được chia đôi căn phòng hai mươi mét vuông.
Ch
ồng thứ ba căn hộ tập thể tầng hai. Chồng thứ tư được chín mét vuông phố cổ. Chồng
th
ứ năm khá nhất, giáo sư viện trưởng, căn hộ chung cư chất lượng cao”
(4)
ười để gióng lên hồi chuông khNn thiết về sự khô kiệt nhân tính đang có mặt khắp nơi.
Sau quá trình trôi n
ổi ngỡ như vô định, người viết đã đưa nhân vật của mình quay lại cái
ph
ương Đông thuần hậu, chất phác. Đông đã có hành động tuyệt giao với cái ác, cái xấu
(v
ứt viên thuốc độc vào cống nước) “để thanh lọc cái tâm hồn tội lỗi của mình”
(6)
. Con
ng
ười biết suy ngẫm, biết trăn trở, biết từ bỏ cái xấu để về bên cái đẹp, biết đau đớn cho
nh
ững điều trông thấy trong “Cõi người” phức tạp hôm nay, con người ấy thật đáng
th
ương, đáng quý. Tác phNm là cả một tấm lòng bao dung, là hồi chuông “cảnh tỉnh”
con ng
ười của tác giả.
Trong ti
ểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái - Đức Phật nàng Savitri và tôi - ta
l
ại bắt gặp một con người hoàn toàn khác lạ. Có thể nói, con người ấy là của riêng, của
để dành của anh. Trong tác phNm này, người viết đã xây dựng thành công kiểu con
ng
ười tâm linh, con người giác ngộ. Ở đó, họ vô ưu, tĩnh thiền để nhìn vào cõi lòng
mình, th
ực hiện một cuộc hành trình ngược hướng đầy vất vả để tìm lại cái “bản lai diện
m
ục” của chính mình. Đây có lẽ là con người đẹp nhất, toàn bích nhất, con người mà
H
ồ Anh Thái dành tất cả tấm lòng tôn kính để xây dựng lên. Con người ấy có một gia
Để trở thành Đấng Giác Ngộ - điều ấy thật không dễ dễ dàng. Hoàng tử
Siddhattha
đã trải qua biết bao khó khăn, thử thách, cạm bẫy, có khi đứng chênh vênh
gi
ữa sự sống và cái chết. Nhưng cuối cùng, chính ý chí, lòng quyết tâm, và trên hết là
m
ột trái tim tha thiết sống vì con người, cho con người, đã giúp chàng lĩnh hội được
chân lý cu
ộc sống, con đường diệt khổ để đưa nhân sinh tới cõi Niết Bàn.
Sau khi tr
ở thành Phật, Buddha đã cảm hoá, giác ngộ những sinh linh đang rơi
vào vòng t
ội lỗi, khổ đau, tuyệt vọng. Biết bao người nhờ thế đã tìm được cho mình lẽ
s
ống, sự thanh thản, chay tịnh. Yasa từ một tay ăn chơi số một của kinh thành Varanasi
đã quy y để sống cuộc đời của một khất sĩ. Hoàng tử Ahimsaka trí tuệ, thông thái, chỉ vì
s
ự đố kị của sư phụ, sự ruồng bỏ của người thân nên nên rơi vào ngõ cụt, bất đắc dĩ phải
tr
ở thành tên sát thủ kinh hoàng Anguli Mala, trên người lúc nào cũng có một tràng hạt
làm t
ừ những ngón tay út của nạn nhân, giờ đã được Phật pháp cứu vớt khỏi bến mê,
đưa anh về bên Phật, cải tà quy chính, trở lại đúng như cái tên của mình từ thuở lọt
lòng: Ahimsaka - không sát sinh.
Có th
ể nói, Đức Phật nàng Savitri và tôi là một món lạ, bổ sung thêm một
h
ương vị mới, độc đáo vào thực đơn của Hồ Anh Thái, làm cho truyện của anh nói
chung, ti
ểu thuyết nói riêng tránh được sự đơn điệu, nhàm chán. Món ăn ấy vừa có vị
nh
ững nhân tố quan trọng làm gia tăng chất văn xuôi của truyện như Bakhtin từng nhận
xét.
Đây cũng là cơ hội để nhà văn thực hiện những khát vọng ấp ủ từ lâu nhưng do hoàn
c
ảnh chiến tranh, sự thiếu dân chủ trong cơ chế quản lí văn hoá văn nghệ cũng như những
b
ộn bề thời hậu chiến họ chưa có điều kiện đề cập thấu đáo. Điều đáng quý ở đây là, dù
vi
ết về cái gì, người hay ma, tốt hay xấu, hôm qua hay hôm nay thì cái đích của sáng tác
H
ồ Anh Thái vẫn là cuộc sống hiện tại. Vút lên trên cái nền ngổn ngang, bề bộn của tác
ph
Nm vẫn là khát vọng mong muốn cuộc sống này nhân hậu, tốt đẹp hơn.
Chi
ều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trước hết thể hiện ở chỗ
anh bi
ết vượt qua những lối mòn tư duy coi văn học như là tấm gương phản ánh hiện
th
ực một cách đơn giản - điều mà nhà văn gọi là hiện thực thô sơ - để nhìn cuộc đời như
nó v
ốn có. Để có sức hấp dẫn người đọc, theo tác giả, cái hiện thực ngoài đời kia phải
thông qua s
ự cảm thấy của nhà văn, được nhào nặn lại bằng những suy tưởng và tưởng
t
ượng của chủ thể sáng tạo. Giống như Hoà Vang, Hồ Anh Thái cũng không thừa nhận
s
ự độc tôn của phương pháp thuần tuý hiện thực: "Tôi quan niệm tiểu thuyết như một
gi
ấc mơ dài, gấp sách lại người ta vừa mừng rơn như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng,
"Th
ế giới này nhỏ bé lắm, người ta phải thêm vào đó một chút tưởng tượng"; hoặc của
Aimat
ốp, nhà văn Nga từng nổi tiếng với những sáng tác huyền thoại như Con tàu trắng,
Và m
ột ngày dài hơn thế kỉ: "Chúng ta chỉ nhận thấy hiện thực tuyệt vời của chúng ta,
s
ự nghiệp của chúng ta, lịch sử của chúng ta, cuộc sống của chúng ta. Nhưng theo tôi,
cách nhìn nh
ận hời hợt trong văn học lỗi thời rồi, cần phải có một cách nhìn bổ sung,
cách nhìn "t
ừ phía bên", cách nhìn sâu thẳm, cách nhìn của quá khứ. Tất cả những cái
đó gộp lại làm cho sức mạnh của hình tượng nghệ thuật thêm cô đọng. Truyền thuyết,
huy
ền thoại, bài ca, toàn bộ kết cấu của chúng đã giúp tôi trong việc tìm kiếm tính nhiều
bình di
ện và tính nhiều chiều như vậy"
(9)
. 179
4. Người Trung Quốc xưa đã có quan niệm rất hay về con người. Con người là
trung tâm c
ủa vũ trụ. Trời - cha ở trên. Đất - mẹ ở dưới. Sinh ra con người ở giữa, hội tụ
đủ mọi tinh hoa của trời đất. Nhưng để trở thành tinh anh, thì con người phải vượt qua
được thử thách của xã hội, có sức đề kháng với quá trình tha hóa âm thầm nhưng khốc
li
ệt của cuộc sống thường hằng. Con người chỉ có thể “bản thiện” khi mới sinh ra; theo
th
tu
ột…(Không có vua); nữ nhân vật chính trong Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu cứ quay
cu
ồng trong những đợt cưỡng hiếp tưởng tượng từ thế giới cõi âm; Phạm Thị Hoài, Bảo
Ninh, T
ạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương… cũng tạo ra những cái “rùng mình” của văn
hoá dân t
ộc thì Hồ Anh Thái vẫn thủy chung trong hành trình tìm kiếm những hạt mầm
thiên l
ương đang le lói trên những gương mặt méo mó, dị dạng, trong những tâm hồn
đang tha hóa, kéo họ về với cõi người dẫu không ít cay nghiệt, bất như ý nhưng vẫn rất
bao dung,
đáng sống, đáng để được nâng niu, đưa họ tới bến đỗ của tình yêu thương,
c
ủa niềm tin vào khả năng phục thiện, hướng thiện ở mỗi con người. Thực tiễn sáng tác
c
ủa Hồ Anh Thái là một minh chứng cho thấy tư duy nghệ thuật đang trở về với con
ng
ười cá nhân với những cái "lăn tăn", "khổ đau ngậm ngùi nho nhỏ" của nó. Đây là
nguyên nhân c
ơ bản làm thay đổi nghệ thuật khắc họa hình tượng nhân vật, cấu trúc của
sáng tác,
đổi thay nguyên tắc thể hiện viễn cảnh trong truyện ngắn và tiểu thuyết thời
đổi mới.
V
ăn đàn đương đại không chỉ thâu nhận Hồ Anh Thái với vị trí của một nghệ sĩ,
mà còn ghi tên anh vào công cu
ộc đổi mới, cách tân văn xuôi đương đại nói chung, tiểu
thuy
ết nói riêng. Cũng như sáng tác của một số cây bút văn xuôi thời Đổi mới (Nguyễn
Nam t
ự tin bước ra thế giới.
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
1. Nhiều tác giả, Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy,
Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 2005; tr 195.
2. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, NXB. Giáo dục, Hà Nội (1998) 46.
3. Hồ Anh Thái, Người và xe chạy dưới ánh trăng, NXB. Hội Nhà văn, Hà Nội (2005)
177, 179.
4. Hồ Anh Thái, Mười lẻ một đêm, NXB. Đà Nẵng (2006) 19, 61.
5. Hồ Anh Thái, Đức Phật, nàng Savitri và tôi, NXB. Đà Nẵng (2007) 129, 35.
6. Hồ Anh Thái, Cõi người rung chuông tận thế, NXB. Đà Nẵng (2004) 160.
7. Hồ Anh Thái, Cõi người rung chuông tận thế - Tác phm và dư luận, Nxb. Đà Nẵng,
(2003) 269, 261 - 269.
8. Hồ Anh Thái, Họ trở thành nhân vật của tôi, NXB.Hội Nhà văn, Hà Nội (2003) 12.
9. Lê Sơn, Lời giới thiệu Và một ngày dài hơn thế kỉ, NXB. Lao động, Hà Nội, 1986.
181
INNOVATION IN THE CONCEPTS OF ART IN HO ANH THAI’S NOVELS
Bui Thanh Truyen
College of Pedagogy, Hue University
Le Bien Thuy
Phu Xuan University
SUMMARY
Ho Anh Thai is one of the typical novel writers of Vietnamese literature in Doi Moi
period. One of the significant and very recognizable efforts of this author is the innovation he
has showed on the way to the art of human, which is the kernel for changes and for the