văn hóa tâm linh người việt trong tiểu thuyết mẫu thượng ngàn của nguyễn xuân khánh - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

TRƢƠNG THỊ HÒA VĂN HÓA TÂM LINH NGƢỜI VIỆT
TRONG TIỂU THUYẾT MẪU THƢỢNG NGÀN
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Tuấn Anh THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác. Trƣơng Thị Hòa i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ TIỂU
THUYẾT MẪU THƢỢNG NGÀN CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 9
1.1. Khái quát về văn hóa tâm linh 9
1.1.1. Văn hóa và văn hóa tâm linh 9
1.1.2. Văn hóa tâm linh trong đời sống cộng đồng người Việt 14
1.1.3. Văn hóa tâm linh trong văn học nghệ thuật 19
1.2. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn 24
1.2.1. Nguyễn Xuân Khánh và chủ đề lịch sử - tôn giáo 24
1.2.2. Nét đậm của văn hóa tâm linh trong Mẫu Thượng Ngàn 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
1.1. Tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới đã trở thành một tâm điểm thu hút
sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Nó được coi là một trong những thể loại
phát triển mạnh mẽ nhất của văn học Việt Nam. Thành công của thể loại tiểu
thuyết trong văn học giai đoạn hiện nay có thể được coi là sự phát triển vượt
bậc của văn học nhằm đến sự hoàn thiện cho chức năng của văn học đối với
cuộc sống, phản ánh cuộc sống một cách toàn diện nhất. Trong quá trình
khám phá ấy, tiểu thuyết tập trung đi tìm những cách tân trong đề tài, chủ đề,
bút pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, cấu trúc và từng bước tìm đến vấn đề tâm
linh, một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, biểu
tượng văn hóa nhằm thấy được mối quan hệ giữa biểu tượng văn hóa và hình
tượng văn học như một tất yếu được thức nhận chủ yếu qua ý thức tâm linh.
Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) ra mắt bạn đọc năm 2006
được đánh giá là cuốn tiểu thuyết giàu giá trị. Ngay từ khi ra đời, cuốn tiểu
thuyết đã được đông đảo bạn đọc và giới phê bình, nghiên cứu văn học quan
tâm. Người ta chú ý đến nhiều khía cạnh của tác phẩm, trong đó đặc biệt phải
kể đến một vấn đề quan trọng, đó là việc nhà văn đã thể hiện một cách độc
đáo những nét đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục tập quán của nền văn hóa
Việt. Bằng cách đưa hàng loạt những hình ảnh liên quan trực tiếp đến đời
sống, tín ngưỡng và phong tục Việt Nam, tác giả đã tạo dựng trong sáng tác
của mình một thế giới tâm linh đa dạng, đậm nét từ ngoại cảnh đến nội tâm.
Có thể xem đây là một khám phá mới mẻ, mở đường cho thể loại tiểu thuyết

1.3. Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hóa ngày càng trở
nên sâu rộng, Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn,
liên quan đến sự sống còn của văn hóa dân tộc. Trước những yêu cầu của dân
tộc và thời đại, đặc biệt là trong xu thế giao lưu, hội nhập hiện nay, việc
nghiên cứu vấn đề văn hóa tâm linh Việt để có cái nhìn đúng về sức mạnh
văn hóa tâm linh Việt có ý nghĩa to lớn đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa ,
phát huy sức mạnh văn hóa để nâng giá trị con người Việt Nam lên một tầm
cao mới.

3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Đó là những lí do chúng tôi tiếp cận, tìm hiểu Văn hóa tâm linh ngƣời
Việt trong tiểu thuyết Mẫu Thƣợng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các ý kiến phê bình trên báo, tạp chí, các bài phỏng vấn
Nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét: “ Đóng góp lớn của nhà tiểu thuyết
là sự khám phá sâu sắc con người Việt ở chiều kích văn hoá tâm linh, phong
tục, tập quán, tín ngưỡng - con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của một
cơ tầng văn hoá bản địa vô cùng giàu có, ẩn hiện trong sương khói mộng mị
huyền bí mà nguyên khối trong lành, tươi sáng, vẻ như cổ quái mà thân mật
ấm áp nhân tình, tràn trề sức sinh sôi như cây đời, bền vững vĩnh hằng như
trời đất. Khám phá này có cơ sở bền vững ở sự hiểu biết thấu đáo, kỹ lưỡng
trong sự tham chiếu và được nhà văn biểu hiện qua một loạt hình tượng nhân
vật, đặc biệt là tầng tầng lớp lớp các nhân vật nữ huyền ảo mà chân thật, chứa
chan phồn thực mà cao sang, chất phác, giản dị mà lộng lẫy tươi đẹp. Cuốn
sách là một công trình văn hoá, văn học, vừa nghiêm túc, vừa tráng lệ.” [25].
Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong cuộc trả lời phỏng vấn của
VTC News đă khẳng định: “Mẫu Thượng Ngàn là nhân vật quần chúng
nhưng lại mang tính đại diện tiêu biểu cho dân tộc Việt và Đạo Mẫu trong

nhất là khi nhà văn đã thể hiện một cách vô cùng độc đáo những nét đặc sắc
về tín ngưỡng, phong tục tập quán của nền văn hóa Việt. Cũng có thể coi đây
là một hướng đi mới của thể loại tiểu thuyết, bởi khi đề cập tới những giá trị
về mặt văn hóa phong tục sẽ rất dễ dàng tạo nên cho tác phẩm một sức sống
lâu bền trong nền văn học dân tộc…Thành công của Nguyễn Xuân Khánh
phải chăng sẽ là điểm bắt đầu, là sự mở đường cho thể loại tiểu thuyết về
phong tục tập quán, về văn hóa trong văn học Việt Nam?” [32].
Trần Thị An - (Viện Khoa học Xã hội) trong bài viết Sức ám ảnh của
tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết "Mẫu Thượng Ngàn" trên Tạp chí Văn
học , số 6/2007 khẳng định: “Chọn thời điểm đầu thế kỷ XX làm bối cảnh cho
cuốn tiểu thuyết, có thể thấy, vấn đề mà Nguyễn Xuân Khánh đặt ra trong

5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Mẫu Thượng Ngàn là vấn đề số phận của dân tộc trước ngoại xâm, rộng ra là
những thách đố về ứng xử của cả dân tộc trước sự tiếp xúc với ngoại bang -
một vấn đề nổi lên nhức nhối ở nhiều thời điểm trong lịch sử Việt Nam…”
[1]. Cũng theo Trần Thị An thì vấn đề trung tâm mà tác phẩm này đặt ra là nỗ
lực tìm kiếm và dựng lại một không gian tinh thần mà từ đó, căn cốt tinh thần
của người Việt được định hình. Không gian tinh thần ấy, là không gian văn
hóa làng mà hạt nhân quan trọng nhất trong đó là tín ngưỡng dân gian.
Ngoài các ý kiến trên, còn có nhiều bài viết trên các báo Văn nghệ trẻ,
Thanh niên, Nhân dân…cũng quan tâm đến Mẫu Thượng Ngàn và nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh như: Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết
mới – Tác giả Quỳnh Châu [9]; Mẫu Thượng Ngàn – cơ duyên của Nguyễn
Xuân Khánh – Tác giả Hòa Bình [7]…
Nhìn chung các ý kiến, các bài viết trên đều thống nhất khẳng định thành
công và tài năng của Nguyễn Xuân Khánh trong Mẫu Thượng Ngàn khi tiếp
cận vấn đề bản sắc văn hóa Việt .

tượng mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm đó chính là sức sống mạnh mẽ của
nền văn hóa Việt Nam được thể hiện thông qua những số phận, những cuộc
đời người phụ nữ trong những năm đầu thế kỷ XX ở miền Bắc Việt Nam.
Lịch sử, nhân vật có thể được hư cấu, cũng có thể là những nhân vật “từ trong
ký ức của nhà văn” nhưng tất cả đều tập trung để truyền tải những giá trị của
nền văn hóa Việt từ bao đời nay. Tất nhiên, không thể phủ nhận tính đa nghĩa
của một tác phẩm văn chương, nhưng có thể nói tiếp cận văn hóa lịch sử từ sự
hư cấu, từ những thủ pháp văn học có thể nói là một hướng đi mới mẻ nhưng
sẽ hứa hẹn “những kết tinh độc đáo”. Tuy nhiên các nhận định, các ý kiến
đánh giá mới chỉ dừng lại ở sự khái quát, các công trình nghiên cứu tập trung
đi sâu khai thác thế giới nhân vật, đặc sắc về nghệ thuật, nguyên lý tính Mẫu
…đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến vấn đề
văn hóa tâm linh trong tác phẩm .
Trên những cơ sở đó, đề tài Văn hóa tâm linh ngƣời Việt trong tiểu
thuyết Mẫu Thƣợng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh sẽ đi sâu và tìm hiểu
một cách trọn vẹn một trong những nét đẹp của nền văn hóa Việt: Văn hóa

7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

tâm linh. Vấn đề ấy sẽ được thể hiện như thế nào trong tác phẩm thông qua
những cuộc đời, những số phận cụ thể ở một làng quê nghèo, trong một thời
kỳ biến động của lịch sử đất nước. Khi nét đẹp ấy được khẳng định, được lý
giải một cách thấu đáo qua việc tìm hiểu cuốn tiểu thuyết, sẽ góp phần nhìn
nhận, đánh giá đúng đắn giá trị của văn hóa tâm linh trong đời sống người
Việt.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đặt vấn đề nghiên cứu Văn hóa tâm linh trong Mẫu Thƣợng Ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh, trên cơ sở đi sâu nhận dạng, thống kê, phân loại
các hiện tượng tâm linh trong tác phẩm, lấy điểm tựa là văn hoá truyền thống

Sau khi đã tiến hành thống kê, phân loại, phân tích các biểu hiện văn
hóa tâm linh và các phương thức thể hiện các yếu tố tâm linh, luận văn sẽ tiến
hành khái quát, tổng hợp lại để từ đó đưa ra các nhận định, đánh giá về giá trị
của nó đối với việc thể hiện tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu những biểu hiện của văn hóa tâm linh trong
tác phẩm và sự ảnh hưởng của các yếu tố này đối với cuộc sống con người
trong thời điểm hiện tại. Đồng thời khẳng định, làm sáng tỏ giá trị đặc sắc và
chiều sâu của tác phẩm do yếu tố văn hoá tâm linh mang lại.
6. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Khái quát về văn hóa tâm linh và tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn
của Nguyễn Xuân Khánh .
Chương 2: Những biểu hiện và giá trị của văn hoá tâm linh trong Tác phẩm
Mẫu Thượng Ngàn .
Chương 3: Các phương thức thể hiện yếu tố tâm linh và hiệu quả nghệ thuật.

9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên NỘI DUNG
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA TÂM LINH VÀ TIỂU THUYẾT
MẪU THƢỢNG NGÀN CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

1.1. Khái quát về văn hóa tâm linh
1.1.1. Văn hóa và văn hóa tâm linh
1.1.1.1. Văn hóa
Văn hóa (dịch từ Culture) là khái niệm mang nội hàm rộng với rất
nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh

người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng
ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa” [44]. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm
toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như
định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách
khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Phạm
Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong
phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên
quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con
người làm nên lịch sử… (Văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và
tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu
cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc,
sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [69].
Nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), tổ
chức văn hoá thế giới UNESCO công bố định nghĩa mới về văn hoá: “Văn
hoá là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật
chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần tuý bó hẹp trong sáng tác nghệ
thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản,
truyền thống tín ngưỡng”.
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu văn hoá theo hai nghĩa rộng-hẹp.
Nghĩa rộng, văn hoá bao gồm các giá trị vật chất (văn hoá vật chất) và giá trị

11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

tinh thần (văn hoá tinh thần) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua hoạt
động thực tiễn trong quá trình lịch sử. Nghĩa hẹp, văn hoá chỉ liên quan đến
đời sống tinh thần của con người, tức những giá trị tinh thần nhằm thoả mãn
nhu yếu tinh thần trước hết của con người.

năng biết trước một số biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm
duy tâm” [50; 897]. Ở đây, tâm linh được dùng như một động từ với nội hàm
“tiên tri” (biết trước và nói ra trước các sự kiện trước khi chúng xảy ra).
Còn theo tác giả Nguyễn Đăng Duy thì: “Tâm linh là cái thiêng liêng
cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong tín ngưỡng
tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở
những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [12, 11].
Các khái niệm tâm linh trên tuy khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là
hiểu tâm linh gắn với con người, ở trong con người. Nhưng không thật là đủ
nếu không hiểu tâm linh từ ý nghĩa tự thân của nó cũng như từ thực tiễn đời
sống tinh thần.
Tâm linh gồm hai chữ tâm và linh. Tâm (lòng, tấm lòng). Chữ tâm ở
đây được hiểu trong từ “tâm niệm” (thường xuyên nghĩ tới, tự nhắc mình ghi
nhớ làm theo, tức tin theo điều đó). Như thế tâm trong tâm linh là niềm tin.
Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng liêng (ví dụ: “linh khí” tức khí
thiêng-khí thiêng sông núi). Vậy tâm linh là niềm tin của con người vào sự
linh thiêng.
Tâm linh là một phần không thể thiếu trong đời sống bởi “trong đời
sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh. Về mặt cá nhân đã
như vậy, mà mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy. Nếu
mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức qua những tiêu chuẩn
cụ thể sờ mó được, có thể đánh giá qua những gì cụ thể nhất định, thì về mặt
tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung, nhưng
lại không thể thiếu được ở con người. Con người sở dĩ trở thành con người,
một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh. Nghĩa là tuân theo những giá
trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống
tâm linh của nó [45, 36].

13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

linh không chỉ gồm giá trị văn hóa vô hình (nghi lễ, tập tục, ý niệm ) mà cả
những văn hóa hữu hình phát tín hiệu thiêng (đình, đền, miếu, phủ, chùa, nhà
thờ ). Như thế, tất cả những gì liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ
tạo nên văn hóa tâm linh.
Như vậy, có thể khẳng định rằng đời sống tâm linh là một phần của đời
sống tinh thần, ở đó con người tin vào cái thiêng. Ở đó, con người sống với
phần tâm linh của mình. Đó là không gian của những thần cây đa, ma cây
gạo, của thần thánh, Phật Tiên… Đó là thời gian giỗ, tết, các lễ hội với phần
lễ thiêng liêng, những thời điểm giúp con người giao hòa với trời đất, thiên
nhiên và các thế lực thánh thần. Sống trong không gian, thời gian mang tính
tâm linh ấy, con người được giải tỏa, cởi bỏ phiền muộn lo âu, cầu những
điều tốt đẹp cho mình và người thân.
Từ cách hiểu trên, theo chúng tôi, khái niệm văn hóa tâm linh của
Nguyễn Đăng Duy là tương đối đầy đủ: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu
hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm
tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [12, 26]. Đó là niềm tin
thiêng liêng về tổ tiên, niềm tin về Mẫu, Phật, Chúa, niềm tin về các thần
Thành hoàng v.v Niềm tin thiêng liêng do vậy, được xem là yếu tố then chốt
tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh đúng nghĩa và trang trọng. Một xã
hội văn minh, phát triển, niềm tin thiêng liêng, niềm tin cao cả càng có giá trị
bền vững.
Tóm lại, với những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng nhưng vẫn
có thể khẳng định, văn hóa tâm linh là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ
truyền thống, giáo dục lòng nhân ái và tinh thần hướng thiện đã góp phần tạo
nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa dân tộc.
1.1.2. Văn hóa tâm linh trong đời sống cộng đồng ngƣời Việt

cư dân người Việt làm ăn, sinh sống lệ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, “trông
trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”.
Điều đó dẫn đến hệ quả tất yếu là: tâm lý phụ thuộc, ý thức tôn sùng và thái
độ hòa hợp với thiên nhiên. Từ đó, hình thành lối tư duy tổng hợp và tín
ngưỡng sùng bái tự nhiên, tôn thờ tất cả những lực lượng siêu hình chi phối,
định đoạt đời sống. Đó là cơ sở hình thành tín ngưỡng đặc biệt: tín ngưỡng đa
thần - một yếu tố thiêng trong văn hóa Việt Nam. Giữa bầu trời cao lồng lộng,

16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

có biết bao sự vật sự việc mà con người không thể thấy, không thể hiểu bên
cạnh những gì tri giác được, nên trong thế giới quan của họ mỗi sự vật đều
mang theo một cái gì đó linh thiêng, “vạn vật hữu linh”. Từ núi sông, mưa
gió, đến chim thú, cây đá như đều có thần, có ma. Niềm tin ấy đã trở thành
thói quen thể hiện lòng tôn kính thánh thần, vật thiêng bằng các hình thức lễ
nghi phổ biến: tục thờ thiên thần, nhiên thần, động thực vật và tục tế lễ trời
đất. Để tập trung làm sáng tỏ vấn đề Văn hóa tâm linh trong Mẫu Thựơng
Ngàn, chúng tôi chỉ trình bày hình thức thờ thiên thần, nhiên thần; thờ vật
thiêng là hình thức tín ngưỡng được đề cập đến trong tác phẩm.
Thờ thiên thần, nhiên thần là tục thờ các vị thần có nguồn gốc từ
trời, từ các hiện tượng thiên nhiên (mây, mưa, sấm chớp, nước, đất, núi, đá ).
Sống trong điều kiện địa lý, sinh thái đầy khắc nghiệt, với trình độ hiểu biết,
khả năng nhận thức thực tế của người thời cổ thì không thể nói đến “thay đổi
trời đất, sắp xếp lại giang sơn” mà chỉ thụ động “trông trời”, “lạy trời”, “ơn
trời” mà thôi. Nhận thức ấy hướng họ tìm đến những cách thích ứng với tự
nhiên. Tự nhiên trở thành đối tượng của những ứng xử cụ thể trong cuộc
sống, trước hết là thờ trời, đất, nước. Theo lối sống trọng phụ nữ là thờ các nữ
thần, nên có Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước - những nữ thần cai quản ba hiện
tượng tự nhiên quan trọng nhất, thiết thân nhất đối với nghề nông. Khi có ảnh

đã đi vào các câu chuyện huyền thoại trong dân gian về con vật thiêng phù hộ
cho người.
Bên cạnh đó, các loại cây to, cây cổ thụ cũng trở thành những linh mộc,
“thần cây đa, ma cây gạo”. Các cây sống lâu năm (cây thị, cây gạo, cây đa)
đều có thể thành tinh- Mộc tinh. Các con vật, đồ vật lâu năm cũng có thể
thành tinh, đều có thần có ma trú ngụ. Vì vậy, mà trong dân gian, ngoài việc
thờ cúng các thần linh cao quý thì việc cúng vái, yểm bùa trừ quỷ ma trong
các tinh vật cũng rất phổ biến.
Như thế, có thể thấy, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên đã tạo nên bản sắc
văn hóa của cộng đồng người Việt, như nhắc nhở người dân Việt sống chan
hòa như dây bầu, dây bí cũng đều chung một dàn, và đầy tính bao dung.

18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.1.2.2. Tín ngƣỡng sùng bái con ngƣời
Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần. Cái tinh thần trừu
tượng khó nắm bắt nên người xưa đã “thiêng hóa” nó thành khái niệm linh
hồn. Người xưa quan niệm khi hồn lìa khỏi xác là lúc con người trút hơi thở
cuối cùng. Khi đó, thể xác hòa vào cát bụi còn linh hồn vẫn tồn tại, được thần
linh mang đi, sau đó tiếp tục chuyển sang “sống” ở một cõi khác. Đó là “thế
giới bên kia”, là “cõi âm” theo triết lý âm dương (hồn đi từ cõi dươn gian,
dương thế sang cõi âm-âm ti, âm phủ). Hồn không thể tiêu tan cho nên con
người sau khi chết vẫn còn lại linh hồn, “thác là thể phách, còn là tinh anh”.
Hồn ấy có bản chất như thần linh, ma quỉ. Tuy thuộc về thế giới khác, linh
hồn vẫn tác động trực tiếp đến đời sống con người, gây họa hay tác phúc cho
con người. Đó chính là cơ sở của lòng tin vào linh hồn, vào hiện tượng âm
phù và hình thành tục thờ cúng người chết - một hình thức tín ngưỡng cổ xưa
nhất của loài người. Tín ngưỡng sùng bái con người được biểu hiện qua các
hình thức: thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng lịch sử văn hóa, thờ tà thần.

động văn hóa mang bản sắc văn hóa dân tộc…Cho dù sau này các tôn giáo
khác từ bên ngoài du nhập vào như: Đạo Phật, Thiên Chúa…thì cũng không
thể nào xóa bỏ được văn hóa bản địa này, mà rốt cuộc phải sống chung với
nó, nếu muốn thu phục tín đồ.
1.1.3. Văn hóa tâm linh trong văn học nghệ thuật
Trong nhiều năm gần đây, các vấn đề văn hoá, văn hoá tâm linh, mối
quan hệ giữa văn hoá và văn học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu văn hoá, văn học nước nhà.
Văn hoá là cội nguồn của văn học và “văn học nghệ thuật có nhiệm vụ
và có tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hoá cao quí
ấy” (Phạm Văn Đồng). Giá trị văn hóa, tính văn hoá luôn là một thước đo giá
trị của tác phẩm văn học. Trong Hội thảo quốc tế “Văn học Việt Nam trong
bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế” (Vietnamese Literature in the
Regional and International context of cultural exchanges), được tổ chức tại

Trích đoạn Tiếng đàn hát của cung văn Kết cấu nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status