Bi kịch hóa trần thuật - Một phương thức tự sự (Trên cứ liệu "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư) - Pdf 19

Bi kịch hóa trần thuật - Một
phương thức tự sự (Trên cứ liệu
"Cánh đồng bất tận" của Nguyễn
Ngọc Tư)

Văn xuôi Việt Nam thời gian gần đây thiên về tìm tòi đổi mới cách kể. Hứng
thú của các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu phê bình là vấn đề cách kể như
thế nào hơn là vấn đề kể cái gì. Đây cũng là điều hợp quy luật, nó đẩy cách sáng
tạo, cách hiểu, cách tiếp nhận về gần hơn với đặc trưng thẩm mỹ của văn học. Một
trong những cách kể được nhiều người quan tâm và đã có những vận dụng thành
công nhất định là bi kịch hoá trần thuật. Ở bài viết này chúng tôi xin đi tìm hiểu
cách kể này dựa trên cứ liệu hai tác phẩm được giải thưởng Hội Nhà văn: Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (Giải thưởng năm 2006) vàVà khi tro bụi của
Đoàn Minh Phượng (Giải thưởng năm 2007).
Lý thuyết tự sự trước nay ghi nhận hai hình thức trần thuật cơ bản: trần thuật
ở ngôi thứ ba (khách quan hoá) và trần thuật ở ngôi thứ nhất (chủ quan hoá). Cách
phân biệt này mới chỉ dừng ở hình thức bề ngoài chứ chưa đi sâu vào phương thức
tự sự bên trong. Điều này cũng chứng tỏ người ta chưa xem người kể đứng gần hay
xa các sự kiện, nhân vật trong truyện một cách cụ thể. Chúng tôi đặt vấn đề bi kịch
hoá trần thuật, cụ thể hơn là bi kịch hoá nhân vật người kể chuyện để tìm hiểu sâu
hơn một bước cụ thể hoá hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất. Theo chúng tôi khi
người kể được nhân vật hoá sẽ thoả mãn hai chức năng: chức năng miêu tả hoàn
cảnh, không gian, thời gian, các biến cố sự kiện và chức năng phát hiện ra thế giới
bên trong của nhân vật người kể chuyện. Người kể không chỉ kể mà còn đóng vai
là một nhân vật, do vậy tất yếu phải biểu hiện những quan niệm, suy nghĩ, tình
cảm với ngôn ngữ, giọng điệu của một con người cụ thể. Vì thế câu chuyện không
chỉ lôi cuốn sự chú ý của người đọc theo dòng các sự kiện mà còn lôi cuốn người
đọc vào cả lời kể, cách kể. Nhờ thế đã tạo ra hai hiệu quả: tạo ra ảo giác ở độc giả

của gia đình mình và của chính mình đã góp phần tạo ra một đặc điểm dễ thấy
ở Cánh đồng bất tận là sự hồn nhiên. Chính điều này đã nói rõ mặt mạnh, mặt yếu
(mà chúng tôi sẽ bàn dưới đây) ở cây bút trẻ tài năng Nguyễn Ngọc Tư thể hiện
trong một truyện vừa gây xôn xao văn đàn, người khen rất nhiều, người chê cũng
không ít. Mô hình kết cấu của Cánh đồng bất tận ảnh hưởng rõ kết cấu trong Chí
Phèo của Nam Cao, nghĩa là điểm nhìn trần thuật được di chuyển trên trục thời
gian bắt đầu từ một thời điểm hiện tại rồi ngược về quá khứ sau đó lại tiếp tục ở
thời tương lai. Mở đầu là cảnh một cô gái điếm bị đám đông đánh đập sau đó
ngược về quá khứ nói về nguyên nhân gây tan vỡ gia đình rồi lại kể tiếp những
chuyện trả hận đàn bà của người cha và cảnh người con gái (Nương) bị cưỡng hiếp
trên cánh đồng. Câu chuyện được mở đầu nói về một hiện tượng xã hội nhức nhối
(tệ nạn gái điếm) đã gây sự chú ý theo dõi ở người đọc: đây là câu chuyện về sex,
về bạo lực hay về số phận một con người đầy bi kịch nào đó… Rồi người kể cứ lái
dần câu chuyện vào nội dung chính bằng cách để cho người kể kể lại chuyện của
gia đình "tôi" và của chính "tôi", bằng cách kể này đã tạo ra ở truyện một hiệu quả
nghệ thuật lưỡng tính. Một là, câu chuyện hồn nhiên như cuộc đời vậy, "tôi" là
một cô gái quê mùa chân chất, mộc mạc cứ thật thà kể, hồn nhiên kể, vì thế mà
người đọc hầu như không thấy dấu vết của sự hư cấu. Hai là, thời điểm xảy ra câu
chuyện và thời điểm kể rất gần nhau nên tính thời sự của câu chuyện còn tươi
nguyên, nóng hổi như là câu chuyện của ngày hôm nay vậy. Mà đã có tính thời sự,
thì bao giờ cũng mang một độ nhạy cảm chính trị nhất định, nếu cứ hồn nhiên kể,
thậm chí quá đà sẽ gây ra một hiệu ứng tức thời ở bạn đọc. Thí dụ chuyện dịch
cúm gia cầm là chuyện nhạy cảm, nhà văn lại khoét sâu vào chuyện này thì thật
không cần thiết. Có chi tiết phản hiện thực như nhà văn để cho người nuôi vịt tự
vẫn vì đàn vịt của mình bị tiêu huỷ. Trên thực tế việc chính quyền ra lệnh phải
ngăn chặn nạn dịch là đúng và bao giờ cũng có một sự đền bù, tất nhiên không thể
thoả đáng nhưng không đến nỗi đẩy người lao động vào bước đường cùng mất hết
gia sản, đến mức phải tự tử. Điều này tạo ra sự phản ứng của một bộ phận bạn đọc
là có lý của họ. Một kinh nghiệm rút ra, trong sáng tạo nghệ thuật sự hồn nhiên là
rất quý nhưng nhà văn không thể ngây thơ về thời cuộc, ngoài tài năng, tâm huyết

thúc bất ngờ khác cho chính “tôi”. Tính chất “ly kì” của câu chuyện điều tra thể
hiện ở những sự bất ngờ từ các nhân vật với các mối quan hệ mới, các lời phủ định
hay tự thú. Chàng trai Michael phủ nhận nội dung nhật ký của chính mình. Ông bố
Kempt tự thú đã giết vợ. Đứa em Marcus bị mất trí nhớ. Cô giáo Sophie (có thể
coi là một nhân chứng trong vụ án) có những lời ngụy biện che giấu sự thật bằng
cách phân tích tâm lý trẻ em rất có sức thuyết phục. Sophie là tình nhân của người
cha (Kempt) rồi trở thành nhân tình của người con trai (Michael).
Tập sách chỉ dày 185 trang không đề tên thể loại. Có lẽ ý định của tác giả là
để cho bạn đọc tuỳ coi đó là truyện vừa hay tiểu thuyết. Theo tôi tập sách có một
cách kể rất tiểu thuyết thể hiện ở sự pha trộn nhiều dạng tiểu thuyết: tiểu thuyết
đời tư, tiểu thuyết tâm lý; tiểu thuyết hình sự, kết hợp nhiều cách kể: dòng ý thức,
đồng hiện, đảo trật tự thời gian… và tận dụng triệt để hiểu biết của người kể
về hội hoạ và âm nhạc, có những trang miêu tả rất hay đạt đến độ tinh tế và sâu
sắc hai lĩnh vực nghệ thuật này. Có hai tuyến truyện song hành xuyên qua các lớp
truyện lồng nhau là chuyện của “tôi” và chuyện “vụ án”. Chọn điểm nhìn trần
thuật là cái “tôi” trong tình trạng cô đơn đến tuyệt vọng đang đi tìm cái chết nên
không hề sợ chết mà do vậy cứ “dấn thân” điều tra các chứng cứ, truy tìm các tình
tiết rối rắm phức tạp của “vụ án”. Sự “dấn thân” này còn cắt nghĩa ở sự đồng cảm
giữa “tôi” và nhân vật, nhất là với nhân vật Marcus. Nếu “tôi” nhìn thấy cảnh mẹ
bị chết bom thì Marcus chứng kiến cảnh mẹ bị giết. “Tôi” và Marcus cùng có một
tuổi thơ trong trại mồ côi. Đây là cách chọn điểm nhìn tối ưu. Điểm nhìn này lại
luôn được di động trên hai trục không gian với các cảnh sống, phong tục, con
người ở Đức và quê hương sinh ra “tôi”; trên hai trục thời gian quá khứ và hiện tại
của “tôi” và của các nhân vật, đã tạo ra sự đa dạng về bức tranh văn hoá đa sắc
màu được thể hiện trong tác phẩm.
3. Bi kịch hoá hoàn cảnh, tâm lý, tính cách nhân vật
Nếu coi Cánh đồng bất tận mang một chủ đề báo ứng như có người đã hiểu
thì câu chuyện chỉ là chuyện của một vài người, của một vài đời người. Có lẽ cao
hơn thế nữa, lấy chủ đề báo ứng làm điểm tựa, câu chuyện hướng về mọi người,
trở thành chuyện của nhiều người, của xã hội. Theo tôi truyện đặt ra một vấn đề xã

của "tôi". "Tôi" đã tìm ra sự thật của vụ án và cực kỳ thất vọng về chàng trai
Michael đã phản bội chính mình. "Tôi" lại tiếp tục đi tìm và đã rất gần với cái chết
thì ý thức đưa "tôi" về quá khứ cùng một ấn tượng tuổi thơ kinh hoàng khắc sâu
trong đáy tim giờ đây sống lại: "Tôi" một đứa trẻ bảy tuổi đang ôm xác mẹ thì
bỗng nghe tiếng gọi từ đâu đó, tiếng gọi của đứa em gái ba tuổi kêu chị chạy đi.
Thế là người chị ấy vùng chạy đi để lại xác mẹ và đứa em ấy đến nay đã 25 năm.
Một chủ đề chống chiến tranh, tố cáo chiến tranh toát lên day dứt người đọc. Tại
sao hình ảnh này cho đến khi "tôi" "một nửa bước vào cái chết" mới hiện ra? Điều
này không khó cắt nghĩa. Một là câu chuyện của "vụ án", nhất là các tình tiết về
Marcus một đứa trẻ năm tuổi khi thấy mẹ bị giết sợ quá mà chạy vào rừng trong
cái rét dưới âm nhiều độ dẫn đến mất trí nhớ đã ám ảnh tới "tôi" sâu sắc. Như vậy,
tuy là hai câu chuyện nhưng lại có mối liên hệ với nhau rất chặt như mạch chìm
của tiểu thuyết. Mạch chìm ấy là tình thương, là sự đồng cảm của hai bi kịch, hai
số phận dù trong những tình cảnh khác nhau. Hai là, khi gần cái chết người ta
thường nghĩ về nơi sinh ra, dĩ nhiên là suy nghĩ ấy thường neo lại nơi những ấn
tượng không bao giờ quên, nhất là ấn tượng tuổi thơ. "Lá rụng về cội". Một chủ đề
chính của tác phẩm rộng hơn nhiều chủ đề tố cáo chiến tranh, chủ đề chạy trốn sự
cô đơn hay bi kịch về sự phản bội chính mình…, đó là chủ đề Quê hương cứu vớt
con người. "Tôi" quyết định không chết nữa mà phải sống để quay trở về quê
hương tìm lại đứa em ba tuổi ngày trước. Cái kết này ứng với câu thơ của Henry
Vaughan được tác giả lấy làm đề từ, nguyên văn tiếng Anh là: And when this dust
falls to the urn/ In that state I came, return. Có nghĩa là Và khi tro bụi rơi về/
Trong lúc đó tôi sẽ quay trở lại, được tác giả dịch thơ: Và khi tro bụi rơi về/ Trong
thinh lặng đó, cận kề quê hương. Đây cũng chính là tâm trạng của hàng triệu
người Việt xa xứ vì chiến tranh đang mong ngóng từng ngày trở về Đất Mẹ. Tiểu
thuyết đã góp một tiếng nói làm xích lại gần hơn những đứa con xa quê xa đất
nước.
Như vậy, cách kể bi kịch hoá trần thuật đã góp phần làm nên thành công
của Cánh đồng bất tận và Và khi tro bụi. Một cách kể mang đậm dấu ấn của "tôi",
nhân vật - người kể chuyện. Ứng với cái "tôi" này, lời văn trong Cánh đồng bất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status