PHAN THỊ NGỌC HÂN
HÒA NHẬP XÃ HỘI CỦA TRẺ EM TRONG CÁC
GIA ĐÌNH NGHÈO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUẬN 7,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành : Xã hội học Mã số
: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM VĂN QUYẾT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, HỘP
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh từng là một “Sài Gòn” đô hội rất hoa lệ, được chính
quyền Đông Dương mệnh danh là “hòn ngọc viễn đông”. Nơi đây đã hội tụ rất nhiều
dòng chảy văn hóa trong lịch sử hình thành và phát triển; từng đón nhận những ảnh
hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước, được đánh dấu
bằng những di tích lịch sử đặc trưng như: Bưu điện, Bến Nhà Rồng, dinh Thống Nhất,
chợ Bến Thành...
Thành phố mang tên Bác có nhiều ưu điểm ở chỗ các tổ chức tôn giáo, tín
ngưỡng cùng chung sống hòa bình, êm đẹp, họ đã cùng tương trợ và giúp đỡ nhau để
vực chiếm tỷ lệ không cao nhưng nó minh chứng cho việc một số ít trẻ chưa được tạo
điều kiện tối thiểu về nơi ở, việc học hành, chăm sóc sức khỏe cơ bản, vấn đề về lao động
trước tuổi, biết và thực hiện quyền của trẻ. Trẻ nghèo đô thị bị thiếu hụt về vấn đề chăm
sóc sức khỏe, giáo dục, dinh dưỡng, trang phục, hạn chế những hiểu biết và thực hiện các
quyền của bản thânvà phải lao động trước tuổi.
Có nhiều lý do để trẻ thiếu hụt đa chiều mà trong đó các công cụ đo lường đơn
chiều không thể đo hết được các chiều thiếu hụt khác. Nếu không có các tiêu chí đo
lường phù hợp với thực tế nhu cầu của trẻ sẽ dẫn đến những thiệt thòi cho trẻ em nghèo
đô thị và làm cản trở sự phát triển toàn diện của một lực lượng lớn vốn xã hội trong
tương lai. Những cản trở trên có những nhân tố tác động từ phía gia đình, chính quyền và
cộng đồng, từ những chính sách dành cho trẻ.
Đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo về vấn đề hòa nhập cho người nhập cư, người
lao động hay chotrẻ em nhưng đa phần là những nghiên cứu tập trung vào trẻ có hoàn
cảnh khuyết tật, trẻ trong trường giáo dưỡng hay trẻ bị nhiễm HIV/AIDS chứ chưa có
nghiên cứu riêng cho trẻ em nghèo sống trong các đô thị. Vì vậy tôi chọn đề tài “Hòa
nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh”(Nghiên
cứu trường hợp quận 7, thành phố Hồ Chí Minh) nhằm tìm hiểu về sự hòa nhập của trẻ
em nghèo trong thành phố, làm rõ hơn cơ sở lý thuyết cho việc tiếp cận và lý giải vấn đề
về hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
4
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu về hòa nhập xã hội của người nghèo đô thị
Đô thị hóa giúp cho kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng, là động lực thúc đẩy
đất nước phát triển thoát khỏi nhóm quốc gia kém phát triển. Sự tăng trưởng về kinh tế
còn là cơ sở, nền tảng của đô thị hóa và là điều kiện tiên quyết để thực hiện công tác
giảm nghèo của nước ta. Tuy nhiên, mặt trái của đô thị hóa với những hệ lụy cần nhiều
người lao động nhập cư nghèo tại các đô thị Việt Nam” nhấn mạnh người nghèo là một
trong những nhóm yếu thế cần phải có những biện pháp bảo vệ, hỗ trợ và tạo điều kiện
thuận lợi để tham gia một cách tích cực vào đời sống xã hội trong sự bình đẳng với các
thành viên khác của xã hội[19, tr. 75], Đồng tác giả trên cũng có công trình nghiên cứu
“Hòa nhập xã hội: Một số quan điểm và việc triển khai nghiên cứu, đo lường” nhằm tìm
ra những mức độ hội nhập xã hội của người nghèo để tạo điều kiện cho họ tham gia, có
chỗ đứng trong những lĩnh vực của đời sống như những thành viên của xã hội [16, tr.
75]. Và bộ đôi tác giả này cũng đã nghiên cứu về vấn đề “Hòa nhập xã hội của người di
cư tại các đô thị ở Việt Nam: Hướng đến một mô hình trợ giúp xã hội” nhằm đề xuất
những giải pháp xóa bỏ kỳ thị, thúc đẩy quá trình hội nhập của người nghèo nhập cư, tìm
ra những mô hình trợ giúp từ chính quyền đến các tổ chức xã hội, chính trị - xã hội để họ
chủ động hòa hòa mình vào những lĩnh vực sống tại đây[19, tr. 75].
Thành phố Hồ Chí Minhlà địa phương đầu tiên trong cả nước khởi xướng công
cuộc xóa đói giảm nghèo suốt 24 năm qua, trải qua 4 giai đoạn(1999-2003, 2004-2008,
2009-2013, 2014 -2015). Thành phố luôn hoàn thành mục tiêu giảm nghèo trước từ 1 đến
2 năm với 7 lần điều chỉnh chuẩn nghèo và cận nghèo. Hiện nay nhiều hộ không nghèo
về thu nhập nhưng vẫn còn gặp khó khăn, thiếu hụt ở các chiều cạnh khác và không nằm
trong danh sách nghèo nên không được các chính sách hỗ trợ. Như đã nói trên, các
phương pháp đo lường nghèo đơn chiều không còn đáp ứng nhu cầu thực tế tình hình nên
khái niệm nghèo đa chiềubắt đầu xuất hiện từ những năm 2013. Ấn phẩm “Tiếp cận của
người nghèo đến các dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế
và giáo dục tại Việt Nam” của Action Aid cho thấy những hạn chế của người nghèo khi
có chủ trương xã hội hóa 2 trong số các chiều có trong thang đo nghèo đa chiều[1, tr.
74]cùng với những chính sách về điều kiện nhà ở, việc làm, hỗ trợ tín dụng đã được gì,
còn hạn chế gì cần phải khắc phục qua báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và
6
thách thức” của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam [28, tr. 76]. Chuẩn bị triển khai cho
giai đoạn giảm nghèo của thành phố lần thứ 5, Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo bền
biện pháp giảm nghèo căn cơ nhất, cần thiết đầu tư cho công tác giảm nghèo và nhất thiết
phải bắt đầu từ những trẻ em trong các gia đình nghèo đa chiều để đảm bảo được tính
giảm nghèo bền vững.
2.2. Các nghiên cứu về hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo đô thị
Trẻ em là một nguồn vốn, nguồn tài nguyên nhằm để đảm bảo một lực lượng kế
thừa duy trì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh ví trẻ em như
cái mầm, cái“mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì cái lá mới tươi, quả
mới tốt. Con trẻ được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi, thì dân tộc mới có thể tự cường tự
lập”. Nói như vậy có nghĩa là tất cả trẻ em cần phải được chăm lo, giáo dục, tạo các điều
kiện tối đa để đảm bảo rằng trẻ được thực hiện quyền của mình. Tuy nhiên, trên thực tế
vẫn còn một số ít trẻ vẫn chịu thiệt thòi và đòi hỏi phải có những giải pháp cấp thiết để
hỗ trợ, tạo điều kiện cho trẻ tham gia, phát triển toàn diện các mặt để đảm bảo lực lượng
vốn xã hội cần thiết cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu?”được phát hành bởi sự kết hợp
giữa Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với UNICEP Việt Nam nêu ra các lý do để tất
cả các quốc gia hay các tổ chức tập trung nghiên cứu và tìm giải pháp để bảo vệ, chăm
sóc, tạo điều kiện tối đa cho trẻ nghèo, đặc biệt là trẻ nghèo tại các đô thị được thực hiện
các quyền cơ bản của mình. Vì đối tượng này thường phải chịu những nguy cơ cao hơn
và bị ảnh hưởng do nghèo khác biệt hơn so với người trưởng thành, các em phải phụ
thuộc phần lớn vào môi trường sống trực tiếp của mình trong việc đáp ứng những nhu
cầu cơ bản và dựa vào sự phân bổ nguồn lực của cha mẹ, gia đình và cộng ðồng. Chính
vì thế nên trẻ có nhiều khả năng tiếp tục phải chịu cảnh nghèo khi trưởng thành bởi
nghèo được vận hành như một vòng tròn lẩn quẩn mà trẻ rơi vào từ khi mới ra đời và
không thoát ra được. Do đó, giảm nghèo trẻ em tuy là một mục tiêu ngắn hạn nhưng lại
giúp giảm tỷ lệ nghèo ở người trưởng thành trong dài hạn [10, tr. 74],
Ở Việt Nam, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu mà thế
giới công nhận. Nhưng vẫn còn một bộ phận trẻ em vẫn phải sống trong nghèo đói,
không được đảm bảo các quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập, thiếu sự bảo vệ
để sống an toàn, lành mạnh. Một bộ phận trẻ này chịu rất nhiều thiệt thòi, có nguy cơ bị
8
9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm nghiên cứu về mức độ hòa nhập của trẻ em trong các hộ gia đình
nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đánh giá chung về đời sống vật chất và tinh
thần của trẻ em nghèo cũng như xây dựng giải pháp giải quyết những bất cập trong quá
trình thực hiện giảm nghèo đa chiều với đối tượng trẻ em.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hình thành cơ sở lý thuyết cho việc tiếp cận và lý giải vấn đề về hòa nhập xã hội
của trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Làm rõ thực trạng hòa nhậpxã hội của trẻ em trong các hộ gia đình nghèo.
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của trẻ.
Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình
nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí
Minh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Là những trẻ em sống trong những hộ gia đình nghèo và cận nghèo giai đoạn
2014 - 2015. Lý do chọn những trẻ em nghèo trong giai đoạn này vì bắt đầu từ tháng
3/2016 thành phố triển khai đo lường nghèo theo tiêu chí đa chiều, nên luận văn chưa có
số liệu chính thống làm căn cứ thực hiện.
Trẻ em được xác định trong Điều 1, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 2004: Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi;
Là hộ gia đình nghèo và cận nghèo theo quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg về việc
ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011- 2015.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Phương pháp nhằm thu thập
thông tin định lượng giúp kiểm định các giả thuyết. Bảng hỏi là công cụ thu thập thông
tin chủ yếu trong cuộc điều tra này.
11
Triển khai nghiên cứu 200 trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo tại 4 phường trên
địa bàn quận nhằm thu thập thông tin theo yêu cầu và mục đích của cuộc nghiên cứu.
Khi tiến hành khảo sát, điều tra viên đã nhờ Bí thư Đoàn và Chuyên trách giảm
nghèo tăng hộ khá của 4 phường hỗ trợ dẫn đến nhà từng em để thực hiện bảng hỏi.
Trong quá trình hỏi, có những thông tin cần đến sự hỗ trợ từ phía phụ huynh, bạn cùng
xóm của trẻ và từ phía chính quyền để khai thác hết thông tin trong bảng hỏi đề ra.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành phỏng
vấn sâu 7 trường hợp. Trong đó phỏng vấn 4 học sinh, 2 phụ huynh đại diện cho 4
phường. Ngoài ra còn phỏng vấn 1 Chuyên trách giảm nghèo tăng hộ khá nhằm tìm hiểu
sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định lượng không phù hợp hoặc bổ sung
cho cách tiếp cận này.
5.3.2. Chọn mẫu và quy mô
Khung mẫu là danh sách các hộ gia đình trong Chương trình giảm nghèo, tăng
hộ khá giai đoạn (2014-2015).
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên: trong 10 phường bốc thăm chọn
ngẫu nhiên 4 phường có trẻ em nghèo ở độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi mang tính đại diện gồm
phường: Tân Kiểng, Tân Thuận Đông, Tân Hưng, Tân Quy.
Phương pháp chọn mẫu như trên cho phép thỏa mãn được tính đại diện cho các
hộ gia đình trên toàn địa bàn, từ đó cho thấy được mức độ hòa nhập xã hội của trẻ em
nghèo trên địa bàn thành phố. Tổng số trẻ nghèo được khảo sát định lượng là 200 em
(đối tượng trả lời bảng hỏi là 97 nam và 103 nữ trong độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi). Ngoài ra,
để có thông tin sâu về vấn đề nghiên cứu và đảm bảo được tính khách quan với nhiều góc
thiếu hụt của trẻ nghèo. Mô tả mức độ được tạo điều kiện hòa nhập xã hội của trẻ
trước những nhân tố gia đình, chính quyền và cộng động xã hội, từ các chính sách
dành cho trẻ.
Qua những thông tin thu thập được, hy vọng đề tài luận văn là tài liệu tham
khảo có ích cho các nhà hoạch định chính sách và những người quan tâm đến lĩnh
vực này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Các chiều do lường hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo qua nghiên
cứu
Chương 3: Yếu tố tác động đến sự hòa nhập xã hội của trẻ nghèo
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Hòa nhập xã hội
“Hòa nhập xã hội bao gồm một quá trình bảo đảm rằng những người có
nguy cơ đói nghèo và những người tách biệt biệt xã hội được những cơ hội và
nguồn lực cần thiết để tham gia đầy đủ các hoạt động kinh tế, xã hội, đời sống văn
hóa và tận hưởng một tiêu chuẩn sống hạnh phúc được coi là bình thường trong xã
hội họ đang sống”[3, tr.74].
Xã hội là một trong những nơi mà mọi người cảm thấy giá trị, sự khác biệt
của họ được tôn trọng và nhu cầu cơ bản của họ được đáp ứng để học có thể sống.
gồm: phân tầng xã hội, liên kết xã hội, bất bình đẳng, tách biệt xã hội. Cụ thể:
+ Tách biệt xã hội là một quá trình mà trong đó một số cá nhân được đẩy
qua bên lề của xã hội và bị ngăn cản tham gia do nghèo đói của họ hoặc thiếu cơ
bản những năng lực và cơ hội học tập suốt đời hoặc như là một kết quả của sự phân
với thực tế.
1.1.3. Nghèo
“Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động
xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được
khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi
sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an
toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện
rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” (Tổ chức Liên hợp
quốc UNDP). Trong vấn đề nghèo hiện nay được chia thành 2 dạng gồm:
- Nghèo tiền tệ
Được hiểu dựa trên nguyên tắc mỗi cá nhân với sức mua nhất định có thể
thỏa mãn nhu cầu cơ bản của họ. Thuộc tính thõa mãn nhu cầu cơ bản có thể mua
được bên ngoài thị trường và thể hiện bằng tiền. Phương pháp đo lường này được
sử dụng rộng rãi nhất trong việc phân tích nghèo trên thế giới nhưng nó có hạn chế
trong việc đo lường nghèo đối với trẻ em[10, tr. 74].
- Nghèo đa chiều
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi
thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh
tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo
đa chiều.Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các
cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh
tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản[2, tr. 74].
Nội dung nghiên cứu trong luận văn này xin được giới hạn về vấn đề hòa
nhập xã hội của trẻ ở phương pháp đo lường nghèo đa chiều vìtrong cùng một thời
điểm, trẻ nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó
khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, vui chơi giải trí, quyền tham gia.
Chính những bất lợi trên làm cho quyền cơ bản của trẻ bị khước từ,trẻ bị đẩy sang lề
xã hội mà phương pháp nghèo tiền tệ không đo lường hết được. Nhữngbiến cố xảy
cũng như phát huy được cái chung của xã hội.
Theo quan điểm của các nhà chức năng luận tiêu biểu là Durkheim xã hội
có một ý thức tập thể được coi như cơ sở của đạo đức xã hội, nó giúp liên kết các cá
nhân lại với nhau tạo ra hội nhập xã hội.
Theo quan điểm hiện nay thì “hòa nhập xã hội là nói về sự đảm bảo chắc
chắn rằng tất cả trẻ em, người lớn đều chú ý, tôn trọng, có chỗ đứng giống nhau,
đồng thời đều có khả năng tham gia vào đời sống xã hội ở cả mức độ quốc gia và
cộng đồng”. Những chiều cạnh chính trong nội dung hòa nhập xã hội đối với người
nghèo nên hướng đến cách tiếp cận đa chiều và sự hòa nhập cần được xem xét bao
trùm hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội [19, tr. 75],
1.2.2. Lý thuyết về xã hội hóa cá nhân
Theo quan niệm của Xã hội học thì xã hội hóa cá nhân là quá trình hình
thành ý thức trong cách ứng xử của con người. Là một quá trình mà con người tiếp
nhận nền văn hóa của xã hội, có thể học được cách suy nghĩ và ứng xử phù hợp với
những đặc trưng của xã hội. Cá nhân thu thập kinh nghiệm của xã hội và học các
chuẩn mực, khuôn mẫu một cách tự nhiên mà không thể chống lại được.
Theo quan niệm của các nhà Xã hội học mà tiêu biểu là G. Andreeva - nhà
xã hội học người Nga thì “Xã hội hóa là một quá trình 2 mặt: một mặt cá nhân tiếp
nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào xã hội, vào hệ thống xã hội; mặt
khác cá nhân tái sản xuất một cách chủ động bằng việc họ tham gia các hoạt động xã
hội, thâm nhập vào các quan hệxã hội.
Xã hội hóa cá nhân thông thường trải qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu tiên là môi trường gia đình
Đây là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất đầu tiên của cá nhân bởi
vì hầu hết các cá nhân đều được sinh ra và lớn lên trong gia đình. Trong môi trường
này cá nhân sẽ tiếp nhận thông tin một cách có chủ đích và không có chủ đích từ cha
mẹ, người lớn trong gia đình về những giá trị, niềm tin, chuẩn mực, thái độ và cả
những tri thức đối với thế giới xung quanh. Quá trình này được thực hiện qua giao
có sự đan xen lẫn nhau. Vì trong thực tế có những cá nhân không trải qua giai đoạn
xã hội hóa cá nhân thứ hai mà bước thẳng vào môi trường xã hội hoặc vì một lý do
nào đó mà cá nhân phải trải qua môi trường xã hội và quay lại giai đoạn xã hội hóa
cá nhân khi còn trong nhà trường, gia đình. Do vậy, xã hội hóa cá nhân chỉ chấm dứt
khi cuộc sống của mỗi cá nhân chấm dứt.
1.2.3.
Lý thuyết về thang bậc nhu cầu củaAbraham Maslow
Theo nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất
đến nhu Abraham Maslow cầu cao nhất.Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn
thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.
Trong thang đo của Abraham Maslow có các cấp bậc từ thấp đến cao, thấp
nhất là thang bậc cơ bản và phổ biến nhất đối với nhu cầu của con người.Theo
thuyết A. Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc
khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn
tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã
hội. Nếu không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản này thì con người sẽ khó nảy sinh
ra những nhu cầu khác. Đó là:
Nhu cầu sinh lý (Vật Chất): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản
thân cuộc sống con người (Thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở...). A.Maslow quan
niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy
trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người.
Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và
sự đe dọa mất việc, mất tài sản.
Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của
xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. Con người luôn có nhu cầu
yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để
quận 4 và quận 2 với ranh giới hành chính là kênh Tẻ và sông Sài Gòn. Phía Nam
giáp huyện Nhà Bè với ranh giới là rạch Đĩa và sông Phú Xuân. Phía Đông giáp với
quận 2 và tỉnh Đồng Nai với ranh giới là sông Sài Gòn và sông Nhà Bè. Phía Tây
giáp với quận 8 và huyện Bình Chánh với ranh giới là rạch Ông Lớn.
Chiếm giữ vị trí cửa ngõ của khu vực phía Nam thành phố, quận 7 có nhiều
điều kiện thu hút đầu tư cả trong, ngoài nước và khu chế xuất Tân Thuận, khu đô thị
mới Phú Mỹ Hưng là một trong những minh chứng cho sự phát triển vượt trội của
mình đối với thành phố Hồ Chí Minh. Đi đôi với sự phát triển về kinh tế là sự gia
tăng dân số đáng kể từ 90.920 nhân khẩu từ khi mới thành lập quận, đến nay đã tăng
lên thành 300.000 nhân khẩu, phân bổ không đều trên địa bàn quận và đa phần làdân
cư tạm trú.
Trên cơ sở hạ tầng được đầu tư, duy tu đáp ứng cho các hoạt động phát
triển kinh tế thì các hoạt động phát triển văn hóa xã hội cũng được chú trọng. Trong
đó, giáo dục có hệ thống trường lớp công lập và ngoài công lập từ bậc mầm non đến
Đại học, đã đạt chuẩn phổ cập trung học phổ thông; hệ công lập có 16 trường mầm
non, 16 trường tiểu học, 7 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học phổ thông;
hệ tư thục có 46 trường mầm non, mẫu giáo và 5 trường phổ thông; các trường Đại
học trên địa bàn quận có: Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Sài Gòn, Đại học Cảnh
sát, Đại học RMIT.v.v...đã, đang được xây dựng và đưa vào sử dụng. Hệ thống y tế
của quận có 443 cơ sở Y dược tư nhân, có 1 Bệnh viện quận, 3 bệnh viện: Tim Tâm
Đức, Pháp Việt (FV), đa khoa Tân Hưng cùng các phòng khám đa khoa thực hiện
khám chữa bệnh với các trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, đội ngũ y bác sĩ có uy tín
tầm quốc gia và quốc tế để cung cấp đầy đủ các dịch vụ y tế đáp ứng nhu cầu khám
chữa bệnh của người dân [5, tr 74].
Qua tổng kết chương trình giảm nghèo giai đoạn 2014 - 2015 thì quận 7
còn 1.634 hộ nghèo với 7.389 nhân khẩu có mức thu nhập bình quân đầu người từ
16 triệu đồng một người trong năm trở xuống chiếm tỷ lệ 2,21% trên tổng số hộ dân
theo từng mức thu nhập cụ thể, hộ cận nghèo còn 1.385hộ chiếm tỷ lệ 1,88% trên
ngày càng tốt hơn.
Chương 2
CÁC CHIỀU ĐO LƯỜNGHÒA NHẬP XÃ HỘI CỦA TRẺ EM NGHÈO
QUA NGHIÊN CỨU
Luận văn đã được tiến hành tại phường Tân Quy, Tân Hưng, Tân
Kiểng, Tân Thuận Đông là các phường có đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội phát
triển. Trong đó phường Tân Thuận Đông là phường có diện tích lớn hơn so với
phường Tân Kiểng và phường Tân Quy, phường Tân Hưng, có đông công nhân
tập trung đang làm việc tại khu chế xuất Tân Thuận; phường Tân Hưng là nơi có
hệ thống kênh rạch chằng chịt, nơi tập trung của trẻ nghèo tại khu nhà tạm lụp
xụp.
Để thực hiện được số lượng bảng hỏi đã nêu trên, điều tra viên gặp
nhiều khó khăn do tâm lý các hộ nghèo rất kỳ vọng được hỗ trợ vật chất nên có
trường hợp chưa trung thực khi trả lời, có trường hợp gia đình tỏ rõ thái độ thiếu
thiện cảm và trẻ em lại rất tinh nghịch với điều tra viên. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ
và nhiệt tình của các cán bộ đoàn, Chuyên trách giảm nghèo tăng hộ khá phường
nên các số liệu cần thu thập đã hoàn thành. Trên cơ sở thu thập thông tin, luận
văn đã đo được các chiều thiếu hụt cơ bản của trẻ nghèo phù hợp với yêu cầu đề
tài luận văn hòa nhập xã hội là nhóm quyền phát triển và quyền tham gia cùng
với 2 nhóm quyền còn lại là quyền bảo vệ và quyền sống còn.
2.1. Nhóm quyền phát triển
2.1.1. Chiều cạnh được chăm sóc sức khỏe
Để chăm lo cho các hộ nghèo, lãnh đạo thành phố đã bàn bạc và ban hành
Quyết định số 36/2012/QĐ-UBND ngày 17/9/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố
về ban hành một số chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo thành phố giai đoạn
2012-2015. Trên cơ sở Quyết định ban hành đi kèm là văn bản Hướng dẫn liên Sở
số 04/HDLT-BCĐ.GNTHK-STC-BHXH ngày 17/9/2012 của Liên Sở Lao độngThương binh và Xã hội (Thường trực Ban chỉ đạo Giảm nghèo, tăng hộ khá Thành
Phố) - Sở Y tế - Sở Tài Chính - Bảo hiểm Xã hội TP.HCM về việc hướng dẫn thực