Tự sự hậu thực dân: lịch sử và
huyền thoại trong "Mẫu thượng
ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh
Bên cạnh hệ thống nhân vật có tính chất chức năng (như là yếu tố góp phần cho
việc diễn giải lịch sử), Nguyễn Xuân Khánh cũng hết sức chú ý đến các chi tiết nghệ
thuật mang dụng ý diễn giải. Trong Mẫu thượng ngàn, chương X: Đối thoại, có vị trí
đáng kể trong cách diễn giải lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh. Đó là một trường đoạn
đối thoại được tổ chức một cách công phu, đặc biệt có dụng ý, bao thuộc cả các cuộc
đàm thoại trên bề mặt và đối thoại tư tưởng ở bề sâu
(8)
.
Hai cuộc đàm thoại: đám giỗ cụ Phó bảng Vũ Huy Tân và bữa tiệc tại đồn điền
Messmer là tâm điểm của chương X. Nếu như đám giỗ mang tinh thần gắn kết thế hệ,
nhắc nhớ truyền thống thì bữa tiệc hướng sâu vào sự phân hóa của những người Pháp
chinh phục An Nam. Ở đó, mỗi một phát ngôn đại diện cho một chiều hướng diễn giải
quá trình thuộc địa hóa. Lá thư của cụ cử Lễ gửi tới mọi người trong đám giỗ thầy và sự
im lặng buồn rầu của cụ đồ Tiết hé lộ sự bất lực của một thế hệ, một mẫu người trước
thời cuộc. Trong cuộc đối diện với thực dân Pháp, dù chủ chiến hay chủ hòa, dù bạo
động hay duy tân, các nhà nho đều nhận thấy sự bất lực của mình. Ý thức tự nhiệm của
họ giờ đây được dồn vào trong niềm tin ở thế hệ trí thức mới, những thanh niên Âu hóa
như Tuấn và Huy. Ở phía người Pháp, việc Tây phương hóa hay chống lại phương Tây ở
người bản địa cũng đã được hình dung tới. Không phải ngẫu nhiên mà trong bữa tiệc,
nhà dân tộc học René nhiều lần đề cập đến tương lai của cuộc tiếp xúc Đông Tây trên
đất nước này, làm nảy sinh những phản hồi từ phía Julien, tạo thành cuộc tranh luận lôi
kéo nhiều người trong bữa tiệc tham gia
(9)
ngàn đều được xây dựng từ quan điểm ấy. Ba mươi năm của cuộc khai phá thuộc địa,
thực tại xã hội của những chinh phạt và kháng cự hầu như vắng bóng để làm bật lên thực
tại chiêm nghiệm của những cá nhân. Mọi hành động lịch sử như vậy đã bị phân rã, lịch
sử thời thuộc địa sinh thành bởi những suy tư cá nhân, là lịch sử của tiếng nói cá thể, tức
lịch sử được viết lại bởi các diễn giải mới về quá khứ.
3. Chỉ cần nhìn vào sự xuất hiện của các nhân vật, cách thức tổ chức thành tuyến
truyện, các tình huống đặt nhân vật vào vị thế phải đối đáp, phát biểu quan niệm,… như
đã chỉ ra ở trên, dễ thấy sự xuất hiện đậm đặc của tác giả. Tính khách quan hóa của câu
chuyện được kể phần nào bị thuyên giảm nhưng mục đích hướng vào sự diễn giải quá
khứ lại được hiển lộ, thậm chí thuyết phục được người đọc bởi chính màu sắc kinh
nghiệm chủ quan của người kể chuyện. Nếu ở các nhân vật trung tâm, những cá tính lịch
sử, kiểu sắp đặt hay “mớm lời” cho nhân vật được triệt để sử dụng, thì ngược lại, ở nhân
vật đám đông, vô danh, bối cảnh lịch sử của tiểu thuyết, tâm thức cộng đồng mới là cái
được ưu tiên tô đậm. Đó là chìa khóa để Nguyễn Xuân Khánh dựng lên tiểu thuyết của
mình không dựa trên cái cốt chính sử quen được thừa nhận: Mẫu thượng ngàn là lịch sử
của những điều thường nhật, một thứ dã sử dung nạp vào nó nhiều diễn giải mang mầu
sắc huyền sử. Có thể nhận định, huyền thoại, huyền thoại hóa và biểu tượng là một
phương diện tự sự tiêu biểu của Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết này. Xử lý thành
công chất liệu huyền thoại và văn hóa Việt Nam thời điểm những năm đầu tiếp xúc
Đông – Tây như một nhà nghiên cứu văn hóa đích thực, chính điều này, đã giúp nhà văn
khách quan hóa những quan điểm có tính chất cá nhân về lịch sử, đồng thời hóa giải tính
chất có phần lộ liễu của tổ chức tự sự trong việc chu tất cho quan điểm lịch sử cá nhân
ấy.
Ngay mở đầu tiểu thuyết, nhà văn đã dẫn dắt người đọc đi vào không gian huyền
hoặc của xứ Cổ Đình bán sơn địa, với hồ Huyền, núi Đùng, sông Son, đền Mẫu bao bọc
ở ngoại vi, rồi trong làng ngoài trại chung nhau một ngôi đình bề thế, ngôi chùa đổ và
cây đa u tịch lốc cốc bình vôi. Cảnh vật là vậy, con người cũng có bao dự cảm bất an,
bao số phận, bao cảnh huống nảy sinh trong lòng người đọc nhiều sắc mắc: khuôn mặt
nửa đẹp đẽ nửa xấu xí của ông Huyền khiến người ta phải tò mò; tiếng thở dài của ông
khiến người ta phải thấp thỏm về tương lai của bé Nhụ đẹp người đẹp nết,… Song hơn
Mẫu ở chương IX
(12)
. Đó cũng là các huyền thoại được thêu dệt xung quanh cô Mùi,
người sẽ thay bà tổ cô trông nom điện Mẫu. Luôn là những điều kỳ diệu mà không đầu
óc duy lý nào có thể giải thích nổi. Đơn cử, “hai câu chuyện: mẫu dạy cầm tay rồi bà già
Mường dạy làm thuốc lá rừng, nghe cứ như chuyện trong mơ”, đến ngay cả người thầy
thuốc là cô Mùi cũng không đoán định được nhiều người “chẳng biết khỏi vì lá hay khỏi
vì bàn tay cô nắm”, chỉ biết rằng người dân kính Mẫu và tin cô, để đến kỳ lên lễ, có khi
“sân đền như nhà thương chữa bệnh” (tr.701).
Lựa chọn đạo Mẫu làm lăng kính, Nguyễn Xuân Khánh đã để các nhân vật trong
tiểu thuyết được bao bọc bởi niềm tin hồn nhiên vào một thế giới đa thần giáo, phát xuất
bởi chỗ được tiếp xúc thường xuyên với sự phồn thực phồn sinh của mảnh đất nhiệt đới.
Đạo Mẫu đã gây dựng được niềm tin trong lòng những người dân bình dị nên trong
những cơn nguy biến, biểu tượng Mẫu dễ dàng trở thành bệ đỡ về mặt tâm linh và động
lực cố kết cộng đồng. Lễ hội ông Đùng bà Đà là minh chứng tiêu biểu cho sức lan tỏa
của tín ngưỡng bản địa ấy. Lễ hội đã xóa bỏ mọi khoảng cách, phân biệt để tất cả mọi
người, dù là kẻ xâm lược hay người bản địa, là người bên lương hay bên giáo, đều được
chung hưởng niềm yêu sống. Trong vòng tay của Mẫu, người ta luôn nhận được tình
thương, lòng nhân ái, bao dung. Việc nhấn mạnh vào khả năng hòa hợp, chung sống của
nhân vật đám đông với niềm tin nguyên lành của đạo Mẫu chứ không phải tính chất đối
kháng giai cấp, dân tộc, ít nhiều đã biểu hiện khuynh hướng tái tạo lịch sử của nhà văn.
Có lẽ Nguyễn Xuân Khánh muốn đi sâu vào nguồn cội của sức sống Việt Nam, căn
nguyên để người dân Việt Nam vượt lên mọi ách thống trị trong suốt mấy ngàn năm
dựng nước chứ không đơn thuần ở thời đoạn là thuộc địa của Pháp. Ta có thể nghĩ đến
một quan niệm về sự hòa giải ở Nguyễn Xuân Khánh khi đặt nhân vật ông Lềnh và đứa
con của Julien trong bụng Nhụ, kết quả của cuộc cưỡng đoạt trong đêm hội làng, vào
trong bối cảnh chung sống mà đạo Mẫu có thể đem lại. Ông Lềnh là minh chứng cho
một sự thực: với hơn hai ngàn năm đô hộ và áp bức, người An Nam vẫn không bị người
Tàu đồng hóa; với sự hiện diện thường xuyên như vậy, trong mắt người An Nam, người
Tầu vẫn chỉ là “chú khách”