những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ việt – hoa tại quận 5, tp hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bích Ngọc

NHỮNG ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA HIỆN TƯỢNG SONG
NGỮ VIỆT – HOA TẠI QUẬN 5,
TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bích Ngọc

NHỮNG ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA HIỆN TƯỢNG SONG
NGỮ VIỆT – HOA TẠI QUẬN 5,
TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành

: Ngôn ngữ học

Mã số

: 60 22 01 02

Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 18 tháng 10 năm 2013.

Nguyễn Thị Bích Ngọc

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 6
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................ 7
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................ 7
3. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 9
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 9
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn .................................................................... 9
7. Cấu trúc của luận văn.................................................................................................. 10

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN ................................................................................ 11
1.1. Những nét khái quát về hiện tượng song ngữ ........................................................ 11
1.1.1. Song ngữ xã hội .................................................................................................... 11
1.1.2. Nguồn gốc của hiện tượng song ngữ .................................................................... 15
1.1.3. Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong xã hội song ngữ ......................................... 18
1.2. Cảnh huống ngôn ngữ .............................................................................................. 22
1.2.1. Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ ........................................................................ 22
1.2.2. Những nét chính về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung và ở Quận 5,

HCM .................................................................................................................................. 59
2.5.1. Ngôn ngữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ giới tính59
2.5.2. Ngôn ngữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ tuổi tác60
2.5.3. Ngôn ngữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ nơi sinh62
2.5.4. Ngôn ngữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân theo góc độ nơi ở ... 63
2.5.5. Ngôn ngữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân, theo góc độ học vấn65
2.5.6. Ngôn ngữ của người Hoa dùng để giao tiếp với người thân từ góc độ nghề
nghiệp ............................................................................................................................. 65
2.6. Ngôn ngữ chọn dùng trong giao tiếp với khách của người Hoa ở Quận 5, TP.
HCM .................................................................................................................................. 66
2.6.1. Ngôn ngữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ giới tính .. 66
2.6.2. Ngôn ngữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ tuổi tác ..... 67
2.6.3. Ngôn ngữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nơi sinh .... 68
2.6.4. Ngôn ngữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nơi ở ........ 68
2.6.5. Ngôn ngữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ học vấn .... 69
2.6.6. Ngôn ngữ người Hoa chọn dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nghề nghiệp70
2.7. Ngôn ngữ được chọn dùng để thể hiện nội tâm của người Hoa ở Quận 5, TP.
HCM .................................................................................................................................. 70
2.7.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................. 70
2.7.2. Ngôn ngữ được chọn dùng trong ghi chép riêng .................................................. 71
2.7.3. Ngôn ngữ được chọn dùng để ca hát một mình ................................................... 74
2.7.4. Ngôn ngữ được chọn dùng để cầu cúng, tế lễ ...................................................... 76
2.7.5. Ngôn ngữ được chọn dùng để suy nghĩ................................................................ 77
4


2.8. Tiểu kết chương 2...................................................................................................... 78

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC TIẾNG HOA VỚI TƯ CÁCH LÀ
TIẾNG MẸ ĐẺ TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở QUẬN 5, TP. HỒ CHÍ

ĐHQG

Đại học quốc gia

GS

Giáo sư

HS

Học sinh

HS- SV

Học sinh- sinh viên

KHXH

Khoa học xã hội

Nxb

Nhà xuất bản

SV

Sinh viên

TP. HCM


phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc, làm ngôn ngữ chính trong các hoạt
động bộ máy nhà nước, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong khoa học kĩ
thuật, công nghệ và là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục. 53 ngôn ngữ của 53 dân
tộc ít người là ngôn ngữ giao tiếp trong nội bộ dân tộc bên cạnh tiếng Việt. “Ở các
vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ
phổ thông” (Quyết định 53 CP). Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước
Việt Nam đã tạo đà cho công cuộc bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa tiếng Việt; bảo
tồn và phát huy các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Xét ở góc độ ngôn ngữ,
cũng nhờ đó mà tạo nên cảnh huống đa ngữ tại các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
2) Với tư cách là tiếng mẹ đẻ của dân tộc Hoa, tiếng Hoa ở Việt Nam được bảo
tồn và phát huy, trở thành công cụ giao tiếp của người Hoa bên cạnh tiếng Việt. Vì
thế, trạng thái song ngữ Việt – Hoa là không thể tránh khỏi trong cộng đồng người
Hoa. Theo đó, những hệ quả của trạng thái song ngữ này là tất yếu. Tuy nhiên cho
đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
3) Luận văn này, chúng tôi chọn Quận 5 của TP. Hồ Chí Minh, nơi cộng đồng
người Hoa sinh sống tập trung (chiếm tới 41,42% số dân của quận) làm đối tượng
khảo sát: “Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ Việt Hoa tại quận 5, TP. Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Thông qua khảo sát cảnh huống song ngữ Việt – Hoa ở Quận 5TP.HCM, chúng tôi muốn góp phần nghiên cứu trạng thái song ngữ xã hội của người
Hoa ở Việt Nam, như sự phân bố chức năng giữa tiếng Việt với tiếng Hoa; góp phần
vào nghiên cứu trạng thái đa ngữ xã hội của ngôn ngữ học xã hội.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu
7


sau:
- Hệ thống hóa kiến thức về lí luận liên quan đến đề tài.
- Khảo sát đặc điểm về trạng thái song ngữ Hoa - Việt của người Hoa trong
giao tiếp.
- Khảo sát đặc điểm về dạy học tiếng Hoa với tư cách là tiếng mẹ đẻ.

nói, thêm một địa hạt, thêm một cách nhìn về hiện tượng song ngữ xã hội Việt - Hoa .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận văn là những người Hoa sống tại Quận 5, TP.
HCM. Hiện nay Quận 5 có 15 phường được đánh theo thứ tự từ 1 đến 15 theo hướng
từ Đông sang Tây, diện tích 4.14 km², dân số 174.154 người (trong đó có 72.142
người Hoa). Chúng tôi tiến hành khảo sát ở một số khu phố, con hẻm ở từng phường
nhưng đặc biệt quan tâm phường 6, 7, 11, 13, 14, 15 vì đây là những phường có đông
người Hoa sinh sống.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội bằng anket kết
hợp với quan sát và phỏng vấn sâu; phương pháp quy nạp trong nghiên cứu, hệ thống
hóa vấn đề; phương pháp phân tích định lượng, có sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu
và thống kê SPSS (Statistic Package for Social Science) trong xử lí số liệu; phương
pháp đối chiếu và thống kê. Bên cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng các thủ pháp thu
thập, phân tích tư liệu mà ngôn ngữ học truyền thống thường sử dụng.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lí luận
Luận văn nghiên cứu trạng thái song ngữ Việt – Hoa ở Quận 5 , TPHCM
nhằm mục đích góp thêm một thực tế nghiên cứu hiện tượng song ngữ xã hội từ góc
nhìn của ngôn ngữ học xã hội. Từ đó thêm một tiếng nói làm sáng tỏ những khái
niệm của ngôn ngữ học xã hội như cảnh huống ngôn ngữ, vấn đề giao tiếp trong xã
hội song ngữ, tiếp xúc ngôn ngữ, vay mượn ngôn ngữ. Bên cạnh đó luận văn cũng
mong góp một phần nhỏ giúp những nhà quản lí hoạch định chính sách ngôn ngữ,
định hướng giáo dục song ngữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn trước tiên là để giúp giáo viên giảng dạy tiếng
Việt ở phổ thông có đối tượng là học sinh người Hoa, hiểu rõ cảnh huống ngôn ngữ,
9




Xã hội ngày càng phát triển, vách ngăn khoảng cách địa lý ngày càng mờ nhạt,
thế giới ngày càng tương thông. Thấu hiểu ngôn ngữ cũng là một trong những lý do
khiến cho người ở quốc gia, dân tộc này gần gũi hơn với người ở quốc gia, dân tộc
khác. Từ giữa thế kỷ XX trở về trước, ngôn ngữ học truyền thống gọi hiện tượng một
người, một cá nhân ngoài biết tiếng mẹ đẻ còn biết thêm một thứ tiếng của dân tộc
hay quốc gia khác là người song ngữ. Vậy nên khái niệm song ngữ xã hội vừa dùng
để chỉ hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ vừa dùng để
chỉ hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ để giao tiếp trong xã hội. Cuối thế
kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, cục diện chính trị thế giới chuyển từ đối đầu
sang đối thoại, cộng thêm sự ra đời của Internet nên một người ở quốc gia, dân tộc
này dễ dàng học, sử dụng ngôn ngữ của một quốc gia dân tộc khác. Theo thời gian, số
người không chỉ biết thêm một mà nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ ngày càng
tăng. Từ đó nảy sinh khái niệm “đa ngữ” và “người đa ngữ”. Tuy nhiên theo Nguyễn
Văn Khang [40, tr.113] ngay cả trước kia, khi sử dụng thuật ngữ “song ngữ” cũng đã
bao hàm cả “đa ngữ” trong đó. Trong luận văn này chúng tôi chọn cách gọi “song
ngữ” và song không chỉ có nghĩa là hai mà có thể là hơn hai.
Như trên vừa trình bày thì ba khái niệm tiếng mẹ đẻ, người song ngữ và hiện
tượng song ngữ có liên quan mật thiết với nhau.
Bao giờ cũng vậy khi nói đến hiện tượng song ngữ luôn luôn có một ngôn ngữ
được coi là “ngôn ngữ thứ nhất”. Nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta thường nghĩ
ngay đến tiếng nói đầu tiên, tiếng của cha mẹ nói khi sinh ra con. Đương nhiên
Tiếng mẹ đẻ được dùng để chỉ tiếng của cha mẹ, tiếng của dân tộc. Nếu hiểu như vậy
chúng ta thử giả dụ: anh A người Hoa lấy chị B là người Việt, con họ sinh ra ở Quận
5, TPHCM chỉ biết nói tiếng Việt mà không biết nói tiếng Hoa. Sau đó gia đình
chuyển đến Mỹ sinh sống, đứa bé đi học trường Mỹ nói tiếng Anh Mỹ quên dần tiếng
Việt. Vậy tiếng mẹ đẻ của đứa trẻ là tiếng gì?
11



12


Với một hiện tượng, một khái niệm tưởng như đơn giản, nhưng ở trong xã hội
song ngữ, con người phải di chuyển, thay đổi môi trường sống, thay đổi ngôn ngữ,
hội nhập thế giới nên theo thời gian việc xác định tiếng mẹ đẻ cho thế hệ sau (thế hệ
tiếp theo) là điều không hề đơn giản. Chính vì vậy tổ chức giáo dục và văn hóa của
Liên hợp quốc (UNESCO) khi xem xét vấn đề giáo dục bằng bản ngữ đã đưa ra khái
niệm tiếng mẹ đẻ:
Tiếng mẹ đẻ “là ngôn ngữ mà con người được học trong những năm đầu của
đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên”. “Tiếng mẹ
đẻ không cần phải là thứ tiếng mà cha, mẹ đứa bé dùng cũng không cần phải là ngôn
ngữ ngẫu nhiên mà đứa trẻ học để nói, bởi vì có những hoàn cảnh đặc biệt làm cho nó
vào một tuổi rất sớm đã bỏ một phần hay bỏ hoàn toàn ngôn ngữ đó” (UNESCO
1968). Với định nghĩa này thì chúng ta đã có thể tìm được câu trả lời cho trường hợp
giả dụ ở trên. Ngoài ra, UNESCO cũng đưa ra khái niệm Tiếng bản xứ và Người
không có tiếng mẹ đẻ để nói rõ hơn một số vấn đề liên quan đến tiếng mẹ đẻ.
Tiếng bản xứ (Vernacular - cách gọi khác là thổ ngữ): “Đó là tiếng mẹ đẻ của
một nhóm bị một nhóm khác nói một thứ tiếng khác thống trị về xã hội hay chính trị.
Chúng tôi không coi ngôn ngữ của một nhóm thiểu số trong một nước là bản ngữ nếu
đó là ngôn ngữ chính thức của nước khác” (UNESCO 1968).
SWONAL (speakers without a native language; người không có tiếng mẹ đẻ).
Năng lực ngôn ngữ chủ yếu của người không có tiếng mẹ đẻ không phải là ở tiếng mẹ
đẻ của họ cũng không phải ở ngôn ngữ thứ hai mà họ học được mà là ở ngôn ngữ
trung gian. Người không có tiếng mẹ đẻ thường sống ở xã hội mà ngôn ngữ thứ hai
của họ đang thịnh hành trong giao tiếp. Ví dụ, đối với hậu duệ của người Hoa ở Bắc
Mĩ thì ngôn ngữ thứ nhất của họ là tiếng Hán nhưng hầu như không có ai biết tiếng
Hán mà chỉ biết tiếng Anh theo kiểu pha trộn.
Người song ngữ là nhân tố trung tâm của hiện tượng song ngữ xã hội. Người
song ngữ là người ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết và có thể sử dụng một hoặc nhiều ngôn

còn lại chỉ cần hiểu biết và nắm vững ở một trình độ nhất định ở mức độ hạn định
(Osgood,1965). Như vậy yêu cầu đối với người song ngữ là ngoài tiếng mẹ đẻ thì các
ngôn ngữ khác phải đạt đến mức độ sử dụng để giao tiếp được trong lĩnh vực mà
mình quan tâm. Kiểu người song ngữ này được gọi là người song ngữ không hoàn
toàn (người song ngữ bộ phận, người song ngữ có điều kiện). So với người song ngữ
hoàn toàn, năng lực hay trình độ song ngữ của người song ngữ không hoàn toàn ở
14


mức độ thấp hơn nhiều, nhưng nó lại chính là hiện tượng song ngữ phổ biến. Ví dụ,
trong những trẻ song ngữ ở Quận 5, TP. HCM, có trẻ khi ở nhà vừa dùng tiếng Việt
vừa dùng tiếng Hoa phương ngữ để nói chuyện với người trong gia đình, khi đến
trường thì hoàn toàn dùng tiếng Việt để trao đổi với thầy cô, bạn bè. Kết quả những
trẻ em này không biết chữ Hoa mà chỉ có khả năng giao tiếp nói bằng tiếng Hoa
phương ngữ khi có điều kiện hoàn cảnh phù hợp. Chính vì thế năng lực tiếng Việt của
các em trội hơn hẳn so với năng lực tiếng Hoa. Một số phụ nữ người Hoa ở Quận 5,
TP. HCM thuộc lứa tuổi từ 50 tuổi đến 80 làm nghề nội trợ hoặc buôn bán nhỏ lẻ thì
ngược lại, họ nói tiếng Hoa phương ngữ khi ở nhà, khi ra đường, và cả khi buôn bán.
Họ chỉ dùng tiếng Việt khi khách hàng là người Việt nên khả năng nói và viết tiếng
Việt rất hạn chế.
Ngôn ngữ học xã hội nhìn nhận hiện tượng song ngữ không chỉ ở cá nhân
song ngữ mà quan trọng hơn đó là cộng đồng song ngữ. Trong xã hội có nhiều cá
nhân song ngữ, khi họ tiến hành giao tiếp với nhau thì hình thành nên xã hội song
ngữ, và ngược lại xã hội song ngữ cũng chỉ có thể hình thành và tồn tại khi có các cá
nhân song ngữ tương tác với nhau. Vậy nên song ngữ xã hội chính là hiện tượng
trong một xã hội sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ để giao tiếp. Nói cách khác, đó
là hiện tượng các ngôn ngữ cùng hành chức trong một xã hội [40, tr.114]. Khái niệm
“xã hội” trong ngôn ngữ học xã hội là một khái niệm rộng. Xã hội có thể là cả một
thế giới, một khu vực, một quốc gia, một dân tộc nhưng có khi nó lại chỉ bó gọn trong
một phạm vi hẹp hơn nhiều với ý nghĩa khác nhau như xã hội - nghề nghiệp, xã hội –

Việt cũng học tiếng Hoa phương ngữ. Theo số liệu thống kê dân số năm 2009, thành
phần dân tộc ở TP. HCM và nhiều thành phố lớn khác trên cả nước có đủ 54 dân tộc
anh em và rất đông người nước ngoài cùng cư trú(bảng 1.1). Chính đặc điểm này làm
cho trạng thái song ngữ ở Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng trở nên đa dạng và
phức tạp.

16


Bảng 1.1. Thống kê thành phần dân tộc ở TP. HCM năm 2009
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2009)
STT

DÂN TỘC/DÂN SỐ

TỔNG

NAM

NỮ

Toàn thành phố

7.162.864

3.435.736 3.727.130

1.

Kinh


787

1.603

5.

Mường

3.462

1.526

1.936

6.

Khơ me

24.268

10.853

13.416

7.

Nùng

2.517


98

11. Ê đê

367

160

207

12. Ba na

92

45

47

13. Sán Chay

266

111

155

14. Chăm

7.819


78

34

44

19. RaGlai

75

26

49

1128

659

469


55. Người nước ngoài
1.1.2.2. Song ngữ do chính trị

Đầu thế kỷ XX, Liên Xô là cánh chim đầu đàn của Chủ nghĩa Cộng sản, là một
siêu cường quốc có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Vì vậy nửa thế giới, trong đó có Việt
Nam chọn tiếng Nga là ngoại ngữ dạy trong nhà trường, đặc điểm này tạo nên trạng
17


ngữ mở rộng ra toàn xã hội. Như vậy sự nảy sinh tiếp xúc ngôn ngữ được hình thành
từ việc học thêm một thứ tiếng khác. Ví dụ tiếp xúc giữa tiếng Hoa phương ngữ ở
18


miền Nam Việt Nam và tiếng Việt đã tạo ra những âm tiếng Việt mô phỏng tiếng Hoa
phương ngữ như: Đậu hũ ki (món ăn chay làm từ đậu nành - mô phỏng tiếng Hẹ), Hủ
tiếu (bánh làm từ gạo dạng sợi vuông nhỏ dài dùng để ăn với nước súp - mô phỏng
tiếng Tiều), xí quách (xương heo đã ninh lấy nước súp - mô phỏng từ tiếng Quảng
Đông).
Ngôn ngữ học xã hội xem xét ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của cả cộng đồng
và cá nhân là một thành viên trong đó. “Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng các ngôn
ngữ cùng tồn tại trong một cộng đồng với các thành viên sử dụng chúng trong giao
tiếp và do đó giữa chúng có ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra các hệ quả về ngôn ngữ” [40,
tr.146].
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng phổ
biến. Trước hết, hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ thể hiện ở cá nhân người học ngôn ngữ
mới, với bất cứ người nào trong thời kỳ đầu học ngoại ngữ sẽ chịu ảnh hưởng của
cách phát âm và ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ. Ví dụ, người Việt khi mới học tiếng Anh
thường dùng phụ âm /t’/, /d/ trong tiếng Việt thay cho phụ âm /θ/. Khi người học
ngoại ngữ đã đạt đến một trình độ nhất định sẽ xảy ra hiện tượng tiếp xúc về mặt ứng
dụng đó là hiện tượng chuyển mã hay trộn mã trong giao tiếp.
Ví dụ, Ngày nay trong các cuộc trò chuyện của người Việt chúng ta rất dễ gặp
nhưng câu nói như:
- Em book vé 8g sáng mai cho anh rồi đó. (book - đặt)
- Ok, thanks em. (ok - ừ, thanks - cảm ơn)
- Tối nay anh có đi gặp ông Trần không?
- Chết, tí anh quên, em gọi điện cancel giúp anh nhé. (cancel - hủy ).
(ảnh hưởng về khẩu ngữ)
Hoặc :

xuyên giữa các thành viên của các cộng đồng nói các ngôn ngữ khác nhau (ảnh
hưởng khẩu ngữ) mà còn xảy ra và ảnh hưởng sâu sắc từ sách vở, phim ảnh… Ví dụ
thông qua những bản dịch sách cổ Trung Hoa, phim cổ trang người Việt hay mượn
những từ như: tướng quân, thê tử, huynh, đệ, tỷ, muội…
1.1.3.2. Giao thoa ngôn ngữ

Hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ là rất lớn, biểu hiện ở nhiều mặt và nhiều
mức độ khác nhau, giao thoa ngôn ngữ cũng là một trong những hệ quả của sự tiếp
xúc trực tiếp giữa các ngôn ngữ trong xã hội song ngữ.
20


Giao thoa (interference) vốn là thuật ngữ vật lí học “chỉ hiện tượng hai hay
nhiều sóng cùng tần số làm tăng cường hay làm suy yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại
cùng một điểm” [40, tr.171]. Ngôn ngữ học dùng thuật ngữ này để chỉ hai hay hơn
hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau ở các cá thể hay cộng đồng thì hệ thống ngôn ngữ này
sẽ chịu ảnh hưởng của hệ thống ngôn ngữ khác tạo nên sự lan tỏa, tiếp biến và
chuyển thành các hiện tượng như mô phỏng hay vay mượn.
Giao thoa ở cá nhân người song ngữ tạo ra những hiện tượng lệch chuẩn hay
còn gọi là lỗi, trường hợp dễ thấy nhất là hiện tượng lệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai
dưới sự tác động của tiếng mẹ đẻ, (cũng có khi là sự lệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới
sự tác động của ngôn ngữ thứ hai-nhưng hiện tượng này ít hơn). Sự lệch chuẩn này
diễn ra ở cả bình diện cấu trúc hệ thống, bình diện giao tiếp và bình diện ngôn ngữ
văn hóa.
- Ở cấp độ ngữ âm, những người Hoa lớn tuổi, không thạo tiếng Việt, khi nói
thường thay tất cả trợ từ cuối câu “đây”, “rồi”, “hả”, “à”, “nhé”, “nha”… bằng “a”
hoặc “à” và âm “a”, “à” thường được kéo dài.
Ví dụ:
+ Ngổ tới rồi a. (đây)
+ Nỉ về a. (a)

lúc thiếu thì vay, sau đó có rồi vẫn không trả lại mà dùng cả hai. Người Việt thường
gọi tên những máy móc, hoặc bộ phận máy móc hiện đại nhập từ nước ngoài bằng
cách phiên âm, phỏng âm tiếng nước ngoài sau đó mới tạo ra từ mới. Lúc này cả hai
hoặc ba từ cùng gọi tên một sự vật vẫn được phép cùng tồn tại. Ví dụ: khi chiếc vô
tuyến lần đầu xuất hiện ở Việt Nam, tiếng Việt chưa có từ để gọi nên phải mượn từ
gốc tiếng Anh /television/ theo dạng phỏng âm là /ti vi/, sau đó xuất hiện các từ mới
tạo ra trong tiếng Việt để gọi tên đồ vật này là vô tuyến, hoặc máy thu hình. Sau đó cả
ba từ trên cùng tồn tại. Trường hợp thứ hai, có rồi nhưng vẫn vay, ví dụ: đàn bà/phụ
nữ, đẻ/sinh, chết/hi sinh/từ trần…Theo Nguyễn Văn Khang (2007) “chính hình thức
vay mượn này đã làm nên sự phân hóa về ngữ nghĩa của cả từ vay mượn và các từ
đồng nghĩa với chúng trong bản ngữ”[39,tr.25]. Tóm lại vay mượn ngôn ngữ là một
hiện tượng rất phổ biến, lớp từ vay mượn có mặt ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới.
1.2. Cảnh huống ngôn ngữ
1.2.1. Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ

22


Nghiên cứu hiện tượng song ngữ trên bình diện ngôn ngữ xã hội thực chất là
khảo sát sự phân bố về mặt chức năng xã hội giữa các ngôn ngữ trong xã hội song
ngữ. Để làm được điều này trước tiên cần phải nắm được cảnh huống ngôn ngữ.
Cảnh huống ngôn ngữ (Language sitiuation) là tình hình tồn tại và hành chức của
các ngôn ngữ trong phạm vi cộng đồng hay lãnh thổ. [40, tr.58]. Cảnh huống ngôn
ngữ có thể chỉ giới hạn trong phạm vi của một ngôn ngữ hay một biến thể của ngôn
ngữ (phương ngữ địa lý hay phương ngữ xã hội), cũng có thể là của nhiều phương
ngữ hay nhiều biến thể.
Cùng với mục tiêu chính trị, cảnh huống ngôn ngữ là cơ sở quan trọng cho việc
hoạch định và thực hiện chính sách ngôn ngữ. Nói cách khác thông qua nghiên cứu
ngôn ngữ sẽ có được các thông số cần thiết làm cơ sở khoa học để giải quyết các vấn
đề ngôn ngữ của quốc gia, dân tộc như các vấn đề về chính sách ngôn ngữ, kế hoạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status