Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ tại An Giang (trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt - Hoa) - Pdf 12



Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO VIệN KHOA HọC Xã HộI VIệT NAM

VIệN NGôN NGữ HọC
oo0oo

HOàNG QuốC Những đặc trng ngôn ngữ học x
hội
Của hiện tợng song ngữ TạI AN
GIANG
(trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt - Hoa) Chuyên ngành : Ngôn ngữ học ứng dụng


Có thể tìm hiểu Luận án tại:
1. THƯ VIệN QuốC GIA
2. THƯ VIệN VIệN NGÔN NGữ HọC

CáC CÔNG Trình Của Tác Giả Đ CÔNG Bố
LIÊN QUAN Đến Luận áN
1. Hoàng Quốc (2003), Góp thêm suy nghĩ về thành
ngữ Hán Việt, T/c Ngôn ngữ & Đời sống, (6), tr.11- 12.
2. Hoàng Quốc (2005), Tình hình dạy và học ở
trờng tiểu học cho học sinh Khmer huyện Tri Tôn tỉnh An
Giang, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học nâng cao chất lợng
đào tạo và bồi dỡng giáo viên ngữ văn THPT ở trờng Đại
học S phạm, Trờng ĐHSP Huế, (Huế, tháng 6/2005), tr.115
- 120.
3. Hoàng Quốc (2005), Tình hình giao tiếp bằng ngôn
ngữ của ngời Hoa trên địa bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An
Giang, trong Ngữ học trẻ 2005. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam
- Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế, Hà Nội, tr.186 -
188.
4. Hoàng Quốc (2006), Thực trạng sử dụng ngôn ngữ
của ngời Hoa ở Châu Đốc (An Giang), trong Ngữ học trẻ
2006. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Viện Đại học mở Hà
Nội, Nxb Đại học S phạm, Hà Nội, tr.235 -239.
5. Hoàng Quốc (2007), Một số đặc điểm về trạng thái
song ngữ Việt - Hoa của ngời Hoa ở An Giang, T/c Ngôn ngữ
(10), tr.66-70.
6. Hoàng Quốc (2008), Một số vấn đề về tiếng Hán
và phơng ngữ Hán, trong Hội thảo khoa học đổi mới nội
dung và phơng pháp dạy học Ngữ văn - Ngoại ngữ trong


2
ngữ của phụ huynh học sinh ngời Hoa đối với trạng thái song ngữ
Việt - Hoa tại địa phơng.
3. Đối tợng và giới hạn t liệu khảo sát
Đối tợng khảo sát là những ngời Hoa đang sinh sống tại
An Giang. Hiện nay tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực
thuộc, bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện.
Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ tập trung vào một số
địa bàn tiêu biểu cho trạng thái song ngữ Việt - Hoa.
4. Phơng pháp và thủ pháp nghiên cứu
4.1. Phơng pháp và thủ pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phơng
pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội bằng anket kết hợp với quan sát và
phỏng vấn sâu; phơng pháp quy nạp trong nghiên cứu, hệ thống hoá
vấn đề; phơng pháp phân tích định lợng, có sử dụng phần mềm
SPSS trong xử lí t liệu; phơng pháp đối chiếu và thống kê. Ngoài ra,
chúng tôi cũng sử dụng các thủ pháp thu thập, phân tích t liệu mà
ngôn ngữ học truyền thống thờng sử dụng.
4.2. Mẫu nghiên cứu: Điều tra khảo sát đợc lựa chọn trên mật độ c
trú của ngời Hoa (nơi ngời Hoa c trú tập trung và nơi họ sống xen
kẽ với cả ngời Kinh, ngời Khmer; và nơi ngời Hoa chỉ c trú xen
kẽ với ngời Kinh); theo giới tính, tuổi tác, nơi sinh, nơi ở, trình độ
học vấn và nghề nghiệp.
5. ý nghĩa lí luận và thực tiễn
5.1. ý nghĩa lí luận: Kết quả khảo sát trạng thái song ngữ Việt - Hoa
ở An Giang góp phần vào việc nghiên cứu hiện tợng song ngữ xã hội
từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, nh cảnh huống ngôn ngữ, vấn
đề giao tiếp trong xã hội song ngữ, sự phân bố chức năng giữa các
ngôn ngữ. Cũng vậy, kết quả khảo sát về thái độ ngôn ngữ cũng nh
tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh, phụ huynh ngời Hoa sẽ

4
Chơng 1
Những cơ sở lý luận liên quan đến luậN án
1.1. Một số vấn đề cơ bản về hiện tợng song ngữ
1.1.1. Khái niệm song ngữ x hội: Khái niệm song ngữ, theo cách
hiểu chung nhất, đó là hiện tợng một ngời có thể biết và sử dụng
hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp. Hiện nay khái
niệm này đã đợc mở rộng. Thứ nhất, xu hớng ngời biết không chỉ
hai mà trên hai ngôn ngữ ngày càng tăng, theo đó, thuật ngữ đa ngữ
xuất hiện. Tuy nhiên, theo thói quen, ngời ta vẫn sử dụng một trong
hai thuật ngữ này (hoặc song ngữ hoặc đa ngữ) cho cùng một hiện
tợng vừa nêu. Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ song
ngữ cũng với nghĩa nh vậy. Thứ hai, nói đến song ngữ không chỉ
nhằm đến các cá nhân song ngữ mà muốn nhằm đến song ngữ trong
một cộng đồng, đó là, hiện tợng song ngữ xã hội.
Thứ ba, yếu tố
quan trọng bậc nhất liên quan đến song ngữ xã hội là phải có ngời
song ngữ. Thứ t, giữa khái niệm tiếng mẹ đẻ với sự hiểu biết về ngôn
ngữ đợc coi là tiếng mẹ đẻ dờng nh không phải lúc nào cũng
trùng nhau. Khái niệm tiếng mẹ đẻ còn liên quan đến ý thức tự giác
tộc ngời của các thành viên trong xã hội. Chẳng hạn, một cá nhân có
thể là dân tộc này nhng lại nhận ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ.
1.1.2. Nguyên nhân nảy sinh hiện tợng song ngữ x hội: Hiện
tợng song ngữ là hệ quả tất yếu dới tác động của hàng loạt các
nhân tố xã hội - ngôn ngữ, nh di dân, giáo dục song ngữ, sự cộng c
giữa các dân tộc, chính trị, kinh tế, v.v ; mối quan hệ giữa các ngôn
ngữ về loại hình, cội nguồn.
1.1.3. Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong x hội song ngữ
1.1.3.1. Tiếp xúc ngôn ngữ: Tiếp xúc ngôn ngữ là sự tác động lẫn
nhau của hai hay hơn hai ngôn ngữ. Xét về mặt lí thuyết, đây là sự tác

các ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có
quan hệ tơng hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với
nhau về mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lí hoặc một thể
thống nhất về chính trị - hành chính nhất định (Nguyễn Nh ý,
1996). Khi nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ cần chỉ ra đợc các

6
thông số về lợng, chất và thái độ ngôn ngữ. Theo đó, khi khảo sát
cảnh huống song ngữ cần chú ý tới trạng thái song ngữ; quan hệ
tơng tác giữa các nhóm ngôn ngữ; các nhân tố ngoài ngôn ngữ nh
kinh tế, văn hoá, chính trị.v.v
1.2.2. Giới thiệu đôi nét về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói
chung và ở An Giang nói riêng
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa
số. Do cộng c giữa các dân tộc đã khiến cho trạng thái song ngữ ở
nớc ta trở nên rất đa dạng. An Giang là một tỉnh đa dân tộc và đa
ngôn ngữ. Trong tổng số dân 2.044.367 thì ngời dân tộc Kinh là
1.940.996, ngời dân tộc thiểu số là 103.380 cho 16 dân tộc, trong đó
chủ yếu là dân tộc Chăm (12.434), dân tộc Khmer (78.706), và dân
tộc Hoa (11.256) (thống kê năm 1999). Tình trạng sống đan xen giữa
các dân tộc, đã tạo nên một trạng thái song ngữ phức tạp trong giao
tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ.
1.3. Một số vấn đề về tiếng Hán và phơng ngữ Hán liên quan
đến đề tài nghiên cứu
1.3.1. Đôi nét về tiếng Hán: Tiếng Hán thuộc ngữ hệ Hán Tạng.
Tiếng Hán là ngôn ngữ có thanh điệu, gồm bốn thanh và một biến thể
của thanh gọi là khinh thanh (thanh nhẹ). Tiếng Hán lấy trật tự từ
và h từ để biểu thị ngữ pháp.
1.3.2. Phân loại phơng ngữ trong tiếng Hán hiện nay: Cách phân
loại loại truyền thống: tiếng Hán có 08 phơng ngữ. Cách phân loại

Việt gốc Hoa. Từ khi Nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (1945)
đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nớc ta đều
gọi là ngời Hoa.
2.1.3. Lịch sử di dân của ngời Hoa vào miền Nam Việt Nam: Do
biến động về lịch sử, chính trị ở Trung Quốc, ngời Hoa có bốn lần di
c lớn sang c trú ở miền Nam Việt Nam, đó là: vào năm 1679; vào
đầu thế kỷ thứ XVIII; vào thế kỷ thứ XIX; vào năm 1949.
2.1.4. Dân số và phân bố dân c của ngời Hoa ở miền Nam Việt
Nam: Ngời Hoa ở Việt Nam có 862.371 ngời (số liệu thống kê

8
năm 1999), phân bố khắp các tỉnh, thành phố của Việt Nam, nhng
phần lớn tập trung tại miền Nam Việt Nam và đông nhất là tại thành
phố Hồ Chí Minh (chiếm 54,5%). Địa bàn c trú của ngời Hoa hết
sức đa dạng, nhng tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, thị tứ.
2.2. Khái quát về ngời Hoa ở An Giang
2.2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên và x hội tỉnh An Giang
2.2.1.1. Đặc điểm địa lí tự nhiên: Tỉnh An giang nằm ở vĩ tuyến 100
0

và 110
0
vĩ bắc, giữa kinh tuyến 104
0
,70 và 105
0
,50 kinh đông, ở
phía Tây Nam của nớc Việt Nam, phía Bắc giáp nớc Campuchia
với đờng biên giới dài gần 100 km, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang,
phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ và phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp.

là buôn bán.
2.2.3.2. Đời sống văn hoá- x hội: Gia đình truyền thống Hoa theo
chế độ phụ hệ, con cái mang họ cha. Khi kết hôn, ngời Hoa không
lấy ngời cùng họ, yếu tố thân tộc đợc coi trọng và là mối dây liên
kết những ngời cùng họ với nhau qua nhiều thế hệ.
2.2.3.3. Dòng họ: Nhiều dòng họ ngời Hoa sống tập trung và c trú
lâu đời trong tỉnh nh các họ: Lâm, Lý, Trần, Tăng, Lu, La, Lơng,
Ngô, Quách, Hà, Thôi, Tống, Nguyên, Trang, Tô, Giang. Quan hệ
dòng họ đợc gắn kết qua các buổi cúng giỗ tổ tiên.
2.2.3.4. Tín ngỡng- tôn giáo: Ngời Hoa ở Việt Nam ngoài tín
ngỡng đa thần, còn thể hiện niềm tin vào vật linh. Một số ngời Hoa
cũng theo một số tôn giáo nh Phật giáo, Công giáo và Tin Lành.
2.2.3.5. Phong tục, tập quán, văn hoá dân gian: Phong tục tập quán
của ngời Hoa ở An Giang vừa thể hiện đặc điểm của văn hoá truyền
thống, vừa có sự giao lu với ngời Việt và ngời Khmer.
2.2.3.6. Truyền thống yêu nớc và cách mạng: Ngời Hoa trong tỉnh
đoàn kết, gắn bó với các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, và cùng nhau
đấu tranh chống lại thiên tai địch hoạ và giặc ngoại xâm, bảo vệ biên
giới Tây Nam của tổ quốc.
3. 2.4. Khái quát về tiếng Hoa ở An Giang

10

3.2.4.1. Tiếng Hoa của ngời Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long: đợc
chia thành năm nhóm phơng ngữ, gồm: Quảng Đông, Triều Châu,
Phúc kiến, Hải Nam và Hẹ (Hakka).
3.2.4.2. Khái quát về tiếng Hoa của ngời Hoa ở An Giang: Ngời
Hoa ở An Giang cũng thuộc năm phơng ngữ khác nhau, đó là: Triều
Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ.
Chơng 3

tác: Ngời Hoa ở nhóm tuổi 40 - 60 tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ
chiếm tỉ lệ cao hơn cả (chiếm 74,0%) (Xem bảng 3.12, phần Phụ lục).
3.2.2.4. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa từ góc độ dân
tộc: 140/1071 ngời tự nhận mình là dân tộc Kinh, nhng chỉ có
93/140 ngời tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ; 12/1071 ngời Hoa tự
nhận là dân tộc Khmer, nhng có đến 33/1071 ngời (chiếm 3,1%) tự
nhận tiếng Khmer là tiếng mẹ đẻ (Xem bảng 3.13, phần Phụ lục).
3.2.2.5. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa từ góc độ nơi
sinh: Vấn đề tự nhận tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa An Giang không phụ
thuộc vào nơi sinh của họ (3.14, phần Phụ lục).
3.2.2.6. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa từ góc độ nơi ở:
Ngời Hoa ở Châu Thành tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ cao hơn
so với các địa bàn khác (Xem bảng 3.15, phần Phụ lục).
3.2.2.7. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa từ góc độ học
vấn: Những ngời có trình độ học vấn càng cao thì tỉ lệ tự nhận tiếng
Hoa là tiếng mẹ đẻ càng cao (Xem bảng 3.16, phần Phụ lục).
3.2.2.8. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa từ góc độ nghề
nghiệp: Ngời làm nghề buôn bán tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ
cao nhất (chiếm 70,5%) (Xem bảng 3.17, phần Phụ lục).
3.3. Năng lực ngôn ngữ của ngời Hoa ở An Giang
3.3.1. Đặt vấn đề: Khảo sát tập trung vào năng lực ngôn ngữ của
ngời Hoa đối với tiếng Hoa, tiếng Việt và tiếng Khmer. Lí do là vì:
tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ của ngời Hoa; tiếng Việt là ngôn ngữ giao
tiếp chung; tiếng Khmer đang đợc dùng rộng rãi ở An Giang.
3.3.2. Khảo sát năng lực ngôn ngữ của ngời Hoa, từ các góc độ
khác nhau

12

3.3.2.1. Năng lực ngôn ngữ của ngời Hoa từ góc độ giới tính: Tỉ lệ

13

3.4.1.2. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với ngời thân theo góc
độ tuổi tác: Độ tuổi càng cao thì tỉ lệ sử dụng tiếng Hoa để giao tiếp
với ngời thân trong gia đình (bao gồm cả ba thế hệ) càng cao và
giảm dần theo lứa tuổi (Xem bảng 3.26, phần Phụ lục).
3.4.1.3. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với ngời thân theo góc
độ nơi sinh: Ngời Hoa sinh tại Trung Quốc thờng dùng tiếng Hoa
để giao tiếp với ông bà cao nhất (chiếm 56,3%) và thấp nhất là ngời
Hoa sinh tại An Giang và Campuchia (Xem bảng 3.27, phần Phụ lục).
3.4.1.4. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với ngời thân theo góc
độ nơi ở: Ngời Hoa ở Long Xuyên, Châu Đốc và Tân Châu thờng
dùng tiếng Hoa để giao tiếp với bố mẹ, con, cháu cao hơn ngời Hoa
c trú tại các nơi khác trong tỉnh (Xem bảng 3.28, phần Phụ lục).
3.4.1.5. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với ngời thân theo góc
độ học vấn: Dù ở bất kỳ trình độ học vấn nào, kể cả mù chữ, ngời
Hoa cũng dùng tiếng Việt để giao tiếp với ông bà, bố mẹ, con, cháu
chiếm tỉ lệ cao hơn dùng tiếng Hoa (Xem bảng 3.29, phần Phụ lục).
3.4.1.6. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với ngời thân theo góc
độ nghề nghiệp: Ngời làm nghề buôn bán dùng tiếng Hoa để giao
tiếp với ông bà cao nhất với 29,1% (Xem bảng 3.30, phần Phụ lục).
3.4.2. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với khách
3.4.2.1. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với khách theo góc độ
giới tính: Nam giới dùng tiếng Hoa để giao tiếp với khách quen,
khách lạ là ngời cùng dân tộc bao giờ cũng cao hơn nữ giới (Xem
bảng 3.31a & bảng 3.31b, phần Phụ lục).
3.4.2.2. Ngôn ngữ thờng dùng để giao tiếp với khách theo góc độ
tuổi tác: Ngời Hoa từ 46 tuổi trở lên thờng dùng tiếng Hoa khi giao
tiếp với khách quen cùng dân tộc cao hơn những ngời từ 46 tuổi trở
xuống (Xem bảng 3.32a & bảng 3.32b, phần Phụ lục).

3.5.1.2. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ tuổi
tác: Độ tuổi 46 - 60 dùng tiếng Hoa để phát biểu trong tất cả các cuộc
họp ở phờng, xã cao nhất với 28,4% (Xem bảng 3.38, phần Phụ lục).
3.5.1.3. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ nơi
sinh: Ngời Hoa sinh tại thành phố Hồ Chí Minh trả lời dùng tiếng

15

Hoa để phát biểu trong các cuộc họp tại xã chiếm tỉ lệ khá cao (chiếm
33,3%) (Xem bảng 3.39, phần Phụ lục).
3.5.1.4. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ nơi ở:
Ngời Hoa ở Tri Tôn dùng tiếng Hoa để phát biểu (chiếm 34,9%) cao
hơn ngời Hoa sống ở các nơi khác (Xem bảng 3.40, phần Phụ lục).
3.5.1.5. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ học
vấn: Khi điều tra bằng anket, thì ngời Hoa có trình học vấn tự nhận
dùng tiếng Hoa để phát biểu trong cuộc họp ở các cấp chính quyền
khá cao. Nhng khi quan sát thực tế thì tình hình ngợc lại. Điều này
đợc giải thích là, do đề cao quá mức tính dân tộc của một số trí thức
ngời Hoa nên đã tự khai nh vậy (Xem bảng 3.41, phần Phụ lục).
3.5.1.6. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ nghề
nghiệp: Ngời Hoa làm nghề buôn bán và nội trợ dùng tiếng Hoa để
phát biểu trong các cuộc họp tại phờng, xã cao hơn tất cả những
ngời Hoa làm các ngành nghề khác (Xem bảng 3.42, phần Phụ lục).
3.5.1.7. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính xét theo các nhóm
ngời Hoa: Nhóm ngời Hoa Phúc Kiến dùng tiếng Hoa để phát biểu
trong cuộc họp cao nhất với 31,8% (Xem bảng 3.43, phần Phụ lục).
3.5.2. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức
3.5.2.1. Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức theo góc độ giới
tính: Tỉ lệ sử dụng tiếng Hoa để trao đổi riêng trong các cuộc họp tại
xã với ngời cùng dân tộc cao nhất cũng chỉ là 12,7% và không có sự

dụng tiếng Khmer (Xem từ bảng 3.49 đến bảng 3.55, phần Phụ lục).
3.6.2.2. Nói chuyện điện thoại với ngời Kinh và ngời dân tộc khác:
Khi nghe, gọi điện thoại với ngời Kinh (Việt), ngời Hoa hiếm khi
dùng tiếng Hoa (Xem từ bảng 3.49 đến bảng 3.55, phần Phụ lục).
3.6.3. Ngôn ngữ đợc thể hiện trong ghi chép riêng: Đa số ngời
Hoa cảm thấy thoái mái với việc ghi chép riêng bằng tiếng Việt
(chiếm 85,9%) (Xem từ bảng 3.56a đến bảng 3.56f, phần Phụ lục).
3.6.4. Ngôn ngữ đợc thể hiện trong các hoạt động văn nghệ: Chỉ
có 6,6% ngời Hoa ở độ tuổi từ 46 trở lên ca hát một mình bằng tiếng
Hoa (Xem từ bảng 3.56a đến bảng 3.56f, phần Phụ lục).
3.6.5. Ngôn ngữ đợc thể hiện khi cầu cúng, tế lễ: Việc dùng tiếng
Hoa khi cầu cúng, tế lễ cũng chỉ còn tồn tại ở những ngời Hoa ở

17

nhóm tuổi 46 -60 (chiếm 9,2%) và trên 60 tuổi (chiếm 15,8%) (Xem
từ bảng 3.56a đến bảng 3.56f, phần Phụ lục).
3.6.6. Ngôn ngữ thờng dùng để đọc sách báo: Hầu hết ngời Hoa
đều đọc sách báo bằng tiếng Việt (chiếm 95,7%); 3,1% đọc sách báo
tiếng Hoa; và 1,2% đọc sách báo bằng tiếng Khmer (Xem từ bảng
3.57 đến bảng 3.61, phần Phụ lục).
3.6.6.1. Mức độ hiểu biết khi đọc sách báo: 93,8% ngời Hoa ở An
Giang đều có khả năng đọc hiểu sách báo bằng tiếng Việt (Xem từ
bảng 3.62 đến bảng 3.67, phần Phụ lục).
3.6.6.2. Những khó khăn khi đọc sách báo: Khó khăn lớn nhất đối với
ngời Hoa lớn tuổi là gặp nhiều từ mới khi đọc sách báo tiếng Việt
(Xem từ bảng 3.68 đến bảng 3.73, phần Phụ lục).
3.6.7. Mức độ hiểu biết khi xem truyền hình: 95,8% ngời Hoa hiểu
rõ khi xem truyền hình phát bằng tiếng Việt
(Xem từ bảng 3.74 đến

4.1.2.3. Đối tợng khảo sát: Gồm học sinh ngời Hoa tại các trờng
phổ thông; con em ngời Hoa đang học tại trung tâm Hoa ngữ; và
phụ huynh học sinh ngời Hoa.
4.2. Tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh ngời Hoa
4.2.1. Đối tợng khảo sát cụ thể: Gồm 10 trờng phổ thông, có 3
trờng trung học phổ thông, 3 trờng trung học cơ sở và 4 trờng tiểu
học tại 8 địa bàn. Tổng số học sinh điều tra là 300 em, với độ tuổi từ
7 - 17 tuổi. Trong đó: 163 học sinh nam; 137 học sinh nữ, đợc phân
chia theo các cấp học: 91 học sinh tiểu học; 99 học sinh trung học cơ
sở; và 110 học sinh PTTH (Xem từ bảng 4.1 đến 4.4, phần Phụ lục).
4.2.2. Năng lực ngôn ngữ của học sinh ngời Hoa
4.2.2.1. Đánh giá chung: 100% học sinh ngời Hoa đều biết tiếng
Việt. 171/300 học sinh biết tiếng Hoa ở các mức độ khác nhau và
35/300 học sinh biết tiếng Khmer (Xem bảng 4.5, phần Phụ lục).
4.2.2.2. Năng lực ngôn ngữ của học sinh ngời Hoa, xét từ góc độ địa
bàn c trú: Tỉ lệ học sinh Tri Tôn biết nói, biết chữ Hoa (55,6%) cao
hơn học sinh sống tại các địa bàn khác (Xem bảng 4.6, phần Phụ lục).
4.2.2.3. Năng lực ngôn ngữ của học sinh ngời Hoa, xét từ góc độ học
vấn: Học sinh PTTH biết tiếng Hoa nhiều hơn so với học sinh tiểu

19

học và THCS, đặc biệt là khả năng biết nói, biết chữ (Xem bảng 4.7,
phần Phụ lục).
4.2.3. Ngôn ngữ của học sinh ngời Hoa thờng dùng để giao tiếp
trong gia đình
4.2.3.1. Ngôn ngữ của học sinh ngời Hoa thờng dùng để giao tiếp,
xét từ góc độ giới tính: Khi giao tiếp với ông bà, tỉ lệ học sinh nữ dùng
tiếng Việt cao hơn so với học sinh nam (nữ: 54,1% > nam: 48,3%).
Ngợc lại, tỉ lệ học sinh nam dùng tiếng Hoa lại cao hơn học sinh nữ

tiếng Việt. 2/ Đối với các môn lịch sử, địa lý, âm nhạc, mỹ thuật, kinh
tế gia đình, tức là những môn học gắn liền với việc thể hiện và học
tập văn hoá, bản sắc của dân tộc mình thì một số học sinh ngời Hoa
thích dùng tiếng Hoa (tức tiếng Hán phổ thông) hoặc song ngữ Việt-
Hoa để giảng dạy và học tập. Có một số ít lại cho rằng, sử dụng tiếng
Hoa để dạy cũng rất cần thiết, nhng phải dùng tiếng Việt để hỗ trợ.
3/ Mong muốn chung của học sinh ngời Hoa, trớc hết là đợc học
tiếng Việt và sau đó học thêm tiếng Hoa để giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc (Xem từ bảng 4.18 đến bảng 4.22, phần Phụ lục).
4.3.3. ý kiến của phụ huynh học sinh ngời Hoa đối với việc sử
dụng ngôn ngữ trong nhà trờng
4.3.3.1. ý kiến chung: Đa số phụ huynh cho rằng, nên dạy bằng tiếng
Việt (Xem bảng 4.24, phần Phụ lục).
4.3.3.2. ý kiến cụ thể:
1/ Gần nh 100% ngời Hoa ở độ tuổi 20 - 30
mong muốn dùng tiếng Việt để giảng dạy ở cả 3 cấp học. 2/
ý kiến đề
nghị dạy song ngữ tiếng Việt - tiếng Hoa trong nhà trờng không
đáng kể (Xem bảng 4.25 & bảng 4.26, phần Phụ lục).
4.4. Tiểu kết chơng 4
1/ 100% học sinh ngời Hoa sử dụng tiếng Việt để giao tiếp
trong phạm vi gia đình và trong nhà trờng ở mọi tình huống. Điều
này cho thấy, sự mai một tiếng mẹ đẻ (tiếng Hoa phơng ngữ) là
đích thực - là nhãn tiền. 2/ Về ý kiến của học sinh ngời Hoa cũng
nh phụ huynh học sinh ngời Hoa đối với việc sử dụng ngôn ngữ
trong nhà trờng thì có thể thấy sự thống nhất tuyệt đối là phải sử
dụng tiếng Việt.

21



22

Minh và từ đó bắc cầu sang Trung Quốc, cho nên năng lực tiếng Hoa
cũng có phần tốt hơn so với các nhóm ngời Hoa sinh tại nơi khác.
2.2. Thứ hai, là một trong những dân tộc di c đến đồng bằng sông
Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng khá sớm, ngời Hoa có
quan hệ rất chặt chẽ với ngời Việt và cũng vì vậy mà ngay trong ý
thức về tộc ngời cũng có những cách nhìn thay đổi. Điều này tác
động trực tiếp đến việc sử dụng ngôn ngữ.
2.3. Thứ ba, xét về năng lực ngôn ngữ, nhìn một cách tổng thể có thể
thấy: 100% ngời Hoa đều có khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt.
Ngay cả những gia đình ngời Hoa sống khép kín, có ý thức chỉ sử
dụng tiếng Hoa thì năng lực tiếng Việt của họ cũng tốt, ngời già
cũng vậy. Về năng lực tiếng Hoa của ngời Hoa, khác với các dân tộc
khác, tình hình khá phức tạp. Ngời Hoa ở An Giang hiện nay đang
tồn tại các nhóm phơng ngữ tiếng Hoa nh: Quảng Đông, Triều
Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ. Mặc dù đều là phơng ngữ của
tiếng Hán nhng những ngời thuộc các nhóm phơng ngữ khác nhau
này lại không thể giao tiếp với nhau đợc. Lí do là vì phơng ngữ này
đã hình thành một cách tự nhiên các nhóm nhỏ trong cộng đồng dân
tộc Hoa ở đây. Cùng với hàng loạt các lí do, lí do về ngôn ngữ đã tạo
nên phong tục và thói quen riêng của mỗi nhóm nhỏ này, và do đó họ
có ý thức về từng nhóm nhỏ của mình. Trải qua nhiều thăng trầm, qua
các thế hệ, tiếng Hoa phơng ngữ của ngời Hoa dờng nh đang mai
một dần. Nhng bù lại, một thứ tiếng mẹ đẻ thứ hai (tạm gọi nh vậy)
là tiếng Hán phổ thông bắt đầu hình thành trong cộng đồng ngời
Hoa và đợc ngời Hoa sử dụng để giao tiếp giữa những ngời Hoa
với nhau, bất kể họ thuộc nhóm phơng ngữ Hoa nào. Năng lực tiếng
Việt, tiếng Hoa phơng ngữ và cả tiếng Hán phổ thông của ngời Hoa

trộn các từ tiếng Việt khi giao tiếp theo cách phát âm lơ lớ tiếng
Việt. Chúng tôi chỉ coi đây là hiện tợng trộn mã chứ không phải
vay mợn. Giao tiếp bằng tiếng Việt hay tiếng Hoa mà chúng tôi nêu
ở trên là giao tiếp nói (khẩu ngữ).

24

3. Do tác động của hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ và xã hội trong đó
nổi lên là nhân tố về sự khác nhau giữa các phơng ngữ Hoa mà tiếng
Hoa phơng ngữ của ngời Hoa ở An Giang đang mất dần ở thế hệ
hiện nay. Theo khảo sát thực tế cho thấy, thế hệ học sinh ngời Hoa
hiện nay (thuộc thế hệ thứ 7, thứ 8) hầu nh giao tiếp đơn ngữ bằng
tiếng Việt và thực sự họ không mấy mặn mà với tiếng Hoa phơng
ngữ. Trong khi đó, cũng vì nhiều lí do mà họ biết tiếng Hán phổ
thông cha nhiều. Vì thế, nguyện vọng của một số học sinh, phụ
huynh ngời Hoa là muốn đuợc đa tiếng Hán phổ thông vào giảng
dạy trong nhà trờng. Thiết nghĩ, đây là nguyện vọng chính đáng,
nhng để thực hiện đợc nó là cả một vấn đề. Chẳng hạn, nên gọi
môn này là môn gì? Nếu coi đây là môn học tiếng mẹ đẻ thì học sinh
phải học thêm ngoại ngữ khác nh tiếng Anh, tiếng Pháp, Điều này
sẽ tăng thêm gánh nặng học hành cho học sinh, nhất là học sinh phổ
thông ở vùng xa khi mà tiếng Việt còn là cả một vấn đề. Nhng nếu
gọi là môn ngoại ngữ thì chắc chắn ngời Hoa sẽ không chấp nhận.
Đó mới chỉ là xét về mặt thái độ ngôn ngữ, còn bao điều kiện khác
phải tính đến khi mở thêm một môn học.
4. Trạng thái song ngữ Việt - Hoa của ngời Hoa ở An Giang đang
yếu dần vì hầu hết ngời Hoa ở đây đã sử dụng thành thạo tiếng Việt
và quên dần tiếng Hoa phơng ngữ. Đây là trạng thái song ngữ bất
bình đẳng Việt - Hoa trong đó tiếng Việt chiếm u thế và song ngữ ở
đây có dáng dấp là song thể ngữ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status