công tác xã hội với trẻ em trong các gia đình sau ly hôn - Pdf 25

Phần I - mở đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài.
ôn nhân gia đình và trẻ em gắn bó với nhau, luôn luôn đóng một vai trò
quan trọng và có ý nghĩa chiến lược trong quá trình phát triển của các
quốc gia. Khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, báo hiệu thêm một con người
trên trái đất, thêm một vị trí trên bản đồ xã hội, báo hiệu một quan hệ thiêng
liêng nhất trong một giáo dục: quan hệ “mẫu tử”. Đó cũng là kết quả ban đầu
của hôn nhân, hình thành một gia đình đầy đủ. Lúc này, “chồng - vợ và con”,
là những thành viên cốt lõi của một gia đình hai thế hệ - nói như P.H.
Chambart de Lauwe rất đúng rằng: Chồng - vợ và con - đó là ba người, ba
diễn viên, phân tích trong đó cuộc sống riêng có cả cuộc sống của toàn xã
hội
(1)
.
H
Đứa trẻ sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ trong gia đình, hưởng thụ, kế
thừa và sau đó tham gia vào quá trình sáng tạo không ngừng. Quá trình trưởng
thành này cũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân con người, quá trình
hình thành nhân cách, tạo lập nhiều mối quan hệ tốt đẹp, ổn định, lâu bền theo
các loại hình gia đình truyền thống hoặc gia đình hiện đại trong mỗi giai đoạn
lịch sử khác nhau của sự phát triển xã hội. Quá trình này cũng tạo lập nên
nhiều mô hình, nhiều khuôn mẫu gia đình, từ mô hình hôn nhân đến mô hình
nuôi dạy con cái. Nhiều câu hỏi được đặt ra trong các cuộc sống gia đình, từ
gia đình nghèo khó đến gia đình giàu sang, từ gia đình viên chức đến gia đình
buôn bán, từ gia đình đầy đủ đến gia đình có khuyết tật. Gia đình đã trở thành
một biểu tượng văn hoá, chính trị trong nhiều quốc gia. Năm 1992, gia đình
chính thức được công nhận như một trong các thang giá trị của xã hội Mỹ,
trong đó vấn đề “thiên chức” của người mẹ đã được đề cao. Gia đình gắn bó
với xã hội thông qua nhiều mối quan hệ, hỗ trợ cho cuộc sống hàng ngày của
xã hội, từ việc tái sản sinh ra giống nòi đến việc nuôi dưỡng, duy trì lực lượng
lao động và các công việc cơ bản khác mà xã hội và cộng đồng giao phó. Vì

mọi người, đã làm xấu đi thực sự các điều kiện sinh hoạt kinh tế và văn hoá
và đời sống tinh thần, làm tan vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống tốt đẹp.
Chính R. Arons đã cho rằng “ly hôn là cuộc khủng hoảng của sự biến đổi gia
đình gây ra những thay đổi trong hệ thống gia đình”
(3)
.
*
-ạ"$.ọềụữ(ố/&&0
1
2((3&,4562((7789(#:8938(*&
;<11%<)4$8ạừ-ươủđ%ảị%=+>-?*44*
Trang 2
Trong hoàn cảnh của xã hội Việt Nam, cùng với sự tăng lên của các gia
đình ly hôn, nhất là ở các đô thị, số lượng trẻ em trong các gia đình ly hôn
cũng tăng lên và rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Trong số tỷ lệ 65%-70%
gia đình ly hôn, có tới hàng nghìn trẻ em chưa đến tuổi trưởng thành đã sống
trong hoàn cảnh không có cha, hoặc không có mẹ, hoặc không có cả cha lẫn
mẹ, phải sống với ông, bà, chú, bác nội ngoại, dì ghẻ hoặc bố dượng. Nhiều
em rơi vào hoàn cảnh lang thang đường phố để kiếm sống, lao động sớm,
hoặc rơi vào tình trạng nghiện hút, bị lạm dụng tình dục, mất mát những quan
hệ thiêng liêng như mẹ con, quan hệ huyết thống trong một gia đình truyền
thống. Vì vậy, ngày nay, hơn bao giờ hết, mặc dù trước mắt chúng ta, những
phát minh mới về khoa học và công nghệ đã mở rộng tầm hiểu biết và kỹ
năng của chúng ta, đã tạo nên những xã hội tri thức, nhưng xã hội cũng dường
như ngày một phức tạp thêm. Với những chiếc đài và vô tuyến nhỏ xíu cung
cấp thông tin suốt 24 giờ hàng ngày, thu nhỏ thế giới thành một cộng đồng
nhỏ, Camera tự động, vi mạch điện tử máy tính, Internet đang hàng ngày biến
đổi to lớn về tri thức, về giáo dục và giải trí. Nhưng cũng trước mắt chúng ta,
trên toàn cầu, không có nơi nào chưa bị tấn công, nhiều nơi đã bị khủng bố
gây tang thương, vũ khí hạt nhân sẵn sàng nổ khi có tín hiệu. Hàng ngàn,

Việt Nam, kế tục truyền thống dân tộc “Con hơn cha là nhà có phúc”,
Đảng và nhà nước Việt Nam, ngay từ khi mới giành được độc lập, đã khẳng
định “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà” và “dân tộc
ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé
cho tốt”, “Trước hết, các gia đình (tức là ông, bà, cha mẹ, anh chị) phải làm
thật tốt công việc ấy”
(5)
. Năm 1960 đã có phong trào “Toàn dân chăm sóc,
giáo dục, thiếu niên, nhi đồng” và từ 1979 bắt đầu thực hiện “Pháp lệnh bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở
châu á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ
em (1990). Trong chương trình hành động nhằm thực hiện tuyên bố Thế giới
về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em vào những năm 90, đã nêu rõ
“Gia đình có trách nhiệm hàng đầu đối với việc nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ em
từ lúc tuổi thơ cho tới lúc trưởng thành”
(6)
“Phụ nữ với những chức năng khác
nhau của họ đóng một vai trò chủ yếu đối với hạnh phúc của trẻ em”
(7)
.
)
!ướủ@ệ"?ốề?9ềẻ%-!A 9*4//&,& Bà à ệ8ựừ 9*%à
&%&&4
<
ồ$C6- à ậ"%=D$ị?ốDấả8ầ* =à ộ&&0*)<%)04
0

'
.ếạ à độằựệ-9@ố-ếớ … ủẻ à ữă&4#%Eệ
= Eà ă ệAốếề?9ềẻ=D$ị?ố%&&'*14%*1

vào hoàn cảnh ly hôn và vai trò của công tác xã hội trong lĩnh vực này.
,
FG8 
Trang 5
II. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
II.1. ý nghĩa khoa học:
Chuyên đề này sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn về “gia đình là trường hợp”
trong công tác xã hội. Thông qua đó tìm hiểu những vấn đề xã hội đối với trẻ
em sau thời kỳ ly hôn và việc vận dụng phương pháp, kỹ năng của công tác xã
hội để góp phần trị liệu.
II.2. ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở hiểu rõ sự mất mát một số chức năng xã hội của các em do
thiếu hụt gia đình, chuyên đề vận dụng một số phương pháp trị liệu để khôi
phục và phát triển một chức năng xã hội của các em.
iii. mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
III.1. Mục đích nghiên cứu.
III.1.1. Tìm hiểu thực trạng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn thuộc
các hoàn cảnh khác nhau.
III.1.2. Đưa ra một kế hoạch trị liệu đối với một số em thuộc các gia đình
sau ly hôn.
III.2. Nhiệm vụ của chuyên đề.
a) Tìm hiểu về gia đình, về hôn nhân, về vai trò, chức năng của gia đình.
- Tìm hiểu về quyền trẻ em, về trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
b) Khảo sát và thu thập thông tin, phân tích tình hình ly hôn hiện nay:
- Các hoàn cảnh ly hôn và các loại gia đình ly hôn
- Hậu quả sau ly hôn:
+ Cơ cấu xã hội gia đình thay đổi.
+ Quan hệ gia đình thay đổi.
- Thực trạng đời sống của trẻ em trong các gia đình ly hôn.
- Cơ cấu xã hội trẻ em trong các gia đình sau ly hôn:

lịch sử, cụ thể và phát triển. Quan điểm này được rút ra từ hai nguyên lý phổ
Trang 7
biến của triết học Mác - Lênin, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng. Phương pháp luận này
đòi hỏi khi xem xét thực trạng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn, cần đặt
các em trong các hoàn cảnh cụ thể khác nhau thuộc các gia đình khác nhau,
các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội. Phương pháp luận này cũng đòi
hỏi khi nhìn nhận bối cảnh của các em cần nhìn nhận theo quan điểm phát
triển, không nên nhìn nhận theo “số phận” theo bức tranh “bi quan, tuyệt
vọng” tách rời sự phát triển chung của xã hội và của mỗi cá nhân.
Cùng với việc vận dụng phương pháp luận nói trên, đề tài cũng đã vận
dụng lý thuyết về gia đình và hệ thống (system), cấu trúc chức năng (function
- structuralism) và lý thuyết vai trò để phân tích đề tài chuyên đề.
V.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích một số tài liệu về gia đình,
về quyền trẻ em, về ly hôn và một số tài liệu thuộc về trị liệu gia đình và các
em thuộc các gia đình ly hôn.
Chuyên đề cũng đã sử dụng một số tài liệu thống kê, tài liệu xét xử của
một số toà án, một số báo cáo của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, một số
tài liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.
Chuyên đề cũng sử dụng một số tài liệu trong một số tạp chí “Khoa học
về phụ nữ” từ năm 2000 đến năm 2001.
Chuyên đề này đã khai thác một phần nguồn tư liệu điều tra xã hội học
thực nghiệm về gia đình mà tác giả đã tham gia với Thạc sĩ Lê Xuân Hoàn và
nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Thanh niên, chủ yếu là nghiên cứu
trường hợp tại Hà Nội kết hợp so sánh với Hà Nam và Sơn La.
- Phương pháp khảo sát theo mẫu bằng bảng hỏi:
Phương pháp phỏng vấn dựa trên phỏng vấn cấu trúc. Bảng hỏi được xây
dựng thống nhất đối với các địa danh. Thông tin thu được từ bảng hỏi được
xử lý theo chương trình SPSS for Window 10.05. Mỗi điểm nghiên cứu được

dựng và thực hiện kế hoạch trị liệu trong công tác xã hội.
Trang 9
Mẫu nghiên cứu: Cùng với việc sử dụng kết quả thống kê của cơ quan
nhà nước, một số báo cáo của cơ quan nhà nước, tác giả dùng phương pháp
chọn mẫu phi ngẫu nhiên, dung lượng mẫu, cơ cấu mẫu cụ thể như sau:
Về địa danh:
Nơi ở Tần suất Tỉ lệ %
Hà Nam 29 32,2
Hà Nội 31 34,4
Sơn La 30 33,3
Tổng 90 100
Về khoảng tuổi:
Khoảng tuổi Tần suất Tỉ lệ %
Dưới 6 tuổi 5 5,6
Từ 6-11 tuổi 34 37,8
Từ trên 11-15 tuổi 42 46,7
Trên 15 tuổi 9 10
Tổng 90 100
Trang 10
VI. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
VI.1. Giả thuyết nghiên cứu
VI.1.1. Gia đình ly hôn tất yếu dẫn đến sự thay đổi cơ cấu gia đình, quan
hệ gia đình và tạo nên sự khủng hoảng toàn diện đến đời sống trẻ em, hạn chế
nhiều mặt trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của các em.
VI.1.2. Gia đình ly hôn ngày càng tăng làm cho trẻ em trong các gia đình
ly hôn ngày càng tăng và trở thành vấn đề xã hội.
VI.2. Khung lý thuyết
Khung lý thuyết trên đây là sự tổng hợp các mối tương quan giữa các sự
kiện xã hội, các khái niệm và các biến số. Trong đó, đặc điểm kinh tế - văn
hoá - xã hội là biến số độc lập, nó chi phối các biến số phụ thuộc. Các loại gia

và bạo lực trong gia đình” (1971) đã đưa ra một số chuẩn mực để xác định gia
đình dựa trên các mối quan hệ bên trong gia đình.
A.G. Kharchep trong “Hôn nhân và gia đình” cũng đã coi “gia đình là
một hệ thống cụ thể lịch sử của các quan hệ qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và
con cái”.
Bà E.K. Vaixilieva và bà N.A. Maliarova đã nghiên cứu và đề cập nhiều
đến lối sống gia đình. Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến lối sống gia đình cho
phép hiểu được mối tương quan của sự hoạt động của các thành viên trong gia
đình, lối sống gia đình cũng gắn liền với lối sống cá nhân với tư cách là thành
viên gia đình.
Khi nói về gia đình Mỹ trong sự quá độ, Tamara K. Hareven đã đề cập
nhiều vấn đề. Tamara cho rằng, trong suốt lịch sử nước Mỹ, gia đình được
xem như điểm then chốt của trật tự xã hội và cơ sở để kiểm soát sự ổn định.
Tamara đã đề cập đến tính đa dạng văn hoá và tộc người của gia đình Mỹ. Sự
đa dạng này là sự liên tục của lịch sử và sự hiểu biết những biến đổi lịch sử
tạo nên những quan điểm khác nhau về đời sống gia đình. Tamara cũng cho
rằng gia đình Mỹ trải qua những thay đổi quan trọng, thể hiện sự tan vỡ của
Trang 12
gia đình. Sự tăng tỷ lệ li dị là những triệu chứng phá vỡ gia đình. Đó là do
chưa chú ý đến hôn nhân và đời sống gia đình.
Với góc độ tiếp cận khác, một số nhà xã hội học Trung Quốc như Phan
Doãn Khang và Lâm Nam đã đề cập đến các mối quan hệ gia đình ảnh hưởng
đến xã hội Trung Quốc: Lôi Mộng Đức, Phất Vư cho rằng “Tam giác thực sự
trong kết cấu xã hội là con cái và bố mẹ của họ kếthợp nên từ những tình cảm
chung”. Sự chi phối của bố mẹ đối với hôn nhân của con cái rất chặt chẽ.
Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, bố mẹ không những chỉ sắp đặt hôn
nhân cho con cái mà còn sắp đặt sự ly hôn cho con cái. Ngày nay, Trung
Quốc đã chủ trương hôn nhân lấy tình yêu làm cơ sở, nhưng phần lớn các gia
đình Trung Quốc đều là các gia đình kiểu nghĩa vụ: nghĩa vụ thứ nhất, tình
yêu thứ hai.

Các nhà công tác xã hội sử dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng nhiều
hơn các lý thuyết khác khi nghiên cứu về gia đình và hôn nhân. ở đây chỉ sử
dụng lý thuyết này để phân tích khả năng của gia đình trong việc thực hiện
chức năng giáo dục - xã hội hoá của gia đình. Trong việc phân tích mối quan
hệ các thành viên trong gia đình và quan hệ giữa gia đình với xã hội. Vậy lý
thuyết cấu trúc - chức năng là gì?
Lý thuyết cấu trúc chức năng, Niklas Luhman đã gọi lý thuyết này là một
biến thể của lý thuyết hệ thống xã hội học. Vì vậy nghiên cứu lý thuyết chức
năng không nên tách rời với lý thuyết hệ thống.
T. Parsons đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc và chức
năng, trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định. Sự thay đổi về mặt chức năng
sẽ làm hoàn thiện cấu trúc của nó. Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho
xã hội về mặt chức năng.
Còn theo R. Merton: các chức năng xã hội có tính thống nhất thể hiện ở
cấp độ xã hội và cá nhân.
Trong lý thuyết cấu trúc chức năng, xã hội được nhìn như một hệ thống
hoàn chỉnh của các quan hệ qua lại của các bộ phận, mỗi bộ phận lại liên quan
với bộ phận khác.
Trang 14
Thuyết cấu trúc - chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn luôn
nằm trong cấu trúc nhất định, mặc dù cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng
sử trong một tình huống cụ thể. Ví dụ: trong khi xem xét quan hệ kinh tế và
gia đình, chúng ta thấy phụ nữ không lao động dường như có liên quan đến
hôn nhân không hạnh phúc nhiều hơn so với những phụ nữ có việc làm bởi vì
họ hoàn toàn lệ thuộc vào kinh tế của người chồng.
Lý thuyết cấu trúc chức năng như là một trong những lý thuyết chủ đạo
xem xét các chức năng của gia đình, trong đó có chức năng giáo dục - xã hội
hoá của gia đình. Tất nhiên, các chức năng của gia đình không thể tách rời
nhau mà nằm trong một cấu trúc thống nhất.
Gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách đứa

lên tới 42% (điều tra xã hội học ở Hà Nội).
Mặt khác, giáo dục - xã hội hoá còn được thể hiện cụ thể trong việc giáo
dục đạo đức, giáo dục giới tính, định hướng nghề nghiệp, giáo dục pháp luật,
giáo dục lao động. Đặc biệt, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và giao
lưu văn hoá quốc tế với nhiều phương tiện hiện đại, con cái trong gia đình cần
được giáo dục, hướng dẫn chọn lọc những tinh hoa, phát triển nhân cách đúng
hướng. Điều quan trọng là việc gia đình phối hợp với học đường, với cộng
đồng, với xã hội thực hiện chức năng giáo dục - xã hội hoá có kết quả, để cho
thế hệ trẻ từ trong gia đình đến xã hội nhận thức đúng vàhọc đóng các vai trò
của mình để gia nhập vào xã hội một cách chủ động và sáng tạo.
Gia đình không tách rời khỏi xã hội, nó gắn bó với các quan hệ xã hội
liên quan với các chức năng của chính nó. Lý thuyết cấu trúc chức năng đã
tạo cơ sở cho sự phân tích, sự biến đổi cơ cấu và chức năng gia đình gắn liền
với biến đổi cơ cấu xã hội. Mặt khác lý thuyết này cũng cho phép phân tích
mối quan hệ giữa gia đình và hôn nhân, giữa cha mẹ và con cái, giữa đời sống
kinh tế và đời sống văn hoá, tinh thần. Gia đình, cộng đồng và các thiết chế xã
hội luôn luôn tương tác trong một cơ cấu thích hợp. Lý thuyết này cũng chỉ ra
cha mẹ ly hôn và trẻ em trong các gia đình ly hôn không tách rời nhau mà
Trang 16
nằm trong một cơ cấu phức tạp. Vì vậy khi giải quyết một vấn đề nào liên
quan đến hôn nhân, ly hôn đều phải đặt trong một cơ cấu tương ứng.
I.2.1.2. Lý thuyết gia đình học.
Từ nhiều thế kỷ, có thể hàng nghìn năm, nhiều ngành khoa học đã quan
tâm nghiên cứu gia đình, từ triết học đến văn học, sử học, nhân chủng học,
tâm lý học, luật học, xã hội học, công tác xã hội, gia đình học…
H.T. Christensen (1965) cũng cho rằng, thời kỳ nghiên cứu gia đình có
hệ thống nhất cũng chỉ mới bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19. Ngoài thời kỳ tiền
nghiên cứu về gia đình, ông phân biệt ra 3 giai đoạn phát triển của các công
trình nghiên cứu về gia đình: giai đoạn thứ nhất ở vào khoảng giữa thế kỷ 19,
giai đoạn thứ hai vào nửa đầu thế kỷ 20 và giai đoạn thứ ba kéo dài cho đến

thời đại văn minh. Gia đình này có quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều.
Theo Ăngghen, “trong tất cả các hình thức gia đình mà chúng ta đã biết,
chế độ một vợ, một chồng là chế độ duy nhất trong đó tình yêu nam nữ hiện
đại có phát triển được” (tr.112)
(10)
.
Ăngghen đã khẳng định luận điểm của Moocgan và cho rằng: “Sự phát
triển hơn nữa của gia đình một vợ một chồng là một bước tiến đến gần sự
hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi giữa nam nữ”
(11)
.
Là sản vật của một chế độ xã hội nhất định, hình thức của gia đình sẽ
phản ánh trạng thái phát triển của chế độ xã hội đó. Ăngghen cho rằng: “trong
tương lai xa xôi sau này, gia đình một vợ một chồng sẽ không có thể đáp ứng
được những yêu cầu của xã hội, thì cũng không thể nào dự đoán trước được là
gia đình tiếp theo sau đó sẽ có tính chất như thế nào”
(12)
.
Có thể nói rằng, Ăngghen đã nêu lên một cách toàn diện vấn đề gia đình
gắn liền với sự phát triển xã hội. Trong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp
công nhân ở Anh” (1845), Ăngghen đã viết những bài đầu tiên về xã hội học
gia đình.
Một số các nhà xã hội học tiền bối cũng quan tâm đến vấn đề gia đình và
đưa ra nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau về vấn đề này. Nhà xã hội học
Pháp (August Comte) (1798-1857), nhà triết học thực chứng và là nhà sáng
lập môn xã hội học đã cho rằng quan niệm gia đình là tổ chức xã hội cơ bản
và sự hợp tác trong lao động của các thành viên là rất quan trọng. Ông cho
rằng gia đình mang tính lịch sử và là công cụ xã hội hoá cá nhân, chuẩn bị
cho họ bước vào cuộc sống trong xã hội. Ông phân biệt hai mối quan hệ cơ
4

trung vào các vai trò đã được quy định trong gia đình gắn liền với sự phát
triển nhu cầu của xã hội, nhu cầu xã hội trong quan hệ hôn nhân gia đình,
chức năng xã hội của gia đình, các chuẩn mực và giá trị trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình. Các chuẩn mực này dựa trên quy định pháp lý về ly hôn:
Trang 19
tính chất của thủ tục ly hôn, quyền lợi và nghĩa vụ của các cặp vợ chồng đã ly
hôn đối với việc chăm sóc con cái, sở hữu tài sản sau ly hôn. Chuẩn mực của
hôn nhân gia đình thay đổi đối với thời gian và chu kỳ sống khác nhau của gia
đình.
Lý thuyết về gia đình cũng đòi hỏi việc tiếp cận gia đình như “một nhóm
xã hội” gắn liền với cơ cấu của gia đình như cơ cấu thành viên trong gia đình:
gia đình đầy đủ, gia đình không đầy đủ, gia đình hạt nhân và gia đình mở
rộng, gia đình thuần nhất và gia đình không thuần nhất, quan hệ các thế hệ
trong gia đình: quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ ông bà -
cha mẹ - con cái, quan hệ anh chị em, quan hệ họ hàng thân tộc.
Với các cách tiếp cận khác nhau của các ngành khoa học, gia đình đã
được giải thích và định nghĩa khác nhau. Theo H.T. Christensen, có 4 cách
tiếp cận khi nghiên cứu gia đình như:
- Những nghiên cứu về tổ chức gia đình
- Những nghiên cứu về cấu trúc chức năng
- Những nghiên cứu về tác động qua lại trong gia đình
- Những nghiên cứu về sự phát triển gia đình.
Sự chuyển biến của gia đình, dù dưới hình thức nào đi nữa, đều là kết
quả của sự tương tác giữa các thành viên bên trong gia đình và tương tác giữa
gia đình và cơ cấu xã hội. Chính vì vậy, sự tác động của môi trường, của kinh
tế - chính trị - văn hoá, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh
tế đã dẫn đến biến đổi cấu trúc, chức năng của gia đình.
Gia đình là sản phẩm của lịch sử xã hội, phản ánh nền kinh tế - văn hoá -
chính trị, phong tục tập quán, thói quen, tâm lý, tình cảm, lối sống của một xã
hội, của một dân tộc và một thời đại lịch sử nhất định.

nam nữ thì lại tuỳ từng người mà lâu dài rất khác nhau, nhất là đối với đàn
ông, và nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu say đắm mới
át đi thì ly hôn sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng như cho xã hội. Chỉ cần
tránh cho người ta khỏi sa chân vô ích vào những vũng bùn kiện tụng để ly
hôn mà thôi”
(14)
.
1
-ừđể+Hộọ%>ảịếĐứ(ếEệ%=+>-ếớ*44*
)

<0
Ă=ồốủđủếđộưữ  à à ướ#
Trang 21
Ăngghen nói tiếp: “… Điều này sẽ được giải quyết khi một thế hệ mới sẽ
lớn lên: một thế hệ đàn ông không bao giờ phải dùng tiền hoặc dùng những
phương tiện quyền lực xã hội khác để mua sự hiến thân của người đàn bà, và
một thế hệ đàn bà không bao giờ phải hiến mình cho đàn ông vì một lý do nào
khác ngoài tình yêu chân chính, hoặc phải từ chối không dám hiến mình cho
người yêu vì sợ những hậu quả kinh tế của sự hiến thân đó”
(15)
.
Ăngghen cũng vạch rõ ràng, trong điều kiện chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, hôn nhân bao giờ cũng là hôn nhân có tính toán đối với người chủ sở
hữu.
I.2.1.3. Một số quan điểm và lý thuyết về trẻ em.
Erik Erikson (1902-1994), khi trẻ thuộc gia đình cha mẹ ly hôn, không
còn tiếp xúc với cha mình nữa, lang thang nhập cư vào Mỹ và rơi vào cuộc
“khủng hoảng bản sắc”, sau này trở thành nhà phân tâm học nổi tiếng. Ông đã
phê phán lý thuyết của S. Freud vì Freud đã không đánh giá sự tác động của

phát triển nhân cách của trẻ gắn liền với sự chuyển hoá trong các mối quan hệ
xã hội trong suốt cuộc đời. Trong đó, mối quan hệ quan trọng nhất là mẹ - con
(giai đoạn từ 0 đến 1,5 tuổi), mỗi quan hệ cha mẹ - con cái (giai đoạn từ 1,5
tuổi đến 3 tuổi), mối quan hệ cha mẹ, gia đình và con cái (giai đoạn từ 3 đến 6
tuổi). Khi bắt đầu đến trường và trưởng thành sau này thì mối quan hệ nhà
trường, láng giềng, cộng đồng là rất quan trọng (từ 6 tuổi đến tuổi dậy thì) và
từ đó đến gần 20 tuổi, con người của lứa tuổi này hình thành các nhóm bạn
bè, nhiều cá tính và lúng túng về vai trò xã hội, muốn khẳng định mình là ai?
sẽ thành người như thế nào? để duy trì được lòng tự trọng.
Theo TS. Banaag Cornelio (thuộc Tổ chức Quốc tế về Dịch vụ gia đình
và Cộng đồng), cho rằng: trong phần lớn các xã hội, gia đình là môi trường
đầu tiên của trẻ em từ khi sinh ra. Không có tổ chức nào đóng được vai trò
quan trọng thay thế gia đình như một cơ sở cơ bản của con người. Gia đình là
cơ sở lâu dài có khả năng nhất để đáp ứng các nhu cầu về tâm sinh lý của trẻ
em
(18)
. từ gia đình, trẻ em được học các mối quan hệ, yêu thương, chơi và làm
việc và cách làm người như thế nào. Cấu trúc gia đình có thể là khác nhau
'
= à ẻ%- 8à ệ ảề!ớẻ8 ""8à ậIỷ>EJG-KE=
L3>&&0*4***
,
=ư@,%&
Trang 23
trong các nền văn hoá khác nhau, nhưng về cơ bản, quan hệ trong gia đình
vẫn là quan hệ cha mẹ và con cái.
Khi gia đình bị khủng hoảng, cha mẹ và các thành viên trong gia đình
không thực hiện các vai trò của họ, các em có hành vi trái ngược với các quy
định và các giá trị xã hội mà các em đang sống trong đó. Các em phát triển
theo nhiều mức độ khác nhau về tinh thần, về cảm xúc, rơi vào tình trạng rối

định trẻ em là những người dưới 15 tuổi. Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1990 quy định trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật
pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của nước ta quy định “trẻ em là công dân Việt
Nam dưới 16 tuổi”.
Như vậy, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế, mặc
dù với phương pháp tiếp cận khác nhau đã đưa ra quan niệm khác nhau về trẻ
em nhưng cũng đã dựa trên một số tiêu chí chung để làm căn cứ xác định trẻ
em là ai, đó chính là tuổi đời của các em (theo Erikson: từ 0 đến tuổi dậy thì).
Từ 13 đến 17 tuổi là giai đoạn cuối của tuổi mới lớn, là tuổi Erikson chú trọng
nhiều nhất. Mỗi giai đoạn khác nhau của trẻ em đều có sự thay đổi về nhân
cách, nhưng tất cả các giai đoạn đều rất cần đến bố mẹ để chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục. Trong đề tài này, tác giả quan tâm tất cả các trẻ em thuộc
các loại trẻ khác nhau.
Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn: đó là những trẻ em từ lúc sinh ra
cho đến khi lớn lên đều ở với bố mẹ trong gia đình mở rộng hoặc gia đình hạt
nhân, được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục toàn diện về nhân cách, nay do bố
mẹ được toà án công nhận cho ly hôn, không được sống chung với bố và mẹ
nữa. Đây cũng là thân chủ được tác giả chuyên đề chấp nhận. Những trẻ em
này ở trong các hoàn cảnh sau đây:
- Tiếp tục ở với mẹ nhưng không còn bố sống bên cạnh như cũ.
- Tiếp tục ở với bố nhưng không còn mẹ sống bên cạnh như cũ.
- ở với bố dượng hoặc mẹ kế.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status