Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố hồ chí minh”(nghiên cứu trường hợp quận 7, thành phố hồ chí minh) - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ NGỌC HÂN

HÒA NHẬP XÃ HỘI CỦA TRẺ EM TRONG CÁC
GIA ĐÌNH NGHÈO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUẬN 7,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành

: Xã hội học

Mã số

: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM VĂN QUYẾT

HÀ NỘI - 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản................................................................14
1.1. Một số khái niệm cơ bản...............................................................................14

dụccho trẻ em

29

nghèo............................................................................................
Bảng 2.5. Mối quan hệ bạn bè của trẻ nghèo.................................................. 31
Bảng 2.6. Các cấp độ về nhà ở của trẻ em nghèo đô thị................................. 34
Bảng 2.7. Tỷ lệ nhà ở của trẻ được đảm bảo theo quy định………………… 37
Bảng 2.8. Tình trạng nhà thuê của trẻ nghèo đang sống................................ 37
Bảng 2.9. Trẻ em nghèo đô thị được quan tâm về trang phục....................... 39
Bảng 2.10. Các hình thức trả lương cho trẻ..................................................... 42
Bảng 2.11. Môi trường làm việc của trẻ......................................................... 43
Bảng 2.12. Những nguy cơ đối với trẻ nghèo.................................................. 46
Bảng 2.13. Bữa ăn của trẻ em nghèo.............................................................. 48
Bảng 2.14. Lựa chọn nơi vui chơi của trẻ trong các ngày nghỉ, lễ, tết........... 51
Bảng 2.15. Trẻ không vui chơi........................................................................ 53
Bảng 2.16. Trẻ hiểu biết quyền và tham gia đóng góp ý kiến........................ 54
Bảng 3.1. Những yếu tố tích cực giúp trẻ hòa nhập xã hội............................. 57
Bảng 3.2. Xu hướng lựa chọn trang phục của trẻ........................................... 59
Bảng 3.3. Gia đình quan tâm đến vấn đề học tập của trẻ................................ 59
Hộp 2.1. Chăm sóc sức khỏe của trẻ nghèo................................................... 26
Hộp 2.2. Tình trạng bệnh của trẻ em nghèo..................................................

27

Hộp 2.3. Trẻ nghèo được tạo điều kiện học ngoại khóa................................

30

Hộp 2.4. Hỗ trợ của bạn bè trẻ em nghèo..................................................



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh từng là một “Sài Gòn” đô hội rất hoa lệ, được
chính quyền Đông Dương mệnh danh là “hòn ngọc viễn đông”. Nơi đây đã hội tụ
rất nhiều dòng chảy văn hóa trong lịch sử hình thành và phát triển; từng đón nhận
những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước,
được đánh dấu bằng những di tích lịch sử đặc trưng như: Bưu điện, Bến Nhà Rồng,
dinh Thống Nhất, chợ Bến Thành...
Thành phố mang tên Bác có nhiều ưu điểm ở chỗ các tổ chức tôn giáo, tín
ngưỡng cùng chung sống hòa bình, êm đẹp, họ đã cùng tương trợ và giúp đỡ nhau
để sống tốt đời đẹp đạo với những việc làm mang đậm tính nhân văn. Cho đến thời
điểm hiện nay chắc cũng chưa có tỉnh thành nào chứa đựng nhiều dân tộc cùng
chung sống như nơi đây và cũng chưa có nơi nào tình người cũng nhiều như nơi đây
được thể hiện thông qua những hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, “ủng hộ” người
nghèo và tương trợ với tinh thần quốc tế.
Nơi đây chiếmgiữ vị trí địa lý quan trọng của cả nước, vì là đầu mối giao
thông nối liền các tỉnh trong vùng;lại là đường cửa ngõ quốc tế để giao thương và
trao đổi văn hóa, kinh tế. Thành phố phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hoạt động
văn hóa rất đa dạng vùng miền, tình hình an ninh chính trị ổn định và an toàn trật tự
xã hội được bảo đảm. Là nơi an tâm để tập trung kinh doanh, sản xuất, học tập, sinh
hoạt và vui chơi giải trí.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển chung vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần
phải khắc phục, đòi hỏi cần phải có một sự nỗ lực lớn của lãnh đạo thành phố, sự
đồng thuận ủng hộ của nhân dân. Đặc biệt cần chú ý đến những lĩnh vực có liên
quan đến phát triển an sinh xã hội, trong đó “nghèo” là vấn đề bức thiết đã được đề
ra và giải quyết từ những năm sau đổi mới. Để có kết quả như ngày hôm nay, đòi
hỏi cần phải có một chính sách toàn diện, phủ rộng đến từng hộ dân nghèo với các
giải pháp đồng bộ. Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc giảm nghèo, đến nay cơ

chọn đề tài “Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố
Hồ Chí Minh”(Nghiên cứu trường hợp quận 7, thành phố Hồ Chí Minh) nhằm
tìm hiểu về sự hòa nhập của trẻ em nghèo trong thành phố, làm rõ hơn cơ sở lý
2


thuyết cho việc tiếp cận và lý giải vấn đề về hòa nhập xã hội của trẻ em trong các
gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu về hòa nhập xã hội của người nghèo đô thị
Đô thị hóa giúp cho kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng, là động lực
thúc đẩy đất nước phát triển thoát khỏi nhóm quốc gia kém phát triển. Sự tăng
trưởng về kinh tế còn là cơ sở, nền tảng của đô thị hóa và là điều kiện tiên quyết để
thực hiện công tác giảm nghèo của nước ta. Tuy nhiên, mặt trái của đô thị hóa với
những hệ lụy cần nhiều giải pháp hạn chế các tác động làm nghèo khổ ngày càng
tăng lên.
Nói đến nghèo đô thị thì đã có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo đề cập
đến và có những khuyến nghị, những giải pháp nhằm hỗ trợ người nghèo hòa nhập
xã hội thuận lợi hơn.
Vì bản chất phức tạp và nhạy cảm của vấn đề nghèo nên tác giả Nguyễn
Duy Thắng với bài viết “Nghèo khổ đô thị các nguyên nhân và yếu tố tác động”
yêu cầu phải có cách tiếp cận tổng thể để thấy được toàn vẹn bức tranh nghèo đô thị
có những nguyên nhân và yếu tố tác động phổ biến như: thiếu thu nhập, nghèo vốn
con người và vốn xã hội, tốc độ đô thị hóa và toàn cầu hóa nhanh, khủng hoảng
kinh tế. Điều này cũng tùy thuộc vào quy mô dân số, kích cỡ đô thị, cơ cấu chính
trịxã hội, mối quan hệ với thị trường bên ngoài. Thành phố càng lớn thì mức độ ảnh
hưởng toàn cầu hóa càng cao, trường hợp phục hồi có khả năng nhanh và ngược lại
đối với các thành phố nhỏ [22, tr. 75].Ngoài ra, tác giả Nguyễn Duy Thắng còn
nhấn mạnh nghèo đô thị làm nảy sinh vấn đề tăng khoảng cách giữa giàu nghèo,
phân tầng trong xã hội qua bài viết “Tác động của đô thị hóa đến nghèo khổ và

Thành phố Hồ Chí Minhlà địa phương đầu tiên trong cả nước khởi xướng
công cuộc xóa đói giảm nghèo suốt 24 năm qua, trải qua 4 giai đoạn(1999-2003,
2004-2008, 2009-2013, 2014 -2015). Thành phố luôn hoàn thành mục tiêu giảm
nghèo trước từ 1 đến 2 năm với 7 lần điều chỉnh chuẩn nghèo và cận nghèo. Hiện
nay nhiều hộ không nghèo về thu nhập nhưng vẫn còn gặp khó khăn, thiếu hụt ở các
chiều cạnh khác và không nằm trong danh sách nghèo nên không được các chính
sách hỗ trợ. Như đã nói trên, các phương pháp đo lường nghèo đơn chiều không còn
4


đáp ứng nhu cầu thực tế tình hình nên khái niệm nghèo đa chiềubắt đầu xuất hiện từ
những năm 2013. Ấn phẩm “Tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ y tế và giáo
dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam” của Action
Aid cho thấy những hạn chế của người nghèo khi có chủ trương xã hội hóa 2 trong
số các chiều có trong thang đo nghèo đa chiều[1, tr. 74]cùng với những chính sách
về điều kiện nhà ở, việc làm, hỗ trợ tín dụng đã được gì, còn hạn chế gì cần phải
khắc phục qua báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức” của
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam [28, tr. 76]. Chuẩn bị triển khai cho giai đoạn giảm
nghèo của thành phố lần thứ 5, Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo bền vững của
thành phố tham mưu cho UBND thành phố triển khai cuộc khảo sát hộ nghèo, hộ
cận nghèo của thành phố giai đoạn năm 2016-2020 vào tháng 3/2016 để tìm ra giải
pháp hỗ trợ các hộ nghèo đa chiều phù hợp với nhu cầu với thực tiễn cuộc sống.
Ngoài những vấn đề nêu trên bài viết “Bất bình đẳng giới trong giáo dục
Việt Nam” của tác giả Đỗ Thiên Kính còn nêu những chiều cạnh khác của nghèo đô
thị như: bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ, mà cơ bản nhất là vấn đề về
bất bình đẳng trong giáo dục giữa nông thôn với thành thị và giữa các cấp học, giữa
nam và nữ[15, tr. 75].Bất bình đẳng trong y tế làm cho cơ hội được tiếp cận với
dịch vụ chăm sóc sức khỏe ít đi, các cơ sở y tế xuất hiện nhiều dịch vụ phong phú
để phục vụ nhu cầu của bệnh nhân tùy vào khả năng chi trả. Điều này vô hình chung
đã tạo ra rào cản phân biệt giữa bệnh nhân có điều kiện chi trả với bệnh nhân nghèo,

chăm lo, giáo dục, tạo các điều kiện tối đa để đảm bảo rằng trẻ được thực hiện
quyền của mình. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số ít trẻ vẫn chịu thiệt thòi và
đòi hỏi phải có những giải pháp cấp thiết để hỗ trợ, tạo điều kiện cho trẻ tham gia,
phát triển toàn diện các mặt để đảm bảo lực lượng vốn xã hội cần thiết cho sự phát
triển bền vững của quốc gia.
Báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu?”được phát hành bởi sự kết
hợp giữa Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với UNICEP Việt Nam nêu ra các lý
do để tất cả các quốc gia hay các tổ chức tập trung nghiên cứu và tìm giải pháp để
bảo vệ, chăm sóc, tạo điều kiện tối đa cho trẻ nghèo, đặc biệt là trẻ nghèo tại các đô
thị được thực hiện các quyền cơ bản của mình. Vì đối tượng này thường phải chịu
những nguy cơ cao hơn và bị ảnh hưởng do nghèo khác biệt hơn so với người
6


trưởng thành, các em phải phụ thuộc phần lớn vào môi trường sống trực tiếp của
mình trong việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản và dựa vào sự phân bổ nguồn lực
của cha mẹ, gia đình và cộng đồng. Chính vì thế nên trẻ có nhiều khả năng tiếp tục
phải chịu cảnh nghèo khi trưởng thành bởi nghèo được vận hành như một vòng tròn
lẩn quẩn mà trẻ rơi vào từ khi mới ra đời và không thoát ra được. Do đó, giảm
nghèo trẻ em tuy là một mục tiêu ngắn hạn nhưng lại giúp giảm tỷ lệ nghèo ở người
trưởng thành trong dài hạn [10, tr. 74].
Ở Việt Nam, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu
mà thế giới công nhận. Nhưng vẫn còn một bộ phận trẻ em vẫn phải sống trong
nghèo đói, không được đảm bảo các quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập,
thiếu sự bảo vệ để sống an toàn, lành mạnh. Một bộ phận trẻ này chịu rất nhiều thiệt
thòi, có nguy cơ bị bóc lột, buôn bán, bị lạm dụng, tai nạn thương tích...Thực tế cho
thấy trẻ cần phải được tạo điều kiện để được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản tối
thiểu về ăn, ở, chăm sóc sức khỏe, học tập, vui chơi giải trí, tham gia vào các lĩnh
vực khác.
Đối với vấn đề hỗ trợ cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào những dịch

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm nghiên cứu về mức độ hòa nhập của trẻ em trong các hộ
gia đình nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đánh giá chung về đời sống vật
chất và tinh thần của trẻ em nghèo cũng như xây dựng giải pháp giải quyết những
bất cập trong quá trình thực hiện giảm nghèo đa chiều với đối tượng trẻ em.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Hình thành cơ sở lý thuyết cho việc tiếp cận và lý giải vấn đề về hòa nhập
xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Làm rõ thực trạng hòa nhậpxã hội của trẻ em trong các hộ gia đình nghèo.
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của trẻ.
Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia
đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
8


Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí
Minh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Là những trẻ em sống trong những hộ gia đình nghèo và cận nghèo giai
đoạn 2014 - 2015. Lý do chọn những trẻ em nghèo trong giai đoạn này vì bắt đầu từ
tháng 3/2016 thành phố triển khai đo lường nghèo theo tiêu chí đa chiều, nên luận
văn chưa có số liệu chính thống làm căn cứ thực hiện.
Trẻ em được xác định trong Điều 1, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em năm 2004: Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười
sáu tuổi;
Là hộ gia đình nghèo và cận nghèo theo quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg về
việc ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011- 2015.

liệu như sách báo, số liệu thống kê, các văn bản...có liên quan đến nghèo đa chiều,
giúp luận văn có cái nhìn tổng quát về những vấn đề hòa nhập xã hội của trẻ em tại
đô thị.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Phương pháp nhằm thu
thập thông tin định lượng giúp kiểm định các giả thuyết. Bảng hỏi là công cụ thu
thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này.
Triển khai nghiên cứu 200 trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo tại 4 phường
trên địa bàn quận nhằm thu thập thông tin theo yêu cầu và mục đích của cuộc
nghiên cứu.
Khi tiến hành khảo sát, điều tra viên đã nhờ Bí thư Đoàn và Chuyên trách
giảm nghèo tăng hộ khá của 4 phường hỗ trợ dẫn đến nhà từng em để thực hiện
bảng hỏi. Trong quá trình hỏi, có những thông tin cần đến sự hỗ trợ từ phía phụ
huynh, bạn cùng xóm của trẻ và từ phía chính quyền để khai thác hết thông tin trong
bảng hỏi đề ra.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành
phỏng vấn sâu 7 trường hợp. Trong đó phỏng vấn 4 học sinh, 2 phụ huynh đại diện
cho 4 phường. Ngoài ra còn phỏng vấn 1 Chuyên trách giảm nghèo tăng hộ khá
10


nhằm tìm hiểu sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định lượng không
phù hợp hoặc bổ sung cho cách tiếp cận này.
5.3.2. Chọn mẫu và quy mô
Khung mẫu là danh sách các hộ gia đình trong Chương trình giảm nghèo,
tăng hộ khá giai đoạn (2014-2015).
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên: trong 10 phường bốc thăm
chọn ngẫu nhiên 4 phường có trẻ em nghèo ở độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi mang tính đại
diện gồm phường: Tân Kiểng, Tân Thuận Đông, Tân Hưng, Tân Quy.

nghèo

Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các hộ
gia đình nghèo

1/
Nhóm
Quyền phát
triển,
đo
lường
các
chiều cạnh:
được hỗ trợ
về giáo dục,
được tạo điều
kiện để vui
chơi giải trí,
được chăm
sóc sức khỏe.

2/ Nhóm Quyền
bảo vệ nhằm đo
lường các chiều
cạnh: trẻ được hỗ
trợ nhà ở; trang
phục; lao động
trước tuổi của trẻ,
nguy cơ vướng
vào TNXH và trẻ

quan tâm, tìm hiểu. Tuy nhiên, vấn đề hòa nhập xã hội cho trẻ em nghèo tại đô thị
hiện nay chưa có những nghiên cứu mang tính riêng cho khách thể này, chưa có
những thang đo cụ thể để phản ánh những chiều thiếu hụt của các nhu cầu của trẻ.
Do đó, đề tài góp phần làm rõ hơn mức độ hòa nhập xã hội của trẻ em
nghèo đô thị hiện nay trong tiêu chí nghèo đa chiều và làm sáng tỏ hơn một số lý
thuyết xã hội học khi vận dụng vào nghiên cứu thực tiễn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Hòa nhập xã hội là nhu cầu của các cá nhân, các nhóm trong xã hội. Đề tài
có ý nghĩa: Liệt kê những nhu cầu cơ bản của trẻ nghèo chưa được hòa nhập xã hội,
qua đó cung cấp cho gia đình, chính quyền và cộng đồng xã hội biết được các chiều
thiếu hụt của trẻ nghèo. Mô tả mức độ được tạo điều kiện hòa nhập xã hội của trẻ
trước những nhân tố gia đình, chính quyền và cộng động xã hội, từ các chính sách
dành cho trẻ.
Qua những thông tin thu thập được, hy vọng đề tài luận văn là tài liệu tham
khảo có ích cho các nhà hoạch định chính sách và những người quan tâm đến lĩnh
vực này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2:Các chiều do lường hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo qua nghiên
cứu
Chương 3: Yếu tố tác động đến sự hòa nhập xã hội của trẻ nghèo

13


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. 1.Một số khái niệm cơ bản

vậy là rất nhiều khả năng phải đối mặt với học vấn thấp, thất nghiệp vô gia cư và
kết quả loại trừ nghèo đói, loại trừ xã hội. Mục tiêu là để cho tất cả mọi người một
cơ hội bình đẳng để tham gia trong xã hội, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn bằng
việc loại bỏ các rào cản và loại bỏ những rủi ro.
Trong đề tài, hòa nhập xã hội được sử dụng gắn với hòa nhập xã hội của
trẻ em nghèo. Điều đó có nghĩa đồng thời với việc tạo ra một xã hội hòa nhập thông
qua các chính sách, các cơ chế tạo điều kiện cho trẻ em nghèo cố kết xã hội, là sự
tham gia của trẻ em vào các hoạt động sống của xã hội như với mọi trẻ em khác.
1.1.2. Trẻ em
Luật Bảo vệ,Chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam quy
định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Với góc độ nghiên cứu trẻ trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh thuộc lãnh thổ Việt Nam nên luận văn dùng Luật Bảo vệ, Chăm sóc
và Giáo dục trẻ em năm 2004 làm căn cứ để định nghĩa về “trẻ em” nhằm phù hợp
với thực tế.
1.1.3. Nghèo
“Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động
xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được
khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi
sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an
toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện
rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” (Tổ chức Liên hợp
quốc UNDP). Trong vấn đề nghèo hiện nay được chia thành 2 dạng gồm:
- Nghèo tiền tệ
Được hiểu dựa trên nguyên tắc mỗi cá nhân với sức mua nhất định có thể
thỏa mãn nhu cầu cơ bản của họ. Thuộc tính thõa mãn nhu cầu cơ bản có thể mua
được bên ngoài thị trường và thể hiện bằng tiền. Phương pháp đo lường này được
sử dụng rộng rãi nhất trong việc phân tích nghèo trên thế giới nhưng nó có hạn chế
trong việc đo lường nghèo đối với trẻ em[10, tr. 74].
15


16


nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000
đồng/người/tháng”.
1.2. Lý thuyết vận dụng
1.2.1 Lý thuyết về hòa nhập xã hội
Các vấn đề của xã hội không được giải quyết bằng các giải pháp thuần túy
về kinh tế, mà đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính toàn diện và dựa trên các
chiều cạnh về văn hóa, xã hội nhằm mục đích định hướng tạo được sự phát triển bền
vững của xã hội cũng như tạo được sự bao phủ của các vấn đề xã hội, đặc biệt
những vấn đề xã hội thuộc về các nhóm bị thiệt thòi, tổn thương trong xã hội.
Đây là một trong những định hướng để thúc đẩy vai trò của Nhà nước trong
việc tạo dựng xã hội công bằng và có khả năng giải quyết vấn đề của xã hội. Vì đó
là một chủ đích xây dựng nên xã hội mà trong đó mọi cá nhân được tham gia vào
các hoạt động chung của xã hội, được thể hiện vai trò và sự ảnh hưởng của cá nhân,
cũng như phát huy được cái chung của xã hội.
Theo quan điểm của các nhà chức năng luận tiêu biểu là Durkheim xã hội
có một ý thức tập thể được coi như cơ sở của đạo đức xã hội, nó giúp liên kết các cá
nhân lại với nhau tạo ra hội nhập xã hội.
Theo quan điểm hiện nay thì “hòa nhập xã hội là nói về sự đảm bảo chắc
chắn rằng tất cả trẻ em, người lớn đều chú ý, tôn trọng, có chỗ đứng giống nhau,
đồng thời đều có khả năng tham gia vào đời sống xã hội ở cả mức độ quốc gia và
cộng đồng”. Những chiều cạnh chính trong nội dung hòa nhập xã hội đối với người
nghèo nên hướng đến cách tiếp cận đa chiều và sự hòa nhập cần được xem xét bao
trùm hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội [19, tr. 75].
1.2.2. Lý thuyết về xã hội hóa cá nhân
Theo quan niệm của Xã hội học thì xã hội hóa cá nhân là quá trình hình
thành ý thức trong cách ứng xử của con người. Là một quá trình mà con người tiếp
nhận nền văn hóa của xã hội, có thể học được cách suy nghĩ và ứng xử phù hợp với

dạng xã hội, là nơi để cá nhân tương tác với những thành viên không phải là gia
đình. Tính đa dạng xã hội ở nơi này giúp cho cá nhân có những nhận thức rõ ràng
hơn về vị trí của mình trong cấu trúc xã hội đã được hình thành sẵn từ gia đình. Nhà

18


trường ngày càng có tầm quan trọng càng tăng trong quá trình xã hội hóa của cá
nhân do thời gian phần lớn của mỗi cá nhân đều gắn với môi trường này.
+ Giai đoạn cá nhân bước vào môi trường xã hội
Giai đoạn này cá nhân tham gia xã hội dưới dạng thành viên của các nhóm
xã hội. Quá trình xã hội hóa giai đoạn này được thể hiện thông qua các chuẩn mực
chính thức hay không chính thức và nó chồng chéo, phức tạp hơn so với 2 giai đoạn
trước. Xã hội hóa giai đoạn này thường là một quá trình liên tục, kéo dài đến suốt
cuộc đời. Trong giai đoạn này, cá nhân thực hiện cùng một lúc nhiều vai trò khác
nhau trong các nhóm xã hội và trong toàn xã hội.
Ranh giới giữa 3 giai đoạn xã hội hóa cá nhân không phải lúc nào cũng rõ
ràng với mỗi cá nhân mà nó chỉ mang tính ước lệ. Tức là nó không được phân chia
rạch ròi, cụ thể theo cách giai đoạn này kết thúc thì sẽ đến giai đoạn tiếp theo mà nó
có sự đan xen lẫn nhau. Vì trong thực tế có những cá nhân không trải qua giai đoạn
xã hội hóa cá nhân thứ hai mà bước thẳng vào môi trường xã hội hoặc vì một lý do
nào đó mà cá nhân phải trải qua môi trường xã hội và quay lại giai đoạn xã hội hóa
cá nhân khi còn trong nhà trường, gia đình. Do vậy, xã hội hóa cá nhân chỉ chấm
dứt khi cuộc sống của mỗi cá nhân chấm dứt.
1.2.3.Lý thuyết về thang bậc nhu cầu củaAbraham Maslow
Theo nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất
đến nhu Abraham Maslow cầu cao nhất.Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn
thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.
Trong thang đo của Abraham Maslow có các cấp bậc từ thấp đến cao, thấp
nhất là thang bậc cơ bản và phổ biến nhất đối với nhu cầu của con người.Theo

phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt
tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được
một mục tiêu nào đó, đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con
người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ
khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Những nhu cầu ở cấp
cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
Lý do để luận văn chọn lý thuyết để làm căn cứ vì những nhu cầu của trẻ
nghèo hiện tại đang ở mức thấp nhất và mức thứ hai. Để đảm bảo rằng trẻ được tạo
20


điều kiện để ăn, ở, học hành, chăm sóc y tế và vui chơi giải trí. Đồng thời trẻ nghèo
sẽ có những rủi ro nên trẻ cần phải được bảo vệ và bảo đảm an toàn tính mạng cho
bản thân và những đảm bảo an toàn khác mà không có công cụ nào đo lường được
giá trị vô hình.
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Quận 7 là một trong năm quận mới được thành lập năm 1997 của thành
phố Hồ Chí Minh. Trước kia là địa bàn của thành phố Sài Gòn, sau giải phóng được
nhập vào quận 8, ngày nay thì quận 7 được tách ra từ một phần đất phía Bắc của
huyện Nhà Bè, bao gồm một phần của Thị trấn Nhà Bè và 5 xã. PhíaBắc giáp với
quận 4 và quận 2 với ranh giới hành chính là kênh Tẻ và sông Sài Gòn. Phía Nam
giáp huyện Nhà Bè với ranh giới là rạch Đĩa và sông Phú Xuân. Phía Đông giáp với
quận 2 và tỉnh Đồng Nai với ranh giới là sông Sài Gòn và sông Nhà Bè. Phía Tây
giáp với quận 8 và huyện Bình Chánh với ranh giới là rạch Ông Lớn.
Chiếm giữ vị trí cửa ngõ của khu vực phía Nam thành phố, quận 7 có nhiều
điều kiện thu hút đầu tư cả trong, ngoài nước và khu chế xuất Tân Thuận, khu đô thị
mới Phú Mỹ Hưng là một trong những minh chứng cho sự phát triển vượt trội của
mình đối với thành phố Hồ Chí Minh. Đi đôi với sự phát triển về kinh tế là sự gia
tăng dân số đáng kể từ 90.920 nhân khẩu từ khi mới thành lập quận, đến nay đã tăng
lên thành 300.000 nhân khẩu, phân bổ không đều trên địa bàn quận và đa phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status